Quản lý xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ở các trường Trung học phổ thông huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN VĂN THUẦN QUẢN LÝ XÂY DỰNG TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN, HỌC
SINH TÍCH CỰC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG HUYỆN KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên nghành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 601405

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Hà Nhật Thăng
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên nghành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 601405

Học viên: Nguyễn Văn Thuần
Cao học quản lý giáo dục khoá 9(2009 – 2011)
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Hà Nhật Thăng

HÀ NỘI – 2011

115
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 5
3. Khách thể và đói tượng nghiên cứu 5
4. Giả thuyết khoa học 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 6
7. Phương pháp nghiên cứu 6
8. Cấu trúc luận văn 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ XÂY DỰNG
TRƢỜNG HỌC THÂN THIỆN, HỌC SINH TÍCH CỰC 8
1.1. Tổng quan của vấn đề nghiên cứu 8

HUYỆN KINH MÔN TỈNH HẢI DƢƠNG
40
2.1. Khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Kinh Môn tỉnh Hải
Dƣơng 40
2.1.1. Khái quát tình hình địa lý, kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội của huyện
Kinh Môn tỉnh Hải Dương 40
2.1.2. Định hướng phát triển KT-XH huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương 42
2.2. Khái quát tình hình phát triển giáo dục THPT huyện Kinh Môn tỉnh Hải
Dương 43
2.2.1. Quy mô số lượng và chất lượng các trường THPT huyện Kinh Môn tỉnh
Hải Dương 44
2.3. Thực trạng công tác quản lý xây dựng THTT, HSTC của hiệu trưởng các
trường THPT huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương 49
2.3.1. Thực trạng nhận thức về xây dựng THTT, HSTC của đội ngũ CBQL,
GV, NV, HS và CMHS 50
2.3.2. Thực trạng xây dựng THTT, HSTC của các trường THPT huyện Kinh
Môn tỉnh Hải Dương 51
Kết luận chương 2 64
CHƢƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ XÂY DỰNG TRƢỜNG HỌC
THÂN THIỆN, HỌC SINH TÍCH CỰC CỦA HIỆU TRƢỞNG CÁC
TRƢỜNG THPT HUYỆN KINH MÔN TỈNH HẢI DƢƠNG 67
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 67

117
3.1.1. Đảm bảo tính thực tiễn 67
3.1.2. Đảm bảo tính hiệu quả 67
3.1.3. Đảm bảo tính đồng bộ 68
3.1.4. Đảm bảo tính chất lượng bền vững 68
3.2. Các biện pháp quản lý xây dựng THTT, HSTC của hiệu trưởng các
trường THPT huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương 69

Bảng 2.4: Số lượng và trình độ đào tạo của đội ngũ GV ở các trường THPT
huyện Kinh Môn 46
Bảng 2.5: Chất lượng đội ngũ GV ở các trường THPT huyện Kinh Môn 47
Bảng 2.6: Tổng kinh phí đầu tư cho các trường THPT huyện Kinh Môn 48
Bảng 2.7: Nhận thức về sự cần thiết xây dựng THTT, HSTC 50
Bảng 2.8: Thực trạng CSVC phục vụ dạy và học năm học 2010-2011 52
Bảng 2.9: Thực trạng hoạt động dạy và học của GV và HS ở các trường
THPT huyện Kinh Môn 56
Bảng 2.10: Quan điểm để học tốt của HS các trường THPT huyện Kinh Môn
57
Hình ảnh 2.1: Hoạt động ngoại khoá nhằm giáo dục KNS 58
Hình ảnh 2.2: Ủng hộ, giúp đỡ trẻ em tàn tật 62
Hình ảnh 2.3: HS tham gia quét dọn di tích. 64
Sơ đồ 3.1. Mối quan hệ của các biện pháp 107
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 1098
Biểu đồ 3.1. Tính cần thiết và tính khả của các biện pháp 10909

