1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
ĐẶNG THANH HỒNG
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CỦA
CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN KỸ NĂNG
Y KHOA ĐỐI VỚI SINH VIÊN Y KHOA,
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ THỊ PHƯƠNG ANH
1.1.3. Đáp ứng chương trình huấn luyện kỹ năng y khoa 8
1.2. Sự phát triển và những nghiên cứu đánh giá về kỹ năng y khoa 8
1.2.1. Trong nước 8
1.2.2. Ngoài nước 15
1.2.3. Giả thuyết nghiên cứu 28
Chương 2 BỐI CẢNH ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Bối cảnh địa bàn nghiên cứu 30
2.1.1. Vài nét về Trường Đại học Y Dược Cần Thơ 30
2.1.2. Mô hình tổ chức của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ 31 ii
2.1.3. Quy mô đào tạo của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ 32
2.1.4. Công tác nghiên cứu, đánh giá đào tạo của Trường Đại học Y Dược
Cần Thơ 32
2.1.5. Khung lý thuyết của nghiên cứu 33
2.2. Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.1. Câu hỏi nghiên cứu 35
2.2.2. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 35
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.4. Phạm vi, thời gian khảo sát 36
2.2.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 37
2.2.6. Nội dung phiếu điều tra khảo sát (Phụ lục 6) 37
2.2.7. Phương pháp tiến hành nghiên cứu 38
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1. Khảo sát bộ câu hỏi theo mô hình RASCH 40
3.1.1. Khảo sát độ giá trị của bộ câu hỏi 40
3.1.2. Phân tích sự phân bố các item 41
3.1.3. Số liệu thống kê tổng quan 43
Phụ lục 4: Mối tương quan giữa mức độ năng lực học tập kỹ năng y khoa của
sinh viên theo năm học, KQHT, nguyện vọng nơi công tác với ngưỡng 75%
(56 điểm)
Phụ lục 5: Bộ câu hỏi điều tra
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nội dung Bộ GD-ĐT
CE
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Objective Structured Clinical Examination
(Kiểm tra lâm sàng theo cấu trúc khách quan)
ĐH
Đại học
ĐHYDCT
Đại học Y Dược Cần Thơ
ĐLC
Độ lệch chuẩn
ĐTB
Điểm trung bình
GV
Giảng viên
Bảng 3.1. Nhận định của sinh viên về chương trình huấn luyện kỹ năng y
khoa 49
Bảng 3.2. Bảng biểu hiện mức độ năng lực của sinh viên đối với chương trình
huấn luyện kỹ năng y khoa 54
Bảng 3.3. Bảng mức độ đáp ứng sinh viên với năng lực học tập kỹ năng y
khoa 56
Bảng 3.4. Mức độ cảm nhận của sinh viên Y5 và Y6 58
Bảng 3.5. Bảng mức độ cảm nhận sinh viên theo năm học 60
Bảng 3.6. Mối liên hệ giữa cảm nhận và năng lực ở ngưỡng 75% 60
Bảng 3.7. Bảng mức độ cảm nhận sinh viên theo kết quả học tập 61
Bảng 3.8. Bảng mức độ cảm nhận sinh viên theo nơi công tác 62
Bảng 3.9. Mối liên hệ giữa năng lực học tập và kết quả học tập kỹ năng 63
Bảng 3.10. Mối liên hệ giữa năng lực học tập và nguyện vọng nơi công tác . 64
viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỀU ĐỒ Sơ đồ 1.1. Sơ đồ ba biến trong thăm khám lâm sàng 21
Sơ đồ 2.1. Khung lý thuyết nghiên cứu 34
y khoa cơ bản được thực hiện trên mô hình và bệnh nhân giả trước khi thực
hành tại bệnh viện. SV được hướng dẫn thực hiện các thao tác thăm khám,
thực hiện thủ thuật đúng kỹ thuật; có hệ thống và theo phương thức tích hợp
các nội dung với nhau. SV y khoa và răng hàm mặt năm thứ 2, 3 và 4 được
học cùng nội dung kỹ năng y khoa theo chương trình giảng dạy của mỗi
block. SV được học 4 loại kỹ năng cơ bản: kỹ năng giao tiếp (KNGT), kỹ
năng thăm khám (KNTK), kỹ năng thủ thuật (KNTT) và kỹ năng xét nghiệm
(KNXN).
