ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO
VÀ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SỸ
(NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC) ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG VỀ KIẾN THỨC, KỸ NĂNG VÀ THÁI ĐỘ CỦA
CỬ NHÂN GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT-TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HÀ NỘI ĐỐI VỚI YÊU CẦU CỦA THỊ TRƢỜNG LAO ĐỘNG
Học viên: Đỗ Nghiêm Thanh Phƣơng
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Phƣơng Nga
Chuyên ngành: Đo lường và Đánh giá trong giáo dục
Khoá: 1 Hà Nội, 2009
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là phần nghiên cứu do tôi thực hiện.
Các số liệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này chƣa đƣợc công
bố ở các nghiên cứu khác.
Đỗ Nghiêm Thanh Phƣơng
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Nội dung
Viết tắt
1
Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐHQGHN
2
Đại học Sƣ phạm Hà Nội
ĐHSPHN
3
Giáo dục Đặc biệt
GDĐB
4
Trung tâm Đảm bảo chất lƣợng đào tạo và
Nghiên cứu phát triển giáo dục
CEQARD
5
Chậm phát triển Trí tuệ
CPTTT
6
Khó khăn về học
LD
7
Tăng động giảm chú ý
ADHD
8
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
12
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
12
1.2. Sự đáp ứng với công việc và mức độ đáp ứng về mặt kiến thức, kỹ năng
và thái độ của cử nhân GDĐB đối với yêu cầu của thị trƣờng lao động
24
CHƢƠNG 2. CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỦA KHOA GDĐB ,
TRƢỜNG ĐHSP HÀ NỘI VÀ CÁC CƠ SỞ LÀM VIỆC CỦA CỬ
NHÂN GDĐB
26
2.1. Giới thiệu chung về chƣơng trình đào tạo cử nhân GDĐB
26
2.2. Những kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp cần có
của cử nhân GDĐB
28
2.3. Giới thiệu chung về các cơ sở làm việc của cử nhân GDĐB
32
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG PHÁP LUẬN TRIỂN KHAI NGHIÊN CỨU
35
3.1. Khung lý thuyết của đề tài
35
3.2. Xây dựng công cụ đo lƣờng
36
3.3. Mẫu nghiên cứu
88
5.3. Các giải pháp đối với việc kiến tập và thực tập
94
5.4. Các giải pháp nhằm cải thiện công tác phục vụ học tập của sinh viên
96
PHẦN KẾT LUẬN
100
TÀI LIỆU THAM KHẢO
105
PHỤ LỤC
109 7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền
kinh tế xã hội, nền giáo dục nƣớc ta đã có những chuyển biến và có những
đóng góp tích cực trong sự phát triển đó. Trên bình diện chung của sự phát
triển giáo dục, giáo dục đại học có lẽ là lĩnh vực phát triển nhanh nhất, các
trƣờng đại học mở rộng quy mô, mô hình đào tạo và loại hình đào tạo, bên
cạnh đó, hàng loạt trƣờng đại học mới ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu về nhân
lực ngày càng lớn của xã hội.
Sự phát triển mạnh mẽ và rộng lớn của giáo dục đại học gắn liền yêu
cầu về việc nâng cao chất lƣợng đào tạo. Chất lƣợng đào tạo đại học hiện nay
chƣa bao giờ đƣợc quan tâm nhiều đến thế, từ định hƣớng của Đảng, nhà nƣớc
cho tới toàn xã hội. Nhìn ở khía cạnh nào đó, chất lƣợng đào tạo đại học đƣợc
thể hiện qua trình độ của ngƣời lao động đã đƣợc đào tạo trong trƣờng đại
học, họ có đáp ứng đƣợc các yêu cầu của các cơ sở nơi họ làm việc hay
không. Vấn đề này, trong suốt những năm qua, dù đã có những chuyển biến
bàn Hà nội” làm luận văn thạc sỹ Đo lƣờng và Đánh giá trong Giáo dục.
