1
1
Trong quá trình học tập tại trường Đại học Thương mại cũng như kỳ thực
tập tại công ty TNHH thực phẩm Ân Nam, em đã được các Thầy Cô trong khoa
quản trị doanh nghiệp và ban giám đốc cùng các anh chị nhân viên trong công ty
giúp đỡ. Vì vậy, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tất cả mọi người,
những người đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô khoa Quản trị doanh nghiệp
trường Đại học Thương mại, cảm ơn các Thầy Cô đã tận tình chỉ dạy những
kiến thức cơ bản và hữu ích trong công việc thực tế tại nơi em thực tập cũng như
trong quá trình nghiên cứu, phân tích và viết khóa luận.Và em xin gửi lời cảm
ơn đặc biệt tới PGS.TS Trần Hùng người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành
khóa luận này.
Qua đây, cho phép em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ban lãnh đạo công ty
TNHH thực phẩm Ân Nam, cùng toàn thể các anh chị nhân viên trong công ty
đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình học tập thực tế và làm khóa luận.
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Thoa
2
2
!"#$%
Những năm gần đây, khi mà sự khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng đến tất cả
mọi nền kinh tế, mọi lĩnh vưc trong cuộc sống đương đại. Kèm theo những liên
lụy ảnh hưởng của sự khủng hoảng đó chính là các rủi ro trong kinh doanh, tài
chính cũng nhưng cũng rủi ro về sự phát triển của các doanh nghiệp trong thời
kỳ này.Để khắc phục được điều này thì các doanh nghiệp có các sản phẩm với
chất lượng tốt, công tác bán hàng tiêu thụ sản phẩm đạt hiệu quả mà bên cạnh đó
nó có thể được sử dụng từ việc đưa ra các chiến lược ban đầu, đến các dự án và
các quyết định đầu tư cho đến các quy trình và các hoạt động thực hiện.
Quá trình thực tập ở công ty TNHH thực phẩm Ân Nam e nhận thấy công
ty chủ yếu tập trung vào việc nâng cao chất lượng hàng hóa,đảm bảo được mục
tiêu lợi nhuận … mà lại bỏ quên một vấn đề cũng ảnh hưởng lớn đến công việc
kinh doanh của mình, đó là Quản trị rủi ro.
*+"#$% !
Thông qua đề tài cho ta cái nhìn tổng quan về rủi ro và quản trị rủi ro các
nguyên tắc áp dụng trong quản trị rủi ro. Các quan niệm về rủi ro, các hoạt động
trong quy trình quản trị rủi ro của doanh nghiệp…Việc ứng dụng các lý thuyết
đó trong công tác quản trị rủi ro của doanh nghiệp.
Phân tích thực trạng công tác quản trị rủi ro tại công ty TNHH thực phẩm
Ân Nam để thấy được những mặt đạt được và những điểm hạn chế trong công
tác quản trị rủi ro của công ty.Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác quản trị rủi ro của công ty.
,-."#$% !
Về thời gian: Nghiên cứu các số liệu 3 năm trở lại đây ( 2010-2011-2012)
và đưa ra các ý kiến đề xuất để hoàn thiện hơn công tác quản trị rủi ro cho công
ty TNHH thực phẩm Ân Nam
Về không gian: Đề tài có không gian nghiên cứu là khu vực Hà Nội
Về nội dung: Khóa Luận tập trung vào việc phân tích, đánh giá và đưa ra
các giải pháp để hoàn thiện công tác quản trị rủi ro cho công ty.
/0"1"#$% !
Trong đề tài sử dụng một số phường pháp ngiên cứu:
4
Phương pháp ngiên cứu thu thập tài liệu: thu thập các tài liệu liên quan đến
việc thực hiện và đảm bảo chất lượng tại doanh nghiệp từ các số liệu thứ cấp của
công ty
Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn các cá nhân tổ chưc có liên quan đến
việc thực hiện chât lượng trong doanh nghiệp, phỏng vấn lãnh đạo cộng nhân
0 hoặc 1, thì không có rủi ro.
Rủi ro là sự kết hợp giữa các điểm dễ tổn thương của hệ thống và các
nguồn phát sinh nguy cơ đến từ bên trong hoặc bên ngoài hệ thống.