Việc giảng dạy kỹ năng y khoa trên các mô hình, các điều kiện mô
phỏng thực tế cho SV tiếp cận trước khi thực hiện trực tiếp trên bệnh nhân tại
các bệnh viện thực hành là một bước tiến rất quan trọng trong quá trình đào
tạo. Người bệnh nhờ đó cũng sẽ cảm thấy hài lòng hơn khi tiếp xúc với SV y
khoa và vấn đề y đức trong lĩnh vực y tế càng được nâng cao hơn. Chương
trình giảng dạy kỹ năng y khoa của trường ĐHYDCT đã được thực hiện gần 2
13 năm, nội dung giảng dạy cho SV được biên soạn từ thời kỳ ban đầu, đã có
nhiều điều chỉnh, cập nhật nội dung, đổi thay phương pháp giảng dạy cho phù
hợp với thực trạng y tế hiện nay. Chương trình được các giảng viên trong
trường đánh giá tốt và phù hợp với mục đích tăng mức độ an toàn cho sinh
viên trước khi đi thực hành tại bệnh viện và cũng được các sinh viên đồng ý
sự bố trí này. Tuy nhiên, hiện nay có một số sinh viên không thiết tha trong
việc học chương trình kỹ năng y khoa và có một số ý kiến phản ánh về công
tác thực hành kỹ năng y khoa về kỹ năng thăm khám như: đo huyết áp, nghe
tiếng tim, thao tác khám bụng trên bệnh nhân chưa thật sự đem lại hiệu quả
trong quá trình học. Do vậy, cần có một cách đánh giá tổng quan chương trình
đào tạo kỹ năng y khoa về mức độ đáp ứng của chương trình từ phía người
ứng dụng và người sử dụng để nâng cao hiệu quả giảng dạy, chất lượng đào
- Xác định mức độ đáp ứng của chương trình huấn luyện kỹ năng y
khoa.
Theo mục đích nghiên cứu, ở đây tác giả định nghĩa mức độ đáp ứng là
năng lực của sinh viên thực hiện kỹ năng y khoa. Ở đây, đo lường năng lực
của sinh viên tác giả thực hiện qua hai phương pháp: 1) Phương pháp trực
tiếp: đo lường năng lực khả năng sinh viên trả lời các câu hỏi đánh giá năng
lực thực hiện kỹ năng y khoa; 2) Phương pháp gián tiếp: đo lường mức độ cần
thiết, quan trọng, sự hứng thú về chương trình HLKNYK bằng các câu hỏi về
cảm nhận của sinh viên.
3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Các giới hạn nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài bao gồm:
1. Đề tài chỉ thực hiện đối với sinh viên đang học tại Trường Đại học Y
Dược Cần Thơ.
2. Số liệu thu thập dựa trên phiếu điều tra từ trả lời của sinh viên. 4
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CHUNG
Nội dung của chương nhằm nghiên cứu một số khái niệm cơ bản làm
cơ sở lý luận để xây dựng công cụ đo lường mức độ đáp ứng của chương trình
HLKNYK. Chương này sẽ tổng quan một số nghiên cứu ngoài nước và trong
nước có liên quan đến luận văn. Tiến hành phân tích các nội dung nghiên cứu
liên quan để phát hiện điểm còn tồn tại của các phương pháp nghiên cứu đã sử
dụng cũng như phạm vi nghiên cứu nhằm khẳng định hướng nghiên cứu đúng
đắn của luận văn và sử dụng được những nội dung phù hợp cho nội dung
HLKNYK giúp cho SV có được các kỹ năng cần thiết về hỏi bệnh, thăm
khám, điều trị trước khi trực tiếp tiếp xúc với người bệnh. Chương trình này
chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình đào tạo y khoa [36]. Một SV
không thể giỏi về các kiến thức khám và điều trị bệnh mà không cần có kỹ
năng y khoa. Hiểu được tác dụng của chương trình HLKNYK sẽ giúp cho SV
định hướng được mục tiêu học tập, rèn luyện, thực hành, tự học một cách hiệu
quả, đạt kết quả tốt trong thời gian ngồi trên ghế nhà trường cho công tác
chăm sóc sức khỏe con người ngày càng tốt hơn.