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá, nước ta đang từng bước hội nhập quốc tế
trong nhiều lĩnh vực; nền kinh tế đang chuyển đổi cơ cấu biến nước ta từ một
nước nông nghiệp lạc hậu thành một quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế
nhanh chóng trong nhiều lĩnh vực, đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của
nhân dân được cải thiện Học sinh ngày nay được nuôi dưỡng và giáo dục tốt
hơn, các em có điều kiện tiếp xúc với các luồng văn hoá đa chiều với hệ thống
thông tin đa dạng, trí lực của các em phát triển nhanh, khả năng nhận thức tốt

chậm đổi mới, chậm hiện đại hoá; nhà trường chưa gắn chặt với đời sống xã
hội và lao động nghề nghiệp, chưa chú trọng phát huy tính sáng tạo, năng lực
thực hành của HS, sinh viên; thi cử còn nặng nề, tốn kém ” [1]
Trước kia, các nước đều xác định phát triển nguồn nhân lực là mục tiêu
giáo dục quan trọng nhất. Thời gian gần đây, mục tiêu GD của các nước đã có
sự thay đổi. Xu hướng các nước trên thế giới cải cách GD theo hướng tạo môi
trường học tập an toàn, chú trọng đến phát huy tiềm năng cá nhân HS, đến
tính sáng tạo, tính nhân văn. GD toàn diện song không quá nặng về thành tích
học tập hay nội dung hàn lâm như:
Luật GD Thái Lan quy định “GD nhằm mục đích phát triển toàn diện
con người: thể lực, tinh thần, trí tuệ, kiến thức, đạo đức và cách sống hoà hợp
với mọi người”.
Ở Trung Quốc “Các nhà cải cách đang tìm cách khắc phục tính thiếu
sáng tạo của học sinh, sự quá chú trọng đến thi cử, kiểm tra, học vẹt thay vì
vận dụng kiến thức, và sự xa rời giữa việc học tập ở nhà trường với thực tế

3
cuộc sống”. Ở Nhật Bản - Kế hoạch cải cách GD cho thế kỷ 21 (2001) Kế
hoạch cầu vồng - 7 ưu tiên.
- Nâng cao hiệu quả học tập của HS- thông qua sáng kiến “Một môi trường
học tập mới cho thế hệ mới” - Sử dụng IT và quy mô HS/ lớp nhỏ.
- Trau dồi HS trở thành những người cởi mở, nhiệt huyết thông qua các hoạt
động cộng đồng.
- Cải thiện môi trường học tập, làm cho việc đến trường trở thành niềm vui,
niềm hạnh phúc.
- Làm cho nhà trường trở thành địa điểm tin cậy đối với phụ huynh và cộng
đồng.
- Đào tạo giáo viên trở thành những “chuyên gia” về GD.
- Xây dựng các trường Đại học đạt chuẩn quốc tế.
- Hình thành triết lý GD phù hợp với kỷ nguyên mới.

nước trên thế giới, thực tiễn gần 10 năm thực hiện các dự án (Trường tiểu học
bạn hữu, GD kỹ năng sống khoẻ mạnh, mô hình trường học thân thiện ở 50
trường THCS từ năm 2006-2007, ), theo nghiên cứu nhu cầu thực tiễn của
phát triển GD Việt Nam, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã trực tiếp phát động phong
trào thi đua xây dựng THTT-HSTC trong nhà trường phổ thông. Do đó, ngày
22/7/2008 Phó thủ tướng - Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành chỉ thị số
40/2008/ CT- BGD&ĐT phát động phong trào thi đua "Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực" và kế hoạch số 307/ KH - BGD&ĐT để triển
khai thực hiện phong trào này nhằm tạo nên một môi trường giáo dục (cả về
vật chất lẫn tinh thần) an toàn, bình đẳng, tạo hứng thú cho HS trong học tập,
góp phần đảm bảo quyền được đi học và học hết cấp của HS, nâng cao chất

5
lượng giáo dục toàn diện trên cơ sở tập trung mọi nỗ lực của nhà trường vì
người học. Đây cũng là chủ đề trọng tâm của năm học 2010-2011.
Trong cuộc vận động xây dựng THTT-HSTC vai trò của người Hiệu
trưởng - con chim đầu đàn trong đội ngũ nhà giáo, tấm gương về đạo đức, tự
học và sáng tạo có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chính vì vậy đề tài nghiên cứu
của chúng tôi là "Quản lý xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực ở các trường THPT huyÖn kinh m«n- tỉnh H¶i D-¬ng".
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất biện pháp quản lý xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực của Hiệu trưởng các trường THPT ở kuyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ở các
trường THPT khu vực huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực
của Hiệu Trưởng các trường THPT

7.2.3. Phương pháp chuyên gia
7.3.Phƣơng pháp sử lý thông tin (dùng toán thống kê và phần mềm tin học )
8. Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý xây dựng THTT-HSTC ở
các trường THPT.