&DEF-GGF.
Có nhiều cách phân loại rủi ro và nhiều lọai rủi ro, sau đây là một số loại
rủi ro thường gặp trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
6
1.1.2.1. Rủi ro sự cố và rủi ro cơ hội
Như chúng ta đã biết : Rủi ro sự cố là rủi ro gắn liền với những sự cố ngoài
dự kiến, đây là những rủi ro khách quan khó tránh khỏi nó gắn liền với các yếu
tố bên ngoài
Rủi ro cơ hội là rủi ro gắn liền với quá trình ra quyết định của chủ thể. Xét
theo quá trình ra quyết định của chủ thể thì rủi ro cơ hội bao gồm:
Rủi ro liên quan đến quan giai đoạn trước khi ra quyết định (thu thập xử lý
thông tin, lựa chọn cách thức ra quyết định) và rủi ro trong quá trình ra quyết
định(rủi ro phát sinh do ta chọn quyết định này mà không chọn quyết định khác)
Rủi ro liên quan đến việc sau khi ra quyết định: rủi ro liên quan đến sự
tương hợp giữa kết quả thu được với dự kiến ban đầu.
1.1.2.2. Rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán.
Rủi ro thuần túy là rủi ro tồn tại khi có một nguy cơ xảy ra tổn thất nhưng
không có cơ hội kiếm lời, hay nói cách khác rủi ro đó không có khả năng có lợi
cho chủ thể. Với loại rủi ro này các doanh nghiệp phải né tránh nó.
Rủi ro suy đoán tồn tại khi có một cơ hội kiếm lời cũng như một nguy cơ
tổn thất hay nói cách khác là rủi ro này vừa có khả năng đem lại lợi nhuận vừa
có khả năng tổn thất. Trong nhiều trường hợp các nhà quản trị doanh nghiệp
mạo hiểm, đủ dũng cảm để có biện pháp đối phó với rủi ro trên cơ sở tính toán
lợi ích và tổn thất mà rủi ro mang lại.
1.1.2.3. Rủi ro trong các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp
Bao gồm có 3 giai đoạn:
Giai đoạn khởi sự: rủi ro không được thị trường chấp nhận do mục tiêu của
&31C(%GKGGF
Quản trị rủi ro là quá trình bao gồm các hoạt động nhận dạng, phân tích, đo
lường đánh giá rủi ro và tìm các biện pháp, tài trợ khắc phục các hiệu quả của
rủi ro đối với hoạt động kinh doanh nhằm sử dụng các nguồn lực trong doanh
nghiệp.
Nói cách khác, Quản trị rủi ro là quá trình xác định các rủi ro và tìm cách
quản lý, hạn chế các rủi ro đó xảy ra với tổ chức. Một cách tổng quát, đó là quá
8
trình xem xét toàn bộ hoạt động của tổ chức, xác định các nguy cơ đó. Từ đó có
sự chuẩn bị các hành động thích hợp để hạn chế các rủi ro đó mức thấp nhất.
Vậy quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học và có hệ
thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất,
mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro.
&&=GL(%GKGGF
Quản trị rủi ro có vai trò quan trọng trong hoạt động quản trị của doanh
nghiệp cụ thể hóa các lợi ích mà hoạt động quản trị rủi ro mang lại cho các
doanh nghiệp khi thực hiện tốt là.
Xây dựng khuôn khổ nhằm giúp doanh nghiệp thực hiện kế hoạch tương lai
có tính nhất quán và có thể kiểm soát, đặc biệt là xây dựng và thực hiện kế
hoạch, chiến lược kinh doanh.
Tăng cường năng lực trong việc ra quyết định, lập kế hoạch và sắp xếp thứ
tự ưu tiên công việc trên cơ sở hiểu biết thấu đáo và chặt chẽ về hoạt động kinh
doanh, môi trường kinh doanh, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp.
Góp phần bổ xung và sử dụng có hiệu quả những nguồn lực quan trong
doanh nghiệp. Giảm thiểu những sai xót trong mọi khía cạnh của doanh nghiệp
Bảo vệ và tăng cường tài sản cũng như hình ảnh doanh nghiệp. Xác định và
quản lý những rủi ro bao trùm toàn công ty. Liên kết mức giữa tăng trưởng, rủi
ro, và lợi nhuận.