Chương trình HLKNYK được hình thành trên thế giới từ rất lâu, được
Đại học Maaschtrict (Hà Lan) đưa vào đào tạo từ năm 1976, và được triển
khai tại trường ĐHYDCT từ năm 1995. Chương trình này hướng dẫn cho SV
các kỹ năng y khoa cần thiết như: kỹ năng hỏi bệnh, KNTK, kỹ năng thực
hiện một thao tác kỹ thuật, KNXN, giúp cho SV tự tin trước khi đi thực tế tại
bệnh viện, thực hiện các thao tác kỹ thuật trên người bệnh. Chương trình mô
phỏng các tình huống, các hình thức đã từng xảy ra tại bệnh viện, SV thực
hiện các thao tác thăm khám, kỹ thuật trên mô hình trước khi khám và điều trị 6
trên bệnh nhân thật. Tùy theo đặc thù của loại hình đào tạo y khoa của các
nước trên thế giới, tại Việt Nam, chương trình huấn luyện kỹ năng của
Trường ĐHYDCT được hướng dẫn giảng dạy cho SV đến khi kết thúc năm
thứ 4 với các kỹ năng: kỹ năng hỏi bệnh, KNTK, kỹ năng thực hiện một thao
tác kỹ thuật, KNXN, các kỹ năng đóng vai trò quan trọng trong công việc
hàng ngày của một người bác sỹ [53]. Sau khi SV hoàn tất năm thứ 4, SV có
thể thực hiện trau dồi trong 2 năm cuối các kỹ năng trên bên cạnh việc học
cách điều trị bệnh của từng chuyên khoa khác nhau. Nhờ đó, người bệnh sẽ
cảm thấy an tâm hơn khi được SV thăm khám, hỏi bệnh và làm các thủ thuật
trên chính cơ thể mình và hiệu quả điều trị bệnh cũng tăng cao hơn. Sinh viên
chữa bệnh. Theo nghiên cứu của Mohammad và Cs năm 2008 tại Trường Đại
học khoa học-y khoa Tehran thì 70% SV cho rằng họ không được dạy đủ kỹ
năng lâm sàng cho việc thực hành bệnh viện sau này, chỉ 33,3% cho rằng họ
được trang bị đủ kiến thức và kỹ năng trước khi bước vào thực hành tại bệnh
viện [48]. Còn theo nghiên cứu của Lilach Eyal và Robert Cohen thì chỉ có
40% cho rằng không được trang bị đủ kỹ năng lâm sàng, 50% cho rằng đáp
ứng được 26/36 kỹ năng lâm sàng quan trọng và chỉ có 33% đồng ý rằng
được trang bị đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ và những giá trị cần thiết cho SV
y khoa chuẩn bị tốt nghiệp [37].
Tại Việt Nam, thời gian đào tạo y khoa kéo dài 6 năm áp dụng cho tất
cả các trường y khoa trong nước. Trong đó, các trường đào tạo y khoa áp
dụng chương trình cổ điển, giảng dạy theo từng môn học riêng biệt, ví dụ môn
Giải phẫu, sinh lý, sinh lý bệnh Trường ĐHYDCT áp dụng phương thức
giảng dạy của Trường Đại học Maaschtrict (Hà Lan) trong chương trình hợp
tác đào tạo giữa hai trường Đại học Cần Thơ và Đại học Maaschtrict từ năm
1995, chương trình đào tạo y khoa theo hệ cơ quan (block). Theo đó, SV sẽ
được học chi tiết nội dung của từng cơ quan, bao gồm từ cơ bản triệu chứng
học đến phức tạp về điều trị, phòng ngừa Theo phương thức giảng dạy mới 8
này, SV được học thêm chương trình HLKNYK phối hợp với nội dung lý
thuyết của từng block, những nội dung cần thiết cho SV trước khi thực hành
tại bệnh viện.