7
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý xây dựng THTT-HSTC ở các trường
THPT khu vùc huyÖn Kinh M«n, tØnh H¶i D-¬ng.
Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý xây dựng THTT-HSTC ở các trường
THPT khu vùc huyÖn Kinh M«n, tØnh H¶i D-¬ng.
Kết luận và khuyến nghị.
Tài liệu tham khảo.
Phụ lục.

ngày trẻ em đến trường là một ngày vui. Trường học thân thiện gắn bó chặt
chẽ với việc phát huy tính tích cực của HS. Trong môi trường phát triển toàn
diện đó, HS học tập hứng thú, chủ động tìm hiểu kiến thức dưới sự dìu dắt
của người thầy, gắn chặt giữa học và hành, biết thư giãn khoa học, rèn luyện

9
kỹ năng và phương pháp học tập, trong đó những yếu tố hết sức quan trọng là
khả năng tự tìm hiểu, khám phá, sáng tạo.
Trường học thân thiện là một mô hình trường học do Quỹ nhi đồng liên
hợp quốc (UNICEF) đề xướng xây dựng và triển khai từ vài thập kỷ nay ở
nhiều nước trên thế giới trong bối cảnh tăng cường vận động các quốc gia
thực hiện tốt Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và thực hiện
Tuyên ngôn giáo dục cho mọi người thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ. Thuật
ngữ hệ thống giáo dục thân thiện và trường học thân thiện cho trẻ xuất hiện
trên diễn đàn của UNICEF từ năm 1999. Từ đó có nhiều bài viết, nhiều hội
thảo cho chủ đề này đều xuất phát từ “Công ước quyền trẻ em”, “Tuyên ngôn
giáo dục cho mọi người” và “Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ”. Chúng thống
nhất trong khung phương pháp luận như sau:
“Trường học thân thiện tiếp cận trên cơ sở tôn trọng quyền trẻ em, đảm bảo
cho HS khoẻ mạnh, hài lòng với việc học tập, được các giáo viên nhiệt tình dạy
dỗ cùng với sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng để các em có thể phát triển hết
tiềm năng của mình trong một môi trường an toàn và đầy đủ dinh dưỡng.
Trường học thân thiện thực hiện giáo dục theo tính tổng thể về chất lượng.
Yếu tố thân thiện trong trường học thể hiện ở việc động viên, khuyến
khích HS, GV và các đối tượng liên quan tham gia xây dựng môi trường giáo
dục với tình thương yêu và trách nhiệm nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục
của nhà trường”.
Giáo dục Việt Nam tiếp cận vấn đề trường học thân thiện từ sự bắt nhập
với ý tưởng của thế giới và xuất phát từ chính vấn đề của sự nghiệp đổi mới
giáo dục của đất nước.

anh chị em phục vụ cho nhà trường. Các anh chị em nhân viên thì nên thi đua
sao cho cơm lành canh ngon để học sinh ăn no học tốt”.