Kết quả mà luận văn này muốn hƣớng tới chính là xem xét thực tế hiện
nay, các cựu sinh viên của khoa GDĐB có đáp ứng đƣợc yêu cầu của các cơ
quan mà họ làm việc hay không, hay nói cách khác đó là sự kỳ vọng của
chƣơng trình đào tạo đối với sự thỏa mãn nhu cầu thực tế công việc của xã hội;
để từ đó Khoa có những điều chỉnh nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao nhất trong đào
tạo, đáp ứng đƣợc nhu cầu của xã hội về lao động trong ngành nghề này. 9
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá mức độ đáp ứng công việc của cử nhân GDĐB, trƣờng ĐHSP
Hà Nội đối với yêu cầu của thị trƣờng lao động thông qua việc nghiên cứu
đánh giá thực trạng về kiến thức, kỹ năng, thái độ của cử nhân GDĐB, để từ
đó đƣa ra những đề xuất và giải pháp nhằm điều chỉnh quy trình đào tạo,
chƣơng trình đào tạo và phƣơng pháp giảng dạy tại khoa GDĐB, trƣờng
ĐHSP Hà Nội.
3. Giới hạn nghiên cứu
Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đánh giá sản phẩm của đào tạo bao gồm rất nhiều mặt, trong khuôn khổ
nghiên cứu, luận văn chỉ hƣớng tới việc đánh giá tìm hiểu mức độ đáp ứng
công việc thông qua đánh giá về kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thái độ
nghề nghiệp của cử nhân GDĐB, chuyên ngành Giáo dục cho trẻ Chậm phát
triển trí tuệ (CPTTT), tốt nghiệp ĐHSP Hà Nội khóa 51, 54 và 55 khoa
GDĐB, trƣờng ĐHSP Hà Nội.
Giới hạn về khách thể và địa bàn nghiên cứu
Tiến hành Khảo sát thu thập thông tin đối với sinh viên khoa GDĐB, chuyên
ngành Giáo dục cho trẻ CPTTT, tốt nghiệp ĐHSP Hà Nội khóa 51, 54 và 55.
Khảo sát thu thập thông tin đối với nhà tuyển dụng là các cán bộ quản
lý các cấp đang công tác tại trƣờng ĐHSP Hà Nội, Cao đẳng Sƣ phạm Trung
giáo dục trẻ khuyết tật tại Hà Nội.
11
Khảo sát 150 Cán bộ quản lý là các nhà tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp
khoa GDĐB đang công tác tại trƣờng ĐHSP Hà Nội, CĐSPTƢ, Viện KHGD
và các trƣờng, trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật tại Hà Nội.
Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ tháng 03 năm 2009 đến tháng
12 năm 2009.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng hai phƣơng pháp nghiên cứu chính là định tính và định
lƣợng. Phƣơng pháp định lƣợng sử dụng công cụ là phiếu thu thập thông tin
và phƣơng pháp định tính sử dụng công cụ là các phiếu phỏng vấn nhằm lấy ý
kiến đánh giá của cán bộ quản lý và lấy ý kiến của cử nhân GDĐB tự đánh giá
mức độ đáp ứng đối với yêu cầu của thị trƣờng lao động và những đóng góp
của họ đối với chƣơng trình đào tạo giáo viên GDĐB của khoa GDĐB, trƣờng
ĐHSP Hà Nội.
Ngoài hai phuong pháp trên, luận văn cũng sử dụng phƣơng pháp hồi cứu
nhằm khái quát những vấn đề lý luận của đề tài và xây dựng những khái niệm
công cụ cho đánh giá.
12
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
1.1.1. Trong nước
Trong thời gian gần đây, đáp ứng các yêu cầu bức thiết của việc nâng
cao chất lƣợng giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các viện nghiên
cứu, các trƣờng đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ngoài việc tích
cực đẩy mạnh công tác kiểm định chất lƣợng còn tập trung nghiên cứu và
đánh giá chƣơng trình đào tạo, quy trình đào tạo, trong đó, việc đánh giá chất
mục tiêu và sự hợp lý của nội dung chƣơng trình đào tạo, với dự án trên là
chƣơng trình đào tạo Kinh tế ngoại thƣơng còn với luận văn này chƣơng trình
đào tạo GDĐB.