1.1.3. Đáp ứng chương trình huấn luyện kỹ năng y khoa
Đáp ứng là sự đáp lại theo đúng như đòi hỏi, yêu cầu [16].
Theo từ điển Lạc Việt: Đáp ứng là thỏa mãn sự đòi hỏi, yêu cầu [19].
Trong luận văn này này, đáp ứng với chương trình HLKNYK được
hiểu là sự đáp lại những đòi hỏi, yêu cầu đặc thù của chuyên môn trong lĩnh
tác giáo dục đại học muốn có sự thay đổi đòi hỏi phải được cải tạo, hoàn thiện
về nguồn nhân lực và vật lực. Điều này chưa thể hiện rõ trong công tác quản
lý giáo dục, nên có sự trì trệ trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy
và đánh giá chất lượng giáo dục và đào tạo, làm ảnh hưởng đến khả năng đáp
ứng của người được đào tạo.
Trong một thập niên trở lại đây, Đảng và Nhà nước đã có những đường
lối chủ trương chính xác, đúng đắn trong công tác giáo dục nói chung và
trong giáo dục đại học nói riêng. Ngân sách nhà nước, số lượng đào tạo, cơ sở
vật chất được đầu tư ngày càng nhiều nhằm đáp ứng nhu cầu đòi hỏi nguồn
lao động trình độ cao của nền kinh tế ngày càng phát triển [6],[11],[12
]. Điều
này được thể hiện qua một số văn bản sau: Nghị quyết số 37-2004/QH11 của
Quốc hội khoá XI thông qua ngày 3/12/2004 đã chỉ rõ "Lấy việc quản lý chất
lượng làm nhiệm vụ trọng tâm; thực hiện việc kiểm định chất lượng giáo dục
hàng năm". Ngày 02/8/2004 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành
Chỉ thị số 25/2004/CT-BGD&ĐT, trong đó yêu cầu các cấp quản lý giáo dục,
các trường đại học và cao đẳng trong toàn quốc "khẩn trương xây dựng và
hoàn thiện về tổ chức, bộ máy và triển khai hoạt động của hệ thống khảo thí
và kiểm định chất lượng giáo dục". 10
Vào ngày 2/12/2004, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết
định số 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ban hành Quy định tạm thời về kiểm định
chất lượng trường đại học [2]. Với quy định này, lần đầu tiên trong lịch sử
giáo dục của đất nước, Việt Nam đã có được một bộ tiêu chuẩn rõ ràng, minh
bạch, cơ bản xác định được các yêu cầu về chất lượng liên quan đến sứ mạng,
mục tiêu, cơ cấu, điều kiện nguồn lực, và các mặt hoạt động của một trường
đại học của Việt Nam.
lực của thị trường lao động. Tiêu chuẩn này, đòi hỏi người học không những
phải hoàn thành chương trình đào tạo của nhà trường mà còn đòi hỏi cơ sở
đào tạo phải tạo ra những cá nhân đáp ứng được với nhu cầu của xã hội.
Bộ GD-ĐT đã có chủ trương đổi mới giáo dục đại học (ĐH) Việt Nam
nhằm tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường, giúp các
trường tự đảm bảo và giải trình chất lượng trước xã hội, tạo sự cạnh tranh
giữa các trường để phát triển, chuyên nghiệp hóa công tác quản trị ĐH và xây
dựng năng lực xã hội mới cho các trường ĐH [2]. Chất lượng giáo dục được
quyết định bởi nhiều yếu tố, từ đội ngũ giảng dạy đến cơ sở vật chất, thiết bị,
chương trình đào tạo [4] Trong đó, đánh giá chương trình đào tạo phải là
một hoạt động quan trọng và thường xuyên trong các trường đại học [8],[13].
Các chương trình đào tạo đều được kiểm định để đảm bảo rằng nhà trường đã
đào tạo nguồn nhân lực có các kiến thức, kỹ năng và phẩm chất đạo đức đáp
ứng nguồn sử dụng lao động và đáp ứng các yêu cầu của các ngành nghề
trong xã hội [9]. Trong quá trình kiểm định chương trình thì các hoạt động và
tiến trình đánh giá chương trình đóng vai trò quan trọng cung cấp các bằng
chứng cần thiết cho việc kiểm định [14]. Chương trình được định nghĩa là một
loạt các hoạt động được thực hiện với sự hỗ trợ của các nguồn lực nhằm đạt
được những mục tiêu cụ thể cho các nhóm khách hàng đã được định sẵn.
Đánh giá chương trình là sự thu thập cẩn thận các thông tin về một chương
trình hoặc một vài khía cạnh của một chương trình để ra các quyết định cần 12
thiết đối với chương trình, bao gồm: đầu vào của chương trình, các hoạt động
thực hiện chương trình, các nhóm khách hàng sử dụng chương trình, các kết
quả (các đầu ra) và làm thế nào để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực [33].
Trong đánh giá về chương trình đào tạo, cần phải có sự khảo sát tình trạng
việc làm và đi học tiếp sau khi tốt nghiệp, mức độ nhà tuyển dụng hài lòng
viết "Bàn về nội hàm của chất lượng đào tạo đại học và sau đại học" cũng
thảo luận về mức độ đáp ứng của SV tốt nghiệp đối với thị trường lao động
là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng của các chương trình đào
tạo [12].
Trong các năm 2005 và 2007, Bộ GD-ĐT đã tổ chức hội thảo "Đào tạo
theo nhu cầu xã hội" nhằm tìm hiểu khả năng đáp ứng với yêu cầu thực tế
của SV tốt nghiệp [3]. Các báo cáo này nhấn mạnh đến tầm quan trọng của
việc đào tạo theo nhu cầu của xã hội, trước hết, giúp cho nền kinh tế có một
nguồn nhân lực có chất lượng cao, thứ hai là giảm được chi phí đào tạo lại,
tiết kiệm của cải cho xã hội. Các báo cáo cũng thống nhất là phải lấy ý kiến
đóng góp của nhà tuyển dụng trong quá trình xây dựng mục tiêu, nội dung
chương trình đào tạo [
18],[10].
Đào tạo y khoa là một lĩnh vực đặc thù chuyên về chăm sóc sức khỏe
con người. Tại Việt Nam, chương trình đào tạo y khoa được Bộ Giáo dục và
Đào tạo qui định chương trình khung và nội dung chính cho các trường trên
cả nước được giao nhiệm vụ đào tạo y khoa [1]. Thời gian đào tạo y khoa kéo
dài 6 năm. Theo chương trình đào tạo, các trường đào tạo y khoa áp dụng
chương trình cổ điển, giảng dạy theo từng môn học riêng biệt, ví dụ môn Giải
phẫu, Sinh lý, Sinh lý bệnh Trường ĐHYDCT áp dụng phương thức giảng
dạy của Trường Đại học Maaschtrict (Hà Lan) trong chương trình hợp tác
đào tạo giữa hai trường Đại học Cần Thơ và Đại học Maaschtrict từ năm
1995, chương trình đào tạo y khoa theo hệ cơ quan (block). Theo đó, SV sẽ
được học chi tiết nội dung của từng cơ quan, bao gồm từ cơ bản triệu chứng
học đến phức tạp về điều trị, phòng ngừa Theo phương thức giảng dạy mới
này, SV được học thêm chương trình HLKNYK phối hợp với nội dung lý
thuyết của từng block, những nội dung cần thiết cho SV trước khi thực hành 14
15
các kỹ năng đối với GV được cho là quan trọng, nhưng đối với bác sỹ khi
thực hành thì có thể không hoặc hiếm khi vận dụng kỹ năng đó [55].
Do đó, việc đánh giá mức độ đáp ứng của SV y khoa với chương trình
HLKNYK chưa được nghiên cứu nhiều, chủ yếu chỉ nghiên cứu về chương
trình kỹ năng y khoa, nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy-đánh giá
và nhu cầu học tập của SV đối với chương trình đào tạo. Việc nghiên cứu
mức độ đáp ứng chương trình HLKNYK đối với việc thực hành tại bệnh viện
sẽ giúp cho GV sẽ có cái nhìn tổng quát về việc ứng dụng của kỹ năng y khoa
trong thực hành chuyên môn tại bệnh viện. Luận văn hy vọng sẽ góp phần
thông tin đánh giá mức độ đáp ứng của chương trình HLKNYK đối với SV y
khoa đã hoàn thành chương trình kỹ năng và đang thực hành chuyên môn tại
bệnh viện. Điều này sẽ góp phần vào công tác điều chỉnh, xây dựng chương
trình đào tạo kỹ năng y khoa đáp ứng được yêu cầu thực tế của công
tác chăm sóc sức khỏe cho người bệnh tại bệnh viện.