11
Từ năm học 2000-2001 nhiều dự án cho một môi trường GD thân thiện
đã được triển khai thực hiện, như dự án trường Tiểu học bạn hữu, Giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh THCS; Mô hình trường THCS thân thiện… Các
chương trình xây dựng CSVC trường học như chương trình kiên cố hoá
trường lớp học, xây dựng trường chuẩn quốc gia; cuộc vận động hai không
với bốn nội dung trong đó nhấn mạnh yêu cầu “mỗi thầy cô giáo là một tấm
gương về đạo đức, tự học, sáng tạo” do Bộ GD&ĐT phát động và triển khai
đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong quá trình đổi mới giáo dục, góp
phần lập lại trật tự, nền nếp, kỷ cương và nâng cao chất lượng giáo dục. Đây
chính là cơ sở để chúng ta tiếp tục đẩy lên thành một phong trào rộng khắp
trong toàn ngành về xây dựng trường học thân thiện, với mục đích đạt được là
học sinh yêu trường, coi trường học thật sự là gần gũi, thân thiết, an toàn, hạnh
phúc, học sinh ham muốn học tập, “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.
Tại các trường THPT huyÖn Kinh M«n mặc dù các Hiệu trưởng rất quan
tâm, đã coi vấn đề này là quan trọng và cần thiết, nhưng lại chưa có những đề
xuất các giải pháp hiệu quả, cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế ở từng
trường, việc triển khai phong trào còn gặp nhiều lúng túng. Chính vì vậy,
chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu, áp dụng những biện pháp cụ thể của Hiệu
trưởng nhằm xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ở các trường
THPT là rất cần thiết, góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển giáo dục của
huyÖn Kinh M«n nói riêng và của tỉnh H¶i D-¬ng nói chung.
1.2. Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài
1.2.1. Nhà trường
Từ cội nguồn lịch sử, người ta đã đưa ra định nghĩa về nhà trường như sau:
“Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, thực hiện chức năng
kiến tạo các kinh nghiệm XH cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định của


13
triển khoa học - công nghệ, của cuộc cách mạng thông tin. Thực ra dự báo
như vậy, do căn cứ trên cách hiểu truyền thống về nhà trường chứ không dựa
vào chức năng xã hội hàng đầu của nó, đó là biến đổi và phát triển con người
thành một thực thể XH: xã hội hoá con người là điều vĩnh cửu do “ xét
trong tính hiện thực của mình, bản chất con người là tổng hoà các mối quan
hệ xã hội” (Các Mác). Môi trường tối ưu để thực hiện xã hội hoá nhân cách
đang phát triển của trẻ em chính là nhà trường, dù trong tương lai khoa học -
công nghệ, đặc biệt công nghệ thông tin phát triển mạnh đến đâu, quá trình đó
có thể có những thay đổi nhất định, nhưng dẫu thế nào, đó vẫn là một quá
trình tất yếu và chỉ có thể được thực hiện chủ yếu ở nhà trường. Hơn nữa, GD
là một hiện tượng vĩnh hằng thì nhà trường cũng sẽ tồn tại mãi cho dù khái
niệm nhà trường sẽ được đa dạng hoá. Mặc dầu vậy, nhà trường vẫn có những
chức năng cơ bản : chức năng tạo nguồn nhân lực phát triển kinh tế xã hội;
chức năng chính trị; chức năng văn hoá; chức năng giáo dục về đoàn kết và
hợp tác quốc tế.
1.2.2. Quản lý
Khi sự phân công lao động xã hội xuất hiện và phát triển sâu rộng thì sự
liên kết giữa con người cá thể với nhau ngày càng cao, con người cá thể một
mặt vừa có khả năng tự chủ, mặt khác mối liên hệ cá thể thành hệ thống xã
hội ngày càng lớn mà cá thể không thể đứng ngoài hệ thống đó. Hoạt động
quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác hoạt động. Như vậy, quản lý là
một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện
mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn,
từ đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội hoá càng cao, yêu cầu quản lý càng cao
và vai trò của nó tăng lên. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý:
Frederik Winslon Taylo (1856-1915), người Mỹ được coi là “cha đẻ của
thuyết quản lý khoa học”, là một trong những người mở ra “kỷ nguyên vàng”


trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn
lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một
cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” và “Quản lý
một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của
hệ nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến”. [19]
Tuy có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý song bản chất của
khái niệm quản lý có thể hiểu là: Sự tác động có định hướng, có chủ định của
chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo
mục tiêu đề ra và tiến tới trạng thái chất lượng mới.
1.2.3. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.3.1. Quản lý giáo dục
Khoa học quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản lý
nói chung đồng thời cũng là bộ phận của khoa học giáo dục, nhưng là một
khoa học tương đối độc lập.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm quản lý GD là khái niệm
đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ GD quốc gia, quản lý các phân hệ của nó, đặc
biệt là quản lý trường học)
“Quản lý GD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và
nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN
Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa
GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. [20]
Theo GS Phạm Minh Hạc: “Quản lý GD là tổ chức các hoạt động dạy
học. Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất
của nhà trường phổ thông Việt Nam XHCN, mới quản lý được GD, tức là cụ
thể hoá đường lối GD của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp
ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước”. [22]