Năm 2005, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là cơ sở đào tạo đầu
tiên ở Việt Nam thí điểm áp dụng Bộ tiêu chuẩn đánh giá chƣơng trình đào
tạo trong khuôn khổ của Chƣơng trình Mạng lƣới các trƣờng đại học Đông
Nam Á – châu Âu (AUNP) để tổ chức cho 2 đơn vị trực thuộc viết báo cáo tự
đánh giá về 4 chƣơng trình đào tạo: Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên tự
đánh giá chất lƣợng 2 chƣơng trình đào tạo ngành Toán học (chƣơng trình
chuẩn và chƣơng trình dành cho sinh viên tài năng), Khoa Công nghệ tự đánh
giá chất lƣợng 2 chƣơng trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin (chƣơng
trình chuẩn và chƣơng trình chất lƣợng cao).
Trong 2 năm 2006-2007 các chuyên gia của Trung tâm Đảm bảo chất
lƣợng đào tạo và Nghiên cứu phát triển giáo dục thuộc ĐHQGHN dự thảo các
tiêu chuẩn kiểm định chất lƣợng chƣơng trình đào tạo trong các trƣờng đại
14
học thành viên và các khoa trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và ngày
30/11/2007 Giám đốc ĐHQGHN đã ký quyết định số 4447/QĐ-KĐCL ban
hành bộ “Tiêu chuẩn kiểm định chƣơng trình đào tạo” ở ĐHQGHN. Hiện đã
có 4 đơn vị trong ĐHQGHN đăng ký đánh giá chƣơng trình trong năm học
2008-2009 là Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên đánh giá chƣơng trình đào
tạo tài năng ngành Vật lý, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
đánh giá chƣơng trình chất lƣợng cao ngành Ngôn ngữ Trƣờng Đại học Ngoại
ngữ đánh giá chƣơng trình chất lƣợng cao ngành Tiếng Anh hệ Sƣ phạm và
Trƣờng Đại học Kinh tế đánh giá chƣơng trình chất lƣợng cao ngành Kinh tế
đối ngoại. Đồng thời, ĐHQGHN đã đăng ký kiểm định chất lƣợng theo tiêu
chuẩn kiểm định chất lƣợng của Mạng lƣới các trƣờng đại học Đông Nam Á
(AUN) để lấy chứng chỉ quốc tế đối với chƣơng trình đào tạo về Công nghệ
thông tin của Trƣờng Đại học Công nghệ.
rộng…), khả năng tiếp tục học cao hơn của sinh viên tốt nghiệp, sự hài lòng của
sinh viên với chất lƣợng giáo dục của nhà trƣờng, sự hài lòng của các nhà tuyển
dụng lao động với chất lƣợng giáo dục của nhà trƣờng.
Cụ thể hơn các nghiên cứu trên đây, trong đề tài “Các Giải pháp Cơ
bản nâng cao Chất lượng Giáo dục Đại học” do Trƣờng ĐHSP Thành phố
Hồ Chí Minh thực hiện năm 2007 nhằm thu thập các ý kiến về chất lƣợng của
giáo dục đại học Việt Nam, các nhà khoa học đã tập trung lấy ý kiến của các
nhà giáo dục, các tổ chức sử dụng lao động và ý kiến của sinh viên tốt nghiệp
về chất lƣợng của sản phẩm giáo dục đại học hiện nay là nhƣ thế nào và các
tiêu chí mà sinh viên tốt nghiệp cần phải có. Kết quả của đề tài cho thấy mức
độ hài lòng của các các nhà giáo dục, các tổ chức sử dụng lao động và sinh
viên tốt nghiệp về chất lƣợng sinh viên tốt nghiệp là không cao, hầu hết các
16
sinh viên tốt nghiệp sau khi đi làm việc các cơ quan sử dụng lao động đều
phải đào tạo lại. Đề tài cũng khái quát đƣợc những tiêu chí về kiến thức, kỹ
năng và phẩm chất mà một sinh viên tốt nghiệp cần phải có khi đi làm việc.
Tuy nhiên, những tiêu chí này là chung cho tất cả các ngành học, các chƣơng
trình đào tạo chứ chƣa đi vào cụ thể từng ngành học ra sao.