1.2.2. Ngoài nước
Chương trình huấn luyện kỹ năng giảng dạy trong y khoa có nhiều
thuận lợi, đặc biệt là hướng dẫn sinh viên các kỹ năng thực hành tại bệnh viện
trong quá trình học lý thuyết tại giảng đường, các thuận lợi này bao gồm: 1)
Tránh việc sử dụng bệnh nhân như là phương tiện giảng dạy vì vậy tránh
được các bất tiện và các vấn đề liên quan đến đạo đức và luật pháp, nét văn
hóa trong cộng đồng đối với việc điều trị người bệnh; 2) Không phụ thuộc
vào môi trường bệnh viện về thời gian và có thể bố trí hình thức giảng dạy
thay thế hoặc qua băng hình. Môi trường thực tập giống bệnh viện hoặc ở nhà
giúp cho sinh viên có thể bắt chước và làm lại theo các phương pháp điều trị
mẫu của giảng viên; 3) Giảm sự căng thẳng của sinh viên và tăng sự an toàn
cho người bệnh. Theo Kenneth E. Williams sự căng thẳng có thể ảnh hưởng
tích cực đến việc học của sinh viên, giúp học học sâu hơn và toàn diện hơn,
17
khoa. Sự hài lòng về kỹ năng y khoa từ nội dung giảng đến cơ sở vật chất
phục vụ giảng dạy của sinh viên vừa kết thúc năm học thứ nhất về lâm sàng
được lấy ý kiến trong buổi khai giảng sớm vào tháng 6 năm 1992 cho thấy có
86% đồng ý về lý thuyết giảng dạy, 89% đồng ý về tính hiệu quả của phương
pháp giảng thực hành và 86% cho rằng có sự thống nhất giữa lý thuyết và
thực hành của kỹ năng. Đây chính là lý do khiến sinh viên tin tưởng về kết
quả đạt được từ đơn vị huấn luyện kỹ năng y khoa [42].
Những nghiên cứu này đã làm phong phú thêm kiến thức y khoa và các
phương tiện dùng cho chẩn đoán mà những SV thực tập và các nhà thực hành
lâm sàng đề cập đến việc cung cấp cho người bệnh sự chăm sóc sức khỏe tốt
nhất [37]. Để có được một đội ngũ cán bộ y tế có trình độ chuyên môn cao
trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho con người đòi hỏi cần phải có một
quá trình đào tạo thật nghiêm túc và chu đáo tại các trường đại học y khoa. Sự
đa dạng hóa các loại hình đào tạo, phương pháp đào tạo y khoa và ảnh hưởng
của sự chuyển biến nhiều và mạnh mẽ y học thế giới, việc đào tạo y khoa cần
phải có một sự đầu tư, cải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo để
góp phần phát triển những kỹ thuật, thành tựu khoa học trong lĩnh vực y tế.
Cũng trong thời gian này, tầm quan trọng của việc dạy kỹ năng lâm
sàng sớm vào trong chương trình đào tạo y khoa được chú trọng. Các phòng
dạy kỹ năng lâm sàng được thành lập không phải để thay thế việc dạy các
kinh nghiệm lâm sàng tại bệnh viện, các phòng học này cho phép người học
được thực hành sớm không những các kỹ năng thông thường mà còn bao gồm
các kỹ năng phức tạp, hạn chế gây đau và sự lúng túng trong các KNTT, trong
môi trường được giám sát và đúng quy cách. Các trung tâm huấn luyện kỹ
năng lâm sàng bổ sung môi trường được thiết lập để thuận tiện trong việc tiếp
xúc với bệnh nhân thật. Một chương trình huấn luyện kỹ năng chuẩn phải