Phát triển và hỗ trợ nguồn nhân lực và nền tảng tri thức của doanh nghiệp,
nắm bắt thời cơ xác định mức vốn cần huy động trong hoạt động sản xuất kinh
&,N%IG)(%GKGGF
Để hoạt động quản trị rủi ro đạt hiệu quả thì công tác quản trị rủi ro phải áp
dụng theo một quy trình cụ thể bao gồm các nội dung: nhận dạng rủi ro, phân
tích rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát và tài trợ rủi ro. Nội dung cụ thể của từng
hoạt động trong quy trình như sau
1.2.4.1. Nhận dạng rủi ro
10
Khái niệm: Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định một cách liên tục và có
hệ thống các rủi ro có thể xảy trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhận dạng rủi ro nhằm tìm kiếm các thông tin về tên và loại rủi ro, các mối
hiểm họa, các mối nguy hiểm sẽ xảy ra với doanh nghiệp.
Mối hiểm họa: gồm các điều kiện tạo ra hoặc làm tăng mức độ tổn thất của
rủi ro
Mối nguy: là một điều kiện thực hay tiềm năng có thể là nguyên nhân của
các tai nạn gây tử vong hoặc thương tật cho con người, gây hư hỏng các loại
máy móc thiết bị, tài sản, hoặc gây tổn thất về tài chính cho một tổ chức.
Cơ sở nhận dạng rủi ro: tập trung vào 2 vấn đề chính
Thứ nhất là nguồn rủi ro: là phát sinh mối hiểm họa và mối nguy hiểm
thường được tiếp cận là ở yếu tố của môi trường hoạt động của doanh nghiệp
Môi trường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
Môi trường chung( Môi trường chính trị luật pháp, môi trường kinh tế, môi
trường KH KTCN, môi trường văn hóa – xã hội, môi trường tự nhiên);Môi
trường đặc thù( Khách hàng, Nhà cung cấp, Đối thủ cạnh tranh, Các cơ quan
hữu quan) và môi trường bên trong(Nhận thức của con người nói chung và của
nhà quản trị nói riêng).
Thứ hai là nhóm đối tượng rủi ro: là nguồn phát sinh nguy cơ rủi ro
Nguy cơ rủi ro về tài sản: là khả năng được hay mất đối với tài sản hữu
hình hay tài sản vô hình ( danh tiếng, hỗ trợ về chính trị, quyền tác giả ) và các
kết quả này xảy ra do các mối hiểm họa hoặc rủi ro. Tài sản có thể bị hư hỏng,
bị hủy hoại hay tàn phá, mất mát hoặc giảm giá theo nhiều cách khác nhau. Việc
lường và định ra cách quản lý tốt nhất cho các nguy cơ rủi ro.
Phương pháp lưu đồ: Trên cơ sở xây dựng một hay một dãy các lưu đồ diễn
tả các hoạt động diễn ra trong những điều kiện cụ thể và trong những hoàn cảnh
cụ thể của doanh nghiệp, nhà quản trị có điều kiện phân tích những nguyên
nhân, liệt kê các tổn thất tiềm tàng về tài sản, về trách nhiệm pháp lý và về
nguồn nhân lực.Trước tiên ta xây dựng một hay một dãy các lưu đồ trình bày tất
cả các hoạt động của tổ chức, bắt đầu từ khâu nguyên vật liệu, nguồn năng
lượng, và tất cả các đầu vào khác từ người cung cấp, và kết thúc với thành phẩm
trong tay người tiêu thụ.Kế đó, một bảng liệt kê các nguồn rủi ro về tài sản,
12
trách nhiệm pháp lý và nguồn nhân lực có thể được sử dụng cho từng khâu trong
lưu đồ để nhận dạng các rủi ro mà tổ chức có thể gặp.