Bên cạnh các nghiên cứu đánh giá chất lƣợng sản phẩm của giáo dục
đại học là một tiêu chí để đánh giá hiệu quả của chƣơng trình đào tạo thì hiện
nay cũng có một số các nghiên cứu liên quan đến vấn đề mà luận văn đang
tiếp cận là đào tạo theo nhu cầu xã hội. Hƣớng nghiên cứu này đang là vấn đề
rất đƣợc quan tâm. Các nghiên cứu trình bày trong hội thảo quốc gia "Đào tạo
theo nhu cầu xã hội" do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức vào các năm 2005 và
2007 vào khả năng đáp ứng với yêu cầu thực tế của sinh viên tốt nghiệp. Tuy
nhiên, các tham luận này chỉ mang tính chất lý luận chứ trên thực tế chƣa có
bào cáo nào xuất phát từ những kết quả nghiên cứu thực tiễn. Các báo cáo này
nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc đào tạo theo nhu cầu của xã hội, trƣớc
hết, giúp cho nền kinh tế có một nguồn nhân lực có chất lƣợng cao, thứ hai là
Nhƣng trên thực tế, rất ít trƣờng đại học có bộ phận riêng chuyên trách dự báo
vấn đề này và công tác nghiên cứu, khảo sát thị trƣờng lao động cũng đƣợc
thực hiện rất hạn chế.
Cùng với những nghiên cứu đánh giá chất lƣợng đào tạo từ hƣớng tiếp
cận cựu sinh viên, Trƣờng đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh cũng
tiến hành thực hiện năm 2002, đánh giá tình hình giáo dục đại học của tổ chức
JBIC thực hiện năm 2003 hay khảo sát tình hình giáo dục đại học của Dự án
Giáo dục Đại học thực hiện các năm 1999, 2001 và 2005. Ngoài ra cũng có
một vài trƣờng đại học đã thực hiện các nghiên cứu theo hƣớng tiếp cận lấy ý
kiến của cựu sinh viên nhƣ trƣờng Đại học Hàng Hải, trƣờng Đại học Nông -
18
Lâm, trƣờng Cao đẳng Hoa Sen Thành phố Hồ Chí Minh, Trƣờng đại học thƣơng
mại. Điểm chung trong các nghiên cứu này là đều phục vụ cho việc đánh giá chất
lƣợng đào tạo của trƣờng và các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng.
Trong nghiên cứu ”Giáo dục đại học ở Việt Nam: Nhìn từ thị trường
lao động”, năm 2007, tác giả Phạm Thị Huyền, Giảng viên trƣờng Đại học
Kinh tế Quốc dân cho rằng giáo dục đại học Việt Nam hiện nay cung không
đáp ứng cầu cả về số lƣợng và chất lƣợng. Về số lƣợng, sự thiếu hụt nguồn
nhân lực đạt chuẩn ở hầu hết các ngành từ công nghệ thông tin đến các ngành
kinh tế nhƣ tài chính ngân hàng, marketing, du lịch hay đóng tàu. Về chất
lƣợng, có thể nói, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học đáp ứng đƣợc yêu cầu thực
tế công việc hiện tại là rất thấp. Nghiên cứu này cũng trích dẫn các nghiên cứu
của Ngân hàng thế giới là có tới 50% doanh nghiệp may mặc,hóa chất đánh
giá lao động đƣợc đào tạo không đáp ứng nhu cầu của mình. Khoảng 60% lao
động trẻ tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo cần đƣợc đào tạo lại ngay sau khi
tuyển dụng, cá biệt, lĩnh vực phần mềm cần đào tạo lại ít nhất 1 năm cho
80%-90% sinh viên tốt nghiệp đƣợc tuyển dụng. Không chỉ phải đào tạo lại về
chuyên môn nghiệp vụ, ngƣời sử dụng lao động còn phải huấn luyện cho nhân
viên cả thái độ làm việc, nhận thức về trách nhiệm và nghĩa vụ trong công
động là không nhiều. Đặc biệt là trong khối các trƣờng đại học, cao đẳng sƣ