16
Quản lý GD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể

trường như chỉ dẫn của hội đồng GD hay các quyết định của cơ quan quản lý cấp
cao hơn. Tác động quản lý của CTQL bên trong nhà trường như các hoạt động
quản lý GV, quản lý HS, quản lý quá trình dạy học - giáo dục, quản lý CSVC, tài
chính của trường học, quản lý mối quan hệ giữa nhà trường với cộng đồng.
Như vậy, quản lý nhà trường thực chất là QLGD trong phạm vi một nhà
trường. Quản lý trường phổ thông thực chất và trọng tâm là quản lý quá trình
đào tạo, nó bao gồm các nhân tố: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, quản lý
lực lượng đào tạo (thầy), đối tượng đào tạo (trò) và quản lý các nhân tố khác
như: Điều kiện, hình thức, quy chế đào tạo, bộ máy, môi trường GD. [7] Hiệu
trưởng
BM
MT

- Thu hút 100% trẻ em đến tuổi học thuộc địa bàn phục vụ của trường được đi
học và học đến nơi đến chốn (nghĩa là thực hiện tốt phổ cập GD bậc tiểu học
và THCS). Trường phải đảm bảo cho mọi HS đều bình đẳng về quyền lợi
(đồng thời là nghĩa vụ) học tập, không phân biệt giàu nghèo, giới tính, tôn
giáo, ngôn ngữ, văn hoá, dân tộc, vùng miền, tình trạng thể chất (kể cả các em
không may bị khuyết tật ).
- Nhà trường phải phấn đấu trở thành trung tâm văn hoá, giáo dục ở địa
phương. Phải gương mẫu trong việc gìn giữ môi trường tự nhiên và môi

19
trường xã hội ở địa phương. Từ đó, địa phương sẽ đồng thuận, đồng lòng,
đồng sức tham gia xây dựng nhà trường, xây dựng quan hệ tốt đẹp .
- Một nội dung trọng tâm về trường học thân thiện với địa phương mà Bộ đề
ra: Mỗi trường học là địa chỉ nhận chăm sóc công trình văn hoá, lịch sử ở địa
phương, và tích cực chăm lo xây dựng các công trình công cộng, trồng cây,
chăm sóc cho đường phố, ngõ xóm sạch sẽ. (Ngoài 5 khu di tích lịch sử mà
Bộ chọn ra để chăm sóc chung).
2. Thân thiện trong tập thể sư phạm với nhau. Điều này rất quan trọng, vì nó
là “cái lõi” để thân thiện với mọi đối tượng khác. Tại đây, vai trò của Hiệu
trưởng, của lãnh đạo tổ chức Đảng và các đoàn thể là cực kỳ quan trọng.
Muốn vậy, trong quan hệ quản lý, phải thực thi dân chủ, phải thực hiện bằng
được quy chế dân chủ ở cơ sở. Trong quan hệ tài chính, phải trong sáng, công
khai, minh bạch đối với mọi thành viên trong nhà trường. Về mặt tâm lý, phải
thực sự tôn trọng lẫn nhau, từ nhân viên bảo vệ, lao công đến Hiệu trưởng.
Không thể có thân thiện nếu trong trường mất dân chủ, bất bình đẳng, thiếu
tôn trọng lẫn nhau, Hiệu trưởng hoạch sách hay quá hơn là mạt sát nhân viên
dưới quyền. Cũng không thể có thân thiện nếu mọi khoản thu chi trong nhà
trường cứ mập mờ không rõ ràng.
3. Thân thiện giữa tập thể sư phạm, nhất là các thầy cô với các em HS. Thầy
cô cùng các bộ phận khác trong nhà trường đều hoạt động theo phương châm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status