Phương pháp thanh tra hiện trường: Bằng cách quan sát trực tiếp các hoạt
động diễn ra ở mỗi đơn vị, mỗi bộ phận, mỗi cá nhân trong doanh nghiệp và các
hoạt động tiếp theo sau đó của nó, nhà quản trị tìm hiểu được các mối hiểm họa,
nguyên nhân và các đối tượng rủi ro. Qua đó, họ có thể rút ra các nhận định
khách quan về rủi ro thường gặp trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Phương pháp làm việc với bộ phận khác của doanh nghiệp: Nhà quản trị có
thể nhận dạng các rủi ro thông qua việc giao tiếp trao đổi với các cá nhân và các
bộ phận khác trong doanh nghiệp; hoặc thông qua hệ thống tổ chức không chính
thức. Với phương pháp này, thông tin có thể được thu thập bằng văn bản hoặc
bằng miệng.
Phương pháp làm việc với bộ phận khác bên ngoài: Thông qua sự tiếp xúc,
trao đổi, bàn luận với các cá nhân, tổ chức bên ngoài doanh nghiệp, có mối quan
hệ với doanh nghiệp ( như là các cơ quan thuế, các cơ quan thông tin quảng cáo
các văn phòng luật), nhà quản trị có điều kiện bổ xung các rủi ro mà bản thân
nhà quản trị có thể bỏ sót, đồng thời có thể phát hiện ra các nguy cơ rủi ro từ
chính các đối tượng này.
Để bổ xung cho việc giao tiếp với các bộ phận khác trong tổ chức, nhà
quản trị rủi ro nên trao đổi thêm với những người có quan hệ với tổ chức như
Phân tích nguyên nhân rủi ro: là việc phân tích được yếu tố trực tiếp tạo
nên rủi ro, đây là công việc khá phức tạp bởi không phải mỗi rủi ro chỉ là do một
nguyên nhân đơn nhất gây ra, mà thường do nhiều nguyên nhân, trong đó có
những nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân gần, nguyên
nhân xa…Nguyên nhân chủ quan như: Sai lầm của tổ chức, doanh nghiệp về
chiến lược kinh doanh. Sai lầm trong việc lựa chọn chính sách, cơ chế quản lý
của tổ chức hay do sơ xuất, bất cẩn, chủ quan hay mất tập trung trong hoạt động.
Do thiếu tinh thần trách nhiệm, đạo đức, phẩm chất, sức khỏe, tinh thần… của
nhân viên.
Phân tích tổn thất, hậu quả:
Phân tích những tổn thất đã xảy ra : Dựa trên sự đo lường để đánh giá
những tổn thất đã xảy ra.
14
Căn cứ vào hiểm họa, nguyên nhân rủi ro người ta dự đoán những tổn thất
có thể có.
Các phương pháp phân tích rủi ro.
- Phương pháp phân tích thống kê kinh nghiệm
- Phương pháp xác xuất thống kê
- Phương pháp phân tích cảm quan
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp xếp hạng các nhân tố tác động
1.2.4.3 Đo lường rủi ro.
Khái niệm: Đo lường rủi ro là việc đo lường khả năng xảy ra và tổn thất
khi rủi ro xảy ra
Mục đích của đo lường, đánh giá rủi ro.
Thực chất của việc đo lường, đánh giá rủi ro là tính toán xác định tần suất
rủi ro và biên độ rủi ro, từ đó phân nhóm rủi ro
Thông qua 2 yếu tố đó, xây dựng ma trận về tần số và biên độ rủi ro.
)&: Ma trận về tần số và biên độ rủi ro.
Tần suất xuất hiện
thất có thể có khi rủi ro xảy ra. Phương pháp này dựa trên cơ sở đo lường xác
suất rủi ro, mức độ tổn thất trung bình có thể xảy ra trong kỳ kế hoạch.
1.2.4.4 Kiểm soát và tài trợ rủi ro.
Khái niệm kiểm soát rủi ro: Là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật, công
cụ, chiến lược, chính sách, để né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu những tổn thất,
ảnh hưởng không mong đợi có thể đến với tổ chức khi rủi ro xảy ra.