phạm nói chung và các trƣờng có đào tạo cử nhân GDĐB nói riêng. Với
hƣớng nghiên cứu nhƣ đã đề cập ở trên, hy vọng Luận văn này sẽ góp
phần khái quát và cụ thể hóa mô hình đánh giá chất lƣợng sản phẩm đầu
ra trong lĩnh vực đào tạo cử nhân GDĐB - điểm mở đầu cho việc tiến tới
điều chỉnh, xây dựng chƣơng trình đào tạo đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tế
của các nhà tuyển dụng. 20
1.1.2. Ngoài nước
Việc đánh giá kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp
của cựu sinh viên đều diễn ra ở hầu hết các trƣờng đại học trên thế giới, đặc
biệt là ở Anh, Mỹ và Nhật Bản. Hƣớng đánh giá này của các trƣờng đại học
đƣợc tích hợp trong các khảo sát về tình trạng việc làm của sinh viên tốt
nghiệp và đánh giá chất lƣợng đầu ra của từng chƣơng trình nhằm mục đích
thứ nhất là để đánh giá và xếp loại các trƣờng đại học theo chuyên ngành đào
tạo và mục đích thứ hai là các trƣờng đại học có căn cứ để điều chỉnh chƣơng
trình đào tạo, quy trình đào tạo của mình.
Các nghiên cứu này có thể do các trƣờng đại học tự thực hiện và cũng
có thể do các tổ chức đánh giá chất lƣợng đào tạo, các tổ chức nghề nghiệp
thực hiện. Những nghiên cứu theo hƣớng này có thể kể đến cuộc điều tra
3000 cựu sinh viên do Trƣờng đại học Melbourne của Úc thực hiện năm 1999,
cuộc điều tra 6000 cựu sinh viên do Trƣờng đại học Michigan thực hiện năm
2001. Các khảo sát này cung cấp cho các trƣờng đại học một bức tranh tổng
thể về kiến thức, kỹ năng mà sinh viên cần phải có trong quá trình làm việc để
từ đó các trƣờng điều chỉnh các chƣơng trình đào tạo, nội dung đào tạo cho
phù hợp với yêu cầu của thị trƣờng lao động.
Gần với nội dung của đề tài hơn là các khảo sát tình trạng đi làm và
khảo sát chất lƣợng đầu ra của các cựu sinh viên tốt nghiệp khoa GDĐB hoặc
Mặt khác, cũng có rất nhiều phản hồi và đóng góp ý kiến cho việc nâng cao
chất lƣợng nội dung chƣơng trình đào tạo và chất lƣợng giảng dạy. Trƣớc hết
là những ý kiến đóng góp đối với nội dung chƣơng trình, hầu hết các ý kiến
đều cho rằng nội dung chƣơng trình là hợp lý song nên giảm bớt thời lƣợng
của các môn học liên quan đến trẻ khuyết tật trƣớc tuổi đến trƣờng và tăng
22
cƣờng thời lƣợng của các môn học liên quan đến giáo dục cho trẻ khuyết tật
nặng, nhẹ và vừa. Ý kiến đóng góp tiếp theo là liên quan đến quy trình đào
tạo, hầu hết ý kiến đều rất hài lòng với quy trình đào tạo tại Khoa, nhƣ việc tổ
chức lớp học, giờ học hợp lý, trang thiết bị đầy đủ, các giảng viên và nhân
viên phục vụ nhiệt tình, có kỹ năng tốt trong hƣớng dẫn và tổ chức cho sinh
viên thực hành, thực tập. Nghiên cứu này là cơ sở cho Luận văn thiết kế các
mẫu phiếu câu hỏi để khảo sát mức độ đáp ứng về kiến thức, kỹ năng và thái
độ chuyên môn của cử nhân GDĐB, khoa GDĐB, trƣờng ĐHSP Hà Nội đối
với yêu cầu của thị trƣờng lao động, song, do nội dung chƣơng trình đào tạo
của hai Khoa là khác nhau (khoa GDĐB của trƣờng Utar là đào tạo giáo viên
phục hồi chức năng và GDĐB, khoa GDĐB của trƣờng ĐHSP là chỉ đào tạo
giáo viên GDĐB) nên nội dung đánh giá câu hỏi thì khác nhau.
Một chƣơng trình khảo sát điển hình khác của việc đánh giá chất lƣợng
đầu ra là chƣơng trình khảo sát hàng năm của hiệp hội giáo viên Mỹ về chất
lƣợng chƣơng trình đào tạo giáo viên GDĐB. Chƣơng trình khảo sát này đánh
giá mƣời lĩnh vực kiến thức, kỹ năng mà giáo viên GDĐB cần phải có.
Chƣơng trình đã tập trung lấy ý kiến tự đánh giá của các 500 cựu sinh viên và
500 ý kiến đồng nghiệp cùng 350 ý kiến của cán bộ quản lý đánh giá về họ
nhƣ thế nào. Thông qua các khảo sát này, chƣơng trình này không nhằm vào
một khoa GDĐB của một trƣờng Đại học nào cụ thể mà xem xét sự đáp ứng
của giáo viên GDĐB nhƣ thế nào đối với cơ sở làm việc của họ để từ đó đƣa
ra những ý kiến đóng góp cho việc đào tạo giáo viên GDĐB ở các trƣờng đại
học để các trƣờng cần phải điều chỉnh chƣơng trình đào tạo của mình ra sao
quan đến trị liệu và thiết kế kế hoạch giáo dục các nhân là có mức độ đáp ứng
tốt nhất. Các ý kiến phản hồi hầu hết đều tập trung đến việc tăng cƣờng về
kiến thức và kỹ năng chẩn đoán, đánh giá trẻ khuyết tật. Nhƣ vậy, nghiên cứu
24
này cũng là một tronh những cơ sở để tác giả xây dựng khung nghiên cứu
cũng nhƣ phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn, song, với đặc thù của xã hội
Việt Nam và đặc điểm của GDĐB tác giả đã mạnh dạn thêm phần thái độ
chuyên môn của cử nhân GDĐB để khảo sát.
Trên đây là một số nghiên cứu điển hình ở nƣớc ngoài về đánh giá kiến
thức, kỹ năng và thái độ của cựu sinh viên tốt nghiệp ngành GDĐB cũng nhƣ
chất lƣợng chƣơng trình đào tạo cử nhân GDĐB của các trƣờng đại học trên
thế giới, đặc biệt là ở Mỹ. Có thể nói, hầu hết các khảo sát này đều đƣợc thực
hiện với mục đích đánh giá chất lƣợng đào tạo và sự phù hợp của sản phẩm
đầu ra với yêu cầu của thị trƣờng lao động. Tuy nhiên, các khảo sát này thực
chất là khảo sát ý kiến tự đánh giá của cựu sinh viên về kiến thức, kỹ năng và
thái độ của mình cũng nhƣ đánh giá của họ về chất lƣợng chƣơng trình đào
tạo chứ chƣa có nhiều các nghiên cứu đánh giá mức độ đáp ứng của cựu sinh
viên đứng từ góc độ của ngƣời tuyển dụng lao động. Đây chính là điểm chính
và khác biệt mà đề tài muốn khai thác nhằm đánh giá thực trạng nhu cầu của
thị trƣờng lao động về lĩnh vực GDĐB tại Việt Nam và những cơ sở nghiên
cứu, giáo dục, trị liệu, dạy trẻ khuyết tật cần những kiến thức, những kỹ năng,
thái độ nào ở những nhân viên làm việc cho họ để từ đó có những ý kiến đóng
góp cải thiện chƣơng trình đào tạo, mở rộng các lĩnh vực đào tạo của khoa
GDĐB, trƣờng ĐHSP nói riêng, các khoa GDĐB trong cả nƣớc nói chung.
1.2. Sự đáp ứng với công việc và mức độ đáp ứng về mặt kiến thức, kỹ năng và
thái độ của cử nhân GDĐB đối với yêu cầu của thị trường lao động
Đáp ứng là đáp lại theo đúng nhƣ đòi hỏi, yêu cầu (Trung tâm Từ điển
Vietlex, 2007: 123).
Trong nghiên cứu này, đáp ứng với công việc đƣợc hiểu là đáp lại