ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TÔ THỊ PHƢƠNG LAN
QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC
TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Khánh Đức
HÀ NỘI – 2011
MỤC LỤC
9
1.2.3. Quản lý giáo dục
11
1.2.4. Nhà trường và quản lý trường đại học
11
1.2.5. Đào tạo và quản lý đào tạo
15
1.3. Cơ sở pháp lý về công tác đào tạo hệ vừa làm vừa học bậc đại học
19
1.3.1. Hệ vừa làm vừa học
19
1.3.2. Những đặc điểm của hệ đào tạo vừa làm vừa học
22
1.3.3. Quy chế đào tạo hệ vừa làm vừa học
24
1.3.4. Phân cấp trong quản lí đào tạo hệ vừa làm vừa học
24
1.3.5. Quản lý đào tạo hệ VLVH ở trường đại học
25
Tiểu kết chương 1
30
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM
VỪA HỌC TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC
31
2.1. Một vài nét về trường Đại học Điện lực
31
2.1.1 Cơ cấu tổ chức
32
2.1.2. Qui mô đào tạo
LÀM VỪA HỌC Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC
68
3.1. Định hướng và các yêu cầu phát triển đào tạo hệ vừa làm vừa học
của trường ĐHĐL
68
3.1.1. Định hướng phát triển hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học
Điện lực
68
3.1.2.Các yêu cầu quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở Trường Đại học
Điện lực trong giai đoạn mới
69
3.2. Những nguyên tắc đề xuất biện pháp
69
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính cần thiết
70
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
70
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ
70
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả
70
3.3. Một số biện pháp quản lý hệ vừa làm vừa học ở trường ĐHĐL
71
3.3.1. Hoàn thiện quy trình tuyển sinh
71
3.3.2. Hoàn thiện quy chế quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học
87
TÀI LIỆU THAM KHẢO
88
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCHTW : Ban chấp hành Trung ương
BGH : Ban Giám hiệu
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
CHXHCNVN : Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
CNH : Công nghiệp hóa
CSVC : Cơ sở vật chất
CTHSSV : Công tác học sinh sinh viên
ĐA : Đồ án
ĐHĐL : Đại học Điện lực
ĐTTC : Đào tạo tại chức
EVN : Vietnam Electricity
GD : Giáo dục
HĐH : Hiện đại hoá
LGD : Luật giáo dục
GD-ĐT : Giáo dục đào tạo
GDĐH : Giáo dục đại học
GV : Giảng viên
GS : Giáo sư
KH : Khoa học
KHHT : Kế hoạch học tập
KLTN : Khoá luận tốt nghiệp
NQTW : Nghị quyết Trung ương
phải tổ chức và quản lý việc học tập và giảng dạy của hệ VLVH để đạt hiệu
quả cao và đáp ứng được nhu cầu xã hội.
Trường Đại học Điện lực là một trường Đại học công lập, trực thuộc
Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã thực hiện chủ trương đa dạng hoá các loại
hình đào tạo và đã có những thành tựu đáng ghi nhận trong việc phát triển qui
mô, ngành nghề, loại hình đào tạo. Tỷ lệ thuận với sự gia tăng về số lượng
sinh viên các hệ đào tạo chính qui là sinh viên hệ VLVH. Hiện nay các hình
thức đào tạo hệ VLVH rất đa dạng, đã đóng góp phần quan trọng trong việc
nâng cao dân trí và đáp ứng được phần nào nhu cầu học tập của người lao
động và của toàn xã hội. Tuy nhiên hiện nay cũng còn nhiều ý kiến tranh
luận về chất lượng của loại hình đào tạo này. Rất cần thiết phải có những đề
tài nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực quản lý giáo dục để đề xuất những
giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của hệ vừa làm vừa học – một trong
những hệ đào tạo mà số lượng học viên đang theo học chiếm một tỷ trọng
không nhỏ trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trong thời gian vừa qua tuy đã
có nhiều công trình nghiên cứu, luận văn thạc sĩ về quản lý đào tạo ở các
trường đại học song chưa có luận văn nào nghiên cứu sâu vấn đề quản lý đào
tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Đại học Điện lực.
Xuất phát từ những lí do trên tôi lựa chọn đề tài: "Quản lý đào tạo hệ
vừa làm vừa học tại trường Đại học Điện lực" với hy vọng đóng góp một
phần nhỏ bé vào việc đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng
đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Điện lực đáp ứng yêu cầu ngày
càng cao của ngành điện nói riêng và của toàn xã hội nói chung, thực hiện tốt
nhất nhiệm vụ của nhà trường mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng quản lý đào tạo hệ
vừa làm vừa học ở trường Đại học Điện lực, đề xuất một số biện pháp quản lý
nhằm bảo đảm chất lượng và góp phần từng bước nâng cao chất lượng đào tạo
hệ vừa làm vừa học của Nhà trường.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý đào tạo hệ vừa làm
vừa học
Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường
Đại học Điện lực
Chương 3: Một số biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở
trường Đại học Điện lực
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và của toàn dân.
Theo luật giáo dục, đào tạo vừa làm vừa học là bao gồm: “Các chương
trình xóa mù chữ và tiếp tục sau khi biết chữ; đào tạo bổ sung, tu nghiệp
định kỳ, bồi dưỡng nâng cao trình độ cập nhật kiến thức, kỹ năng; các
chương trình để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức
vừa làm vừa học ”.
Con người không phải lúc nào cũng sống bình yên với những kiến thức
đã học trong cuộc đời, từ những đòi hỏi của cuộc sống, họ luôn có nhu cầu bổ
sung kiến thức. Với các hình thức học tập khác nhau, học tập suốt đời có một
vai trò rất quan trọng. Xây dựng một xã hội học tập là điều mà Chính phủ Việt
Nam quan tâm và hướng tới. Tuy nhiên, hình thức học tập vừa làm vừa học
(không chính quy) này hiện nay đang bị xem nhẹ và nhiều người coi đó là
“chiếu dưới” của học tập chính quy. Điều này có nhiều nguyên nhân nhưng
nguyên nhân chủ yếu là do chất lượng đầu ra của sản phẩm tức là người học.
Tại sao chất lượng của sinh viên hệ vừa làm vừa học lại kém hơn sinh viên hệ
chính quy và biện pháp nào để thay đổi cách nhìn của mọi người đối với hình
thức vừa làm vừa học? Câu hỏi này đã đươc nhiều nhà nghiