Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
SVTH: Phạm Thị Giang Thanh Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây ,hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam đã đạt
được nhiều bước phát triển mới. Bên cạnh sự phát triển của đội ngũ kiểm toán viên
chuyên nghiệp thì hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cũng đang được ban
hành theo hướng hội nhập với các thông lệ quốc tế.Kiểm toán là công cụ kinh tế
ngày càng khẳng định vị trí và tầm quan trọng trong hệ thống các công cụ quản lý
của nền kinh tế quốc dân ở nước ta.
Cùng với xu thế phát triển đó, hoạt động kiểm toán độc lập của các công
ty,văn phòng, chi nhánh kiểm toán độc lập càng có điều kiện để phát triển và phát
huy vai trò của mình đối với nền kinh tế.Tuy nhiên đây cũng là hoạt động khá mới
mẻ tại khu vực miền trung , các đơn vị cần và có nhu cầu được kiểm toán trong
những năm gần đây mặc dù đã tăng nhiều nhưng so với yêu cầu phát triển của nền
kinh tế thì còn khá khiêm tốn.Điều này đặt ra yêu cầu: phải có hiểu biết về hoạt
động kiểm toán, kiểm tra xác minh số liệu ,phương án hoạt động để đảm bảo rằng
người quản lý giám sát hiệu quả công việc kinh doanh của mình.Thúc đẩy việc lành
mạnh hoá tài chính,tạo môi trường kinh doanh thuận lợi.
Thực tế trong khu vực Miền Trung ,tuy số lượng công ty kiểm toán độc lập
còn ít nhưng với vai trò, vị trí và tầm quan trọng của mình các đơn vị này đã tham
gia kiểm toán Báo Cáo Tài Chính,tư vấn kế toán cho các doanh nghiệp thuộc tất cả
các thành phần kinh tế hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau trên địa bàn khu vực.
Khi tham gia kiểm toán Báo Cáo Tài Chính cho các đơn vị khách hàng,kiểm
toán viên công ty kiểm toán độc lập thường phân chia thành các chu trình, các
khoản mục khác nhau dựa vào đặc điểm của nó để tiến hành các thủ tục kiểm tra
phù hợp, tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao được hiệu quả,hiệu lực của cuộc
kiểm toán.Đối với các doanh nghiệp thương mại, các chu trình được kiểm toán viên
quan tâm và dành nhiều thời gian nhất là chu trình: Chu trình bán hàng và thu tiền,
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
SVTH: Phạm Thị Giang Thanh Trang 3
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH NGIỆP VỤ
MUA HÀNG VÀ THANH TOÁN VỚI NGƯỜI BÁN TRONG
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
I.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH:
1. Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính:
Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán bởi nó chứa
đựng đầy đủ “sắc thái kiểm toán” ngay từ khi ra đời cũng như trong quá trình phát
triển.Ra đời từ rất sớm,kiểm toán Báo Cáo Tài Chính ban đầu với mục đích phát
hiện mọi sai phạm,nhưng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới như sự
Về chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến : Kiểm toán Báo Cáo Tài
Chính thường hướng tới công khai tài chính giữa các bên có lợi ích khác nhau và từ
đó thu thập bằng chứng đầy đủ, có hiệu lực được chú ý đúng mức và được thực hiện
trong suốt quá trình tiến hành công việc kiểm toán.
Đối tượng kiểm toán : Kiểm toán Báo Cáo Tài Chính có đối tượng
trực tiếp là các bảng khai tài chính với những thông tin tổng hợp phản ánh từ nhiều
mối quan hệ kinh tế pháp lý cụ thể giữa khách thể kiểm toán với các đối tượng có
liên quan.
Phương pháp sử dụng trong kiểm toán Báo Cáo Tài Chính : kiểm toán
Báo Cáo Tài Chính thường vận dụng tổng hợp các phương pháp kiểm toán cơ bản
để hình thành nên phương pháp kiểm toán cụ thể( thử nghiệm kiểm toán) nhằm tìm
hiểu, đánh giá tình hình hoạt động và hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ.Kiểm
toán viên thường vận dụng những phương pháp cơ bản một cách linh hoạt sáng tạo
trong việc tìm kiếm bằng chứng kiểm toán.
Quan hệ chủ thể và khách thể kiểm toán : Kiểm toán Báo Cáo Tài
Chính chủ yếu được thực hiện bởi kiểm toán viên độc lập và có thể là kiểm toán
Nhà Nước,tuy nhiên trong các đơn vị có quy mô lớn có tổ chức bộ phận kiểm toán
nội bộ, bộ phận này sẽ đảm nhiệm công việc kiểm toán Báo Cáo Tài Chính để phục
vụ cho mục đích của đơn vị mình.Mối quan hệ giữa kiểm toán độc lập, kiểm toán
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
SVTH: Phạm Thị Giang Thanh Trang 5
nhà nước với đơn vị được kiểm toán mang đặc tính là quan hệ ngoại kiểm.Điều đó
cho thấy rằng việc xem xét và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ luôn là một trong
những khâu cơ bản trong quá trình kiểm toán.
Trình tự kiểm toán : các Báo Cáo Tài Chính mang tính tổng hợp, công
khai, tính thời điểm, và do quan hệ nội- ngoại kiểm nên trình tự cụ thể trong mỗi
bước kiểm toán cơ bản đều được triển khai phù hợp với những đặc điểm của đối
tượng, kết hợp với chi tiết hoá các phương pháp kiểm toán.
3. Cơ sở dẫn liệu và mục tiêu kiểm toán trong kiểm toán Báo Cáo Tài
Trình bày và công bố: Các khoản mục được phân loại, diễn đạt và
công bố phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp
nhận).
Để thực hiện kiểm toán cho đơn vị khách hàng trách nhiệm của các kiểm
toán viên là phải xác minh lại xem những vấn đề xác nhận của người quản lý đơn vị
được trình bày ở trên là có cơ sở hay không.Cho nên kiểm toán viên sẽ dựa vào
chính những xác nhận nêu trên của người quản lý đơn vị để thu thập bằng chứng
kiểm toán.Và vì vậy, những xác nhận của người quản lý là cơ sở dữ liệu của kiểm
toán viên trong kiểm toán Báo Cáo Tài Chính( phương pháp kiểm toán cơ bản).
b. Mục tiêu kiểm toán :
Đoạn 11 VSA số 200 xác định: “Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là
giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo
tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được
chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên
các khía cạnh trọng yếu hay không?”
“Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm
toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin
tài chính của đơn vị”
Ở đây,các khái niệm trung thực,hợp lý ,hợp pháp được hiểu như sau:
- Trung thực: là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng sự thật
nội dung,bản chất, và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
- Hợp lý : là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh trung thực,cần
thiết, và phù hợp về không gian, thời gian và sự kiện được nhiều người thừa nhận.
- Hợp pháp : là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng pháp luật,
đúng chuẩn mực, và chế độ kế toán hiện hành( hoặc được chấp nhận ).
Thực hiện kiểm toán Báo Cáo Tài Chính Kiểm toán viên phải tuân theo các
mục tiêu đã được đặt ra, những mục tiêu này cần được cụ thể hoá theo các yếu tố
của hệ thống kê toán.Theo đó,Kiểm toán viên sẽ xây dựng các mục tiêu kiểm toán
tổng quát thành các mục tiêu chung như sau :
Tính có thực của các thông tin với ý nghĩa các thông tin phản ánh tài
đúng theo chuẩn mực kế toán hiện hành không, kiểm toán viên cần kiểm tra chính
sách kế toán của đơn vị có phù hợp với chuẩn mực không, áp dụng có nhất quán
không và lấy mẫu để kiểm tra sự tính toán.
Tính chính xác về cơ học với ý nghĩa các phép tính số học, cộng dồn
cũng như chuyển sổ,sang trang trong công nghệ kế toán được thực hiện đúng
đắn.Kiểm toán viên sẽ kiểm tra việc ghi chép có chính xác không, đối chiếu giữa sổ
chi tiết và sổ tổng hợp, kiểm tra lại số tổng cộng trên sổ Cái, đối chiếu giữa sổ Cái
với Báo Cáo Tài Chính.
Tính đúng đắn trong việc phân loại và trình bày với ý nghĩa kế toán
doanh nghiệp tuân thủ các quy định trong phân loại tài sản và vốn cũng như phản
ánh chính xác qua hệ thống tài khoản kế toán.Kiểm toán viên thu thập bằng chứng
về việc trình bày và khai báo có đúng yêu cầu của chuẩn mực kế toán không
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
SVTH: Phạm Thị Giang Thanh Trang 8
Tính đúng đắn trong việc phản ánh quyền và nghĩa vụ của đơn vị kế
toán với ý nghĩa tài sản phản ánh trên Báo Cáo Tài Chính phải thuộc quyền sở hữu
hoặc quyền sử dụng lâu dài của đơn vị,phần vốn và công nợ phản ánh đúng nghĩa
vụ của đơn vị này.Kiểm toán viên có trách nhiệm thu thập bằng chứng để chứng
minh tài sản thuộc quyền sở hữu của đơn vị và công nợ thực sự là nghĩa vụ. Trong
đó:
Quyền sở hữu: Một số tài sản quyền sở hữu được chứng minh cùng
với sự tồn tại như: tiền gửi ngân hàng, khoản phải thu, hàng gửi bán. Một số khác
như hàng tồn kho, tài sản cố định sự tồn tại hay kỹ thuật kiểm kê chưa chứng minh
được quyền sở hữu của đơn vị. Vì vậy khi thu thập bằng chứng để chứng minh
quyền sở hữu của những tài sản này Kiểm toán viên phải kiểm tra giấy tờ chứng
minh quyền sở hữu như hóa đơn bán hàng của người bán, giấy chứng nhận quyền
hữu, giấy nộp thuế trước bạ, hợp đồng kinh tế trong giao dịch mua bán.
Về nghĩa vụ: Nghĩa vụ của đơn vị khách hàng có liên quan đến các
quyền lợi của các bên giao dịch với đơn vị, đặc biệt đối với nợ phải trả Kiểm toán
b.Kỹ thuật sử dụng trong kiểm toán Báo Cáo Tài Chính:
Trong kiểm toán nói chung và trong kiểm toán Báo Cáo Tài Chính nói riêng,
kiểm toán viên thường sử dụng kỹ thuật lấy mẫu. Kỹ thuật lấy mẫu được các kiểm
toán toán viên sử dụng vì các lý do sau:
Quy mô của đối tượng kiểm toán với khối lượng chứng từ,nghiệp vụ
và những tài sản là rất lớn.Trong một số trường hợp kiểm toán viên không thể tiến
hành kiểm tra toàn diện được.
Việc kiểm tra toàn bộ tổng thể là không kinh tế.
Thời gian hoàn thành cuộc kiểm toán là không cho phép.
Kiểm toán viên không cần tìm kiếm một sự chắn chắn chính xác tuyệt
đối mà chỉ có nghĩa vụ xác minh Báo Cáo Tài Chính có trung thực hợp lý hay
không. Mặt khác những tài liệu mà kiểm toán viên dựa vào để kiểm tra cũng chỉ có
độ chính xác tương đối do đó việc chấp nhận kết quả tương đối là có thể được.
Tuy nhiên việc chọn mẫu phải đảm bảo rằng mẫu được chọn phải đại diện cho
tổng thể. Do vậy trong kiểm toán Báo Cáo Tài Chính tài chính thường sử dụng các
phương pháp chọn mẫu như sau:
Chọn mẫu ngẫu nhiên: Là phương pháp chọn mẫu mà trong đó mỗi
phần tử đều có cơ hội như nhau để được chọn vào mẫu. Trong chọn mẫu ngẫu nhiên
thường sử dụng các kỹ thuật sau:
Sử dụng bảng số ngẫu nhiên.
Sử dụng chương trình chọn số ngẫu nhiên.
Chọn mẫu hệ thống.
Chọn mẫu phi xác suất: Là phương pháp chọn mẫu mà trong đó các
phần tử không có cơ hội bằng nhau để được chọn vào mẫu. Có ba kỹ thuật thường
sử dụng:
Lấy mẫu theo khối.
Lẫy mẫu tình cờ.
Chọn mẫu theo xét đoán.
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
SVTH: Phạm Thị Giang Thanh Trang 10
sử dụng Báo Cáo Tài Chính và mục đích sử dụng của họ. Đây cũng là hai yếu tố
chính ảnh hưởng đến số lượng bằng chứng phải thu thập và mức độ chính xác của
các ý kiến mà kiểm toán viên đưa ra trong Báo Cáo kiểm toán.
Lựa chọn đội ngũ kiểm toán viên thực hiện công việc kiểm
toán:Thông qua việc nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng kiểm toán viên và
công ty kiểm toán cần ước lượng quy mô phức tạp của cuộc kiểm toán từ đó lựa
chọn đội ngũ kiểm toán viên thích hợp.Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán thích
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
SVTH: Phạm Thị Giang Thanh Trang 11
hợp cho cuộc kiểm toán không chỉ hướng tới hiệu quả của cuộc kiểm toán mà còn
tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán chung được thừ nhận.Chuẩn mực kiểm toán
chung nêu rõ:”Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi một nhười hoặc nhiều
người đã được đào tạo đầy đủ, thành thạo như một kiểm toán viên”
Ký kết hợp đồng kiểm toán: Khi chấp nhận kiểm toán cho khách hàng
Công ty kiểm toán và đơn vị khách hàng sẽ tiến hành ký kết hợp đồng kiểm
toán.Những nội dung chủ yếu của hợp đồng bao gồm:
- Mục đích và phạm vi kiểm toán
- Trách nhiệm của ban giám đốc công ty khách hàng và kiểm toán viên.
- Hình thức thông báo kết quả kiểm toán
- Thời gian tiến hành cuộc kiểm toán
- Căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán.
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
SVTH: Phạm Thị Giang Thanh Trang 12
b. Bước 2:Thu thập thông tin cơ sở:
Trong giai đoạn lập kế hoạch, theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 :”
Lập kế hoạch kiểm toán “: Kiểm toán viên phải thu thập sự hiểu biết về ngành nghề,
công việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kế toán, kiểm soát nội
bộ và các bên liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán.
SVTH: Phạm Thị Giang Thanh Trang 13
Trọng yếu là một khái niệm về tầm cỡ (hay quy mô) và bản chất của các sai
phạm (kể cả bỏ sót) của các thông tin tài chính hoặc là đơn lẻ, hoặc là từng nhóm
mà trong bối cảnh thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì không thể
chính xác hoặc rút ra kết luận sai lầm.
Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên phải đánh giá mức độ trọng yếu
để ước tính mức độ sai sót của Báo Cáo Tài Chính có thể chấp nhận được, xác định
phạm vi của cuộc kiểm toán và đánh giá các ảnh hưởng của các sai sót lên Báo Cáo
Tài Chính từ đó xác định bản chất, thời gian và phạm vi thực hiện các thử nghiệm
kiểm toán. Việc đánh giá tính trọng yếu gồm:
Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu, trong đó kiểm toán viên cần
xem xét cả yếu tố định lượng và yếu tố định tính của tính trọng yếu.
Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho từng khoản mục,
khi phân bổ kiểm toán viên sẽ dựa vào các cơ sở: Bản chất của các khoản mục, rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá sơ bộ đối với các khoản mục, kinh
nghiệm của kiểm toán viên và chi phí kiểm toán dự tính đối với từng khoản mục.
Trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nên bên
cạnh việc đánh giá trọng yếu, kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro.
Đánh giá rủi ro:
Rủi ro trong kiểm toán được hiểu là xác suất kiểm toán viên đưa ra nhận xét
không thích hợp về Báo Cáo Tài Chính được kiểm toán.
Nếu muốn rủi ro kiểm toán nếu có xảy ra vẫn ở mức chấp nhận được thì trách
nhiệm của kiểm toán viên là phải lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện công việc
kiểm toán với thái độ thận trọng, hoài nghi trong nghề nghiệp.
Trong tiến trình kiểm toán - kể từ khi lập kế hoạch - kiểm toán viên phải xét
đoán để đánh giá mức độ rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được (rủi ro kiểm toán
mong muốn - DAR). Khi kiểm toán viên quyết định một tỷ lệ rủi ro kiểm toán thấp
hơn nghĩa là họ muốn được chắc chắn hơn rằng Báo Cáo Tài Chính không bị sai
phạm trọng yếu. Đối với mỗi cuộc kiểm toán khác nhau thì kiểm toán viên phải xác
Trong đó:
AR : Rủi ro kiểm toán
IR : Rủi ro tiềm tàng
CR : Rủi ro kiểm soát
DR : Rủi ro phát hiện
Như vậy kiểm toán viên phải nghiên cứu và đánh giá cả trọng yếu và rủi ro vì
chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu mức trọng yếu có thể chấp nhận được tăng
lên thì rủi ro kiểm toán sẽ giảm xuống. Khi giá trị sai sót có thể bỏ qua tăng lên thì
khả năng xảy ra sai sót trọng yếu (không thể bỏ qua) sẽ giảm xuống. Và mối quan
hệ này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vi, nội dung, thời gian của
các thủ tục kiểm toán.
g. Bước 6: Thiết kế chương trình kiểm toán (kế hoạch kiểm toán chi tiết).
AR = IR X CR X DR
AR
DR =
IR X CR
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
SVTH: Phạm Thị Giang Thanh Trang 15
Chương trình kiểm toán là một danh sách chi tiết các thủ tục kiểm toán được
áp dụng cho một tài khoản hay một loại nghiệp vụ cụ thể. Chương trình kiểm toán
xác định rõ bản chất, thời gian, phạm vi của các thủ tục kiểm toán.
Chương trình kiểm toán được thiết kế phù hợp sẽ đem lại nhiều lợi ích: Sắp
xếp một cách khoa học các công việc và nhân lực, đảm bảo sự phối hợp giữa các
kiểm toán viên, hướng dẫn chi tiết cho các kiểm toán viên trong quá trình thực hiện
công việc kiểm toán, đây cũng là phương tiện để người phụ trách kiểm toán quản lý,
Nếu các thủ tục kiểm soát không để lại “ dấu vết “ trong tài liệu kế
toán, kiểm toán viên có thể thực hiện phỏng vấn hoặc quan sát. Tuy nhiên bằng
chứng thu thập được không được coi là bằng chứng có giá trị cao.
Khi thực hiện xong các thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán viên sẽ có đánh giá
cuối cùng về rủi ro kiểm soát và có những định hướng sau khi đánh giá rủi ro kiểm
soát như sau:
Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá như kế hoạch ban đầu, kiểm toán
viên có thể thực hiện các thử nghiệm cơ bản theo kế hoạch.
Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp hơn kế hoạch ban đầu, kiểm
toán viên có thể điều chỉnh giảm các thử nghiệm cơ bản.
Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá cao hơn kế hoạch ban đầu, thì
kiểm toán viên có thể điều chỉnh tăng các thử nghiệm cơ bản (rủi ro phát hiện phải ở
mức thấp hơn).
b.Bước 8: Thực hiện thủ tục phân tích:
Thủ tục phân tích được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm
toán. Tuy nhiên trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, thủ tục phân tích thực hiện
phải trải qua các bước như sau:
Phát triển mô hình.
Xem xét tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ.
Ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ.
Phân tích nguyên nhân chênh lệch.
Xem xét những phát hiện qua kiểm toán.
c.Bước 9: Thực hiện thử nghiệm cơ bản.
Thử nghiệm cơ bản là việc áp dụng các kỹ thuật kiểm toán cụ thể để kiểm toán
từng khoản mục hay tài khoản và các nghiệp vụ, các số dư của các tài khoản. Đây là
thử nghiệm phức tạp nhất, có chi phí cao nhất và quan trọng nhất. Đối với phương
pháp kiểm toán tuân thủ, phạm vi thực hiện thử nghiệm cơ bản tuỳ thuộc vào kết
quả của thử nghiệm kiểm soát và các thủ tục phân tích, trong phương pháp kiểm
toán cơ bản chủ yếu thực hiện các thử nghiệm cơ bản và thủ tục phân tích.
doanh nghiệp thương mại và liên quan đến nhiều tài khoản khác, có ảnh hưởng trực
tiếp và cần nhiều thời gian kiểm tra chi tiết trong cuộc kiểm toán. Cho nên việc
kiểm toán mua hàng và thanh toán với người bán là một bộ phận không thể tách rời
trong kiểm toán Báo Cáo Tài Chính.
Việc mua hàng là khâu đầu tiên nên sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu hàng tồn
kho, giá vốn hàng bán ra và có giá trị lớn trong giá trị tài sản lưu động tại doanh
nghiệp, liên quan trực tiếp đến các khoản thanh toán cho người bán. Các khoản
thanh toán cho người bán là khoản mục có giá trị lớn trên bảng cân đối tài sản, ảnh
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
SVTH: Phạm Thị Giang Thanh Trang 18
hưởng đến các chỉ tiêu tài chính phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Do đó khi kiểm toán sẽ chiếm nhiều thời gian và cần kết hợp với kết quả
của các chu trình, các khoản mục khác như doanh thu, tiền mặt, hàng tồn kho, tiền
gửi..
Nghiệp vụ mua hàng phát sinh nhiều, liên quan đến nhiều loại hàng hoá, nhiều
nhà cung cấp cho nên khi kiểm toán kiểm toán viên cần sắp xếp thời gian và phân
chia công việc phù hợp.
Vấn đề kiểm tra đối chiếu phức tạp và tốn nhiều thời gian.
2.Các chức năng cơ bản:
Xuất phát từ quá trình mua hàng, đề nghị mua hàng bởi bộ phận có nhu cầu và
nó phải được xét duyệt. Trên cơ sở đề nghị này, người ta sẽ mua và nhận hàng. Khi
nhận hàng phải có các quá trình kiểm soát thích hợp tức là quá trình kiểm nhận về
số lượng, chủng loại, chất lượng hàng.Tuy nhiên sự kiẻm nhận không phải là hình
thức mà sự kiểm nhận ở đây là bộ phận cung ứng và nó phải đảm bảo nguyên tắc
bất kiêm nhiệm độc lập với bộ phận kho và kế toán.
Sau khi mua và nhận hàng thì ghi nhận các khoản nợ phải trả dựa trên chứng
từ, hoá đơn của người bán và phải đảm bảo các mục tiêu như: mục tiêu về tính
chính xác,tính cơ học và định giá,trình bày, hay mục tiêu về tính có căn cứ,đầy đủ.
Chẳng hạn như đảm bảo tính chính xác thì kế toán phải đối chiếu với hoá đơn
trả cho từng nhà cung cấp. Tổng số tiền trên sổ hạch toán chi tiết phải bằng với
khoản mục phải trả người bán trên bảng cân đối kế toán.
- Biên bản đối chiếu công nợ với người bán.
Thông tin, số liệu vận động từ các chứng từ vào sổ sách kế toán thông qua hệ
thống tài khoản. Đối với nghiệp vụ mua hàng và thanh toán có các tài khoản liên
quan: Tài khoản hàng hoá (TK 1561), chi phí mua hàng (TK 1562), thuế giá trị gia
tăng đầu vào (TK 133), hàng mua đang đi đường (TK151), phải trả người bán (TK
331), tiền mặt (TK 111), tiền gửi (TK112), tạm ứng (TK 141)...
4. Mục tiêu kiểm toán chu trình nghiệp vụ mua hàng và thanh toán với
người bán trong doanh nghiệp thương mại:
Mục đích của kiểm toán Báo Cáo Tài Chính là xác minh và bày tỏ ý kiến về
độ tin cậy của các thông tin và tính tuân thủ nguyên tắc trong việc lập và trình bày
Báo Cáo Tài Chính. Kiểm toán chu trình nghiệp vụ mua hàng là một phần công việc
quan trọng trong kiểm toán Báo Cáo Tài Chính. Do vậy mục đích chung của kiểm
toán mua hàng và thanh toán là đánh giá xem liệu số dư các tài khoản liên quan có
được trình bày trung thực và phù hợp với nguyên tắc kế toán hiện hành không. Từ
đó có thể cụ thể hoá thành các mục tiêu đối với chu trình mua hàng và thanh toán
như sau:
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
SVTH: Phạm Thị Giang Thanh Trang 20
Cơ sở dẫn liệu Mục tiêu kiểm toán
Sự tồn tại và sự phát
sinh.
- Các nghiệp vụ mua hàng là thạt sự phát sinh trong kỳ kế
toán.
- Các khoản phải trả người bán thực sự tồn tại
Sự đầy đủ - Các nghiệp vụ mua hàng và thanh toán được ghi sổ đầy
Khi tiếp nhận hàng tại kho, bộ phận nhận hàng có nhiệm vụ kiểm tra chất lượng lô
hàng, số lượng, qui cách... và lập biên bản kiểm nhận hoặc báo cáo nhận hàng cho
các nghiệp vụ nhận hàng phát sinh. Các chứng từ này phải được đánh số liên tục và
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
SVTH: Phạm Thị Giang Thanh Trang 21
lập thành nhiều liên và chuyển ngay cho các bộ phận liên quan như kho hàng, mua
hàng, nợ phải trả.
Trong bộ phận kế toán nợ phải trả, các chứng từ cần được đóng dấu
ngày nhận, các chứng từ phát sinh phải được đánh số liên tục để kiểm soát. Bộ phận
này phải thực hiện kiểm tra đối chiếu và ký tên xác nhận trách nhiệm của người
kiểm tra. Việc kiểm tra đối chiếu được tiến hành như sau:
So sánh số lượng trên hoá đơn với số lượng trên báo cáo nhận hàng và
đơn đặt hàng, để đảm bảo việc thanh toán không vượt quá số lượng đặt hàng và số
lượng thực nhận.
So sánh giá cả, chiết khấu trên đơn đặt hàng và trên hoá đơn để bảo
đảm không thanh toán vượt số nợ phải trả cho người bán.
Việc xét duyệt và thanh toán cho người bán sẽ do bộ phận kế toán
thanh toán thực hiện. Sự tách rời giữa hai chức năng kiểm tra và chấp nhận thanh
toán (do bộ phận kế toán công nợ đảm nhận) và xét duyệt chi quỹ (do bộ phận kế
toán thanh toán đảm nhận) là một biện pháp nhằm ngăn chặn các sai phạm. Trước
khi chuẩn chi, thông qua sự đầy đủ, hợp lệ, hợp lý của các chứng từ để chúng không
được tái sử dụng để lập chứng từ chi quỹ lần hai.
Cuối tháng, bộ phận kế toán công nợ cần đối chiếu giữa các sổ chi tiết
người bán với các sổ cái và tiến hành đối chiếu công nợ với nhà cung cấp và lưu
vào các hồ sơ sổ sách có liên quan.
6.Kiểm toán đối với chu trình nghiệp vụ mua hàng và thanh toán với
người bán:
6.1.Nghiên cứu và đánh giá kiểm soát nội bộ.
kiểm soát liên quan được thiết kế và thực hiện một cách hữu hiệu. Đây là cơ sở để
các kiểm toán viên giới hạn phạm vi của các thử nghiệm cơ bản phải tiến hành đối
với các chu trình và các khoản mục có liên quan. Nhưng nếu mức rủi ro kiểm soát
được đánh giá ở mức cao, và xét thấy không có khả năng giảm được trong thực tế,
kiểm toán viên có thể sẽ không thực hiện các thử nghiệm kiểm soát mà thực hiện
ngay các thử nghiệm cơ bản ở mức phù hợp.
6.1.3.Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát.
a.Đối với nghiệp vụ mua hàng:
Có thể đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ ở đơn vị khách
hàng bằng cách thực hiện các thử nghiệm kiểm soát sau:
Kiểm tra sự hiện diện của các chứng từ, kiểm tra dấu hiệu của việc
kiểm tra nội bộ.
Chọn mẫu một số nghiệp vụ mua hàng, thực hiện các kiểm tra như
kiểm tra sự xét duyệt của các nghiệp vụ, đối chiếu giữa đơn đặt hàng, báo cáo nhận
hàng và hoá đơn người bán về số lượng, giá cả..., kiểm tra chứng từ chi phí mua
hàng, kiểm tra việc tính toán và ghi chép vào các sổ sách có liên quan.
Quan sát và phỏng vấn nhân viên trong đơn vị về những chính sách,
thủ tục trong mua và nhận hàng, tồn trữ hàng...
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
SVTH: Phạm Thị Giang Thanh Trang 23
Trong trường hợp đơn vị áp dụng hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai
thường xuyên, kiểm tra hệ thống sổ và bảng tổng hợp để đảm bảo việc ghi chép
chính xác.
b.Đối với nghiệp vụ thanh toán với người bán:
Các thử nghiệm kiểm soát gồm:
Thảo luận với người ghi sổ và quan sát hoạt động, kiểm tra dấu hiệu
của sự kiểm tra nội bộ.
Chọn mẫu để so sánh các khoản chi đã ghi trong nhật ký chi tiền với
tài khoản phải trả, với các chứng từ có liên quan như hoá đơn của người bán, các đề
Thực hiện các thủ tục phân tích:
Các thủ tục phân tích đối với nghiệp vụ mua hàng thường được thực hiện
thông qua việc so sánh giữa hàng mua vào với hàng bán ra và hàng tồn kho giữa các
năm.
- Tỷ số giữa hàng mua vào / hàng bán ra (%) = Hàng mua vào *100%/
hàng bán ra
- Tỷ số hàng mua vào / hàng tồn kho (%) = Hàng mua vào*100%/ hàng
tồn kho.
Kiểm toán viên cũng cần xem xét sự hợp lý của các khoản chiết khấu mua
hàng bằng cách tính tỷ lệ chiết khấu bình quân trên tổng giá trị hàng mua, so sánh
với các kỳ trước. Một sự giảm sút đáng kể của tỷ lệ này cần được xem xét, vì đó có
thể do thay đổi kết cấu của hàng mua, nhưng cũng có thể do sai phạm trong ghi
chép chiết khấu mua hàng.
b.Đối với nghiệp vụ thanh toán với người bán:
Yêu cầu đơn vị cung cấp bảng số dư chi tiết nợ phải trả, để đối chiếu
với sổ Cái và sổ chi tiết.
Mục đích thử nghiệm là để chứng minh số liệu nợ phải trả trên Báo Cáo Tài
Chính có thống nhất với tất cả các khoản phải trả của từng đối tượng trong các sổ
chi tiết. Qua bảng số dư chi tiết, kiểm toán viên có thể chọn mẫu để thực hiện các
thử nghiệm khác như kiểm toán viên yêu cầu đơn vị cung cấp bảng số dư chi tiết nợ
phải trả người bán vào thời điểm khoá sổ, sau đó kiểm tra tổng cộng và đối chiếu
với sổ Cái và các sổ chi tiết. Nếu các số liệu trên bảng không thống nhất với sổ Cái
hoặc các sổ chi tiết, cần phải tìm hiểu nguyên nhân, ví dụ có thể trao đổi với nhân
viên của đơn vị để tìm kiếm sai sót.
Gửi thư xin xác nhận.
Việc gửi thư xin xác nhận được thực hiện đối với một số nhà cung cấp chủ yếu của
đơn vị (kể cả khi số dư cuối kỳ của những nhà cung cấp chủ yếu không có).
Chọn mẫu để kiểm tra chứng từ gốc và các tài liệu có liên quan.
Kiểm toán viên chọn lựa một số khoản phải trả trên số dư chi tiết cuối năm để
kiểm tra chứng từ gốc và các tài liệu có liên quan như hoá đơn, đơn đặt hàng, phiếu
Xem xét việc trình bày và khai báo các khoản phải trả trên Báo Cáo
Tài Chính.
Xem xét các trường hợp phát sinh số dư bên nợ trên tài khoản phải trả người
bán, ứng tiền cho người bán, trả lại cho người bán sau khi đã thanh toán tiền. Những
trường hợp này phải được trình bày trong khoản mục nợ phải thu của Bảng cân đối
kế toán để đảm bảo trình bày đúng về tình hình tài chính của đơn vị. Nếu đơn vị
không thực hiện điều này và số tiền là trọng yếu kiểm toán viên phải lập bút toán
điều chỉnh để sắp xếp lại khoản mục. Nợ phải trả người bán cuối kỳ
Tổng giá trị hàng mua trong kỳ
=
Tỷ lệ nợ phải trả người bán
trên tổng hàng mua