Thực chất của kiểm soát rủi ro là phòng chống, hạn chế rủi ro, hạn chế tổn
thất xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tầm quan trọng của kiểm soát: Kiểm soát giúp cho doanh nghiệp tăng độ
an toàn trong kinh doanh, giảm được cho phí hoạt động kinh doanh chung, hạn
chế được những tổn thất xảy ra đối với con người. Tăng cường uy tín của doanh
nghiệp trên thương trường, tìm kiếm được những cơ hội và biến cơ hội thành
hiện thực.
Nội dung của kiểm soát rủi ro: nội dung của kiểm soát rủi ro bao gồm
- Né tránh rủi ro: là việc né tránh những hoạt động, hoặc loại bỏ những nguyên
nhân gây ra rủi ro
16
- Ngăn ngừa rủi ro: là việc sử dụng các biện pháp để giảm thiểu tần suất và mức
độ rủi ro khi chúng xảy ra.
- Giảm thiểu tổn thất: các biện pháp giảm thiểu tổn thất tấn công vào các rủi ro
bằng cách làm giảm bớt giá trị hư hại khi tổn thất xảy ra.
- Đa dạng hóa rủi ro: là việc phân chia các rủi ro hoạt động thành các dạng khác
nhau, tận dụng sự khác biệt, sử dụng lợi ích từ hoạt động này bù đắp hoạt động
khác.
- Quản trị thông tin: thông tin bắt nguồn từ phòng quản trị rủi ro của một tổ chức
có sự ảnh hưởng quan trọng đến việc giảm thiểu những bất định của những
người có quyền lợi gắn liền với tổ chức. Phòng quản trj rủi ro của một tổ chức
phải cung cấp thông tin để xác định hiệu quả của việc đo lường kiểm soát rủi ro
và những mục tiêu tương lai họ cần đạt được.
Khái niệm tài trợ rủi ro: là hoạt động cung cấp những phương tiện để đền
quan và nhân tố chủ quan, cụ thể như sau:
*DSV1(%
Những nhân tố của môi trường kinh tế pháp luật chính trị tác động vào
doanh nghệp mà doanh nghiệp không thể tác động và điều khiển được như.
Tình hình kinh tế như suy thoái kinh tế, sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, lạm
phát
Sự không ổn định của chính trị: sự thay đổi của thể chế chính trị, chính
sách, pháp luật theo hướng bất lợi hay cơ hội cho doanh nghiệp.
Nhân tố môi trường văn hóa, xã hội, định chế xã hội truyền thống,
phong tục, tập quán, thói quen tiêu dùng, thói quen mua xắm, văn hóa ứng xử
của người người tiêu dùng, sự phát triển của khoa học kĩ thuất và sự phát triển
của khoa học quản lý.
*&DS(%
18
Nhận thức của nhà quản trị trong quản trị rủi ro giúp cho hoạt động quản trị
rủi ro đạt đươc thành công hoặc có thể làm cho hoạt động quản trị rủi ro không
đạt kết quả.
Trình độ, kiến thức kỹ năng kinh nghiệm của những người thực hiện công
tác quản trị rủi ro trong doanh nghiệp.
Thái độ của những người thực hiện công tác quản trị rủi trong doanh
nghiệp cũng ảnh hửng tới hoạt động này: sự sơ xuất bất cẩn thiếu trách nhiệm sẽ
dẫn đến những rủi ro trong kinh doanh cu công ty.
Việc áp dung công nghệ thông tin, ứng dung công nghệ vào thu thập và xử
lý thông tin trong công tác quản trị rủi ro của công ty.
19
456&7WX=?Y6@YZ[\6N]
[^[_@[`_ab6cZdWa
&31(%1. R"I
&N%1G))!.!1GeR"I
Tiền thân của công ty TNHH thực phẩm Ân Nam là cửa hàng Ân
cường mức tiêu thụ sản phẩm
Hạch toán phân tích kịp thời tình hình sản xuất kinh doanh và hiệu quả
kinh tế.
Về văn hóa – xã hội: công ty có nhiệm vụ đảm bảo việc làm và đời sống
vật chất, tinh thần cho đội ngũ cán bộ nhân viên, đảm bảo ổn định chính trị, trật
tự an ninh, an toàn trong công ty.
Công ty còn có nghĩa vụ thực hiện chế độ chính sách của nhà nước, thực
hiện các hoạt động của địa phương theo điều kiện thực tế cho phép của công ty.
&*hO1I'$R"I
Căn cứ vào nhiệm vụ, lĩnh vực kinh doanh của công ty, bộ máy quản lý của
công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến. Cơ cấu quản lý bộ máy được mô tả
như hình 1.1. Đứng đầu bộ máy quản lý là giám đốc, dưới quyền giám đốc là
các phòng ban bao gồm: Phòng kế toán – tài chính, phòng hành chính, phòng
kinh doanh và phòng tổ chức kế hoạch.
)79i%'$
( Nguồn: Phòng hành chính)
21
Giám đốc là người đứng đầu công ty, có toàn quyền nhân danh công ty
đưa ra các quyết định, chịu trách nhiệm toàn bộ những hoạt động của công ty.
Giám đốc cũng là người quyết định hầu hết mọi hoạt động và chiến lược kinh
doanh, điều hành và giám sát mọi hoạt động của các phòng ban trong công ty.
Công ty có 4 phòng ban chính, các bộ phận này có nhiệm vụ hợp tác, hỗ
trợ lẫn nhau. Nhìn chung cơ cấu tổ chức này khá phù hợp với quy mô và đặc
điểm kinh doanh của công ty.
&,"!" VjFR"I
Công ty thực hiện hoạt động là nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài và thực
hiện phân phối hàng hóa trong nước. Sản phẩm của công ty chủ yếu được nhập
khẩu từ nhiều nước như: Đức, Mỹ, Úc, Bỉ, Canada, Anh, Pháp với những
dòng sản phẩm có tiếng lâu đời và khẳng định được chất lượng trong nhiều năm
có mặt trên thị trường các nước bạn.
sự tăng giảm thất thường, khó lường đối với hoạt động kinh doanh trong những
tháng đầu năm 2012, với việc lập kế hoạch cho năm 2012 và các năm tiếp theo.
Với sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng và sự chỉ đạo của ban giám đốc, cộng
23
với những nỗ lực của toàn hệ thống trong công ty trong thời gian qua, nên công
ty đã đạt được các kết quả đáng khích lệ.
&&QG-"R"1(%GKGGFR"I
&&QG-"1GGF0""pGF"F-O"VjF
R"I
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh từ năm 2010 đến nay, công
ty ÂN NAM đã gặp không ít những rủi ro và gánh chịu những hậu quả mà
những rủi ro đó mang lại như:
Công ty kênh phân phối các sản phẩm mà chủ yếu là các sản phẩm nhập
khẩu từ nước ngoài nên việc thanh toán các đơn hàng dùng ngoại tệ để thanh
toán. Bởi vậy hoạt động kinh doanh của công ty bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tỷ
giá hối đoái trên thị trường. Trong những năm qua tỷ giá hối đoái thay đổi liên
tục, giá đô la Mỹ luôn ở mức cao gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh của công
ty. Do việc định giá sản phẩm bán ra phụ thuộc vào giá thành mua vào, khi giá
sản phẩm quá cao khiến cho hoạt động kinh doanh của công ty gặp khó khăn,
ảnh hưởng tới doanh thu của. Năm 2011,1012 tỷ giá đô la Mỹ luôn ở mức cao
và thị trường liên ngân hàng không thể cung cấp đủ lượng đô la cần thiết cho
nhu cầu của thị trường. Các Doanh nghiệp để có thể đáp ứng các đơn hàng thì
phải giao dich tại thị trường tự do với chi phí cao hơn nhiều, có thế gây nên các
rủi ro thanh toán cho công ty.
Công ty cũng gặp các rủi ro pháp lý như: Danh mục hàng hóa nhập khẩu
có sự thay đổi, thuế suất thuế nhập khẩu thay đổi, các quy định về thông quan
hải quan và tiêu chuẩn đo lường của nhà nước cũng gây ra những rủi ro cho
công ty. Khiến cho hàng hóa bị tồn đọng lâu tại một điểm, gây gián đoạn hoạt
động kinh doanh.
Trong kí kết hợp đồng: đối tác kinh doanh của công ty chủ yếu là các nhà
phục hậu quả rủi ro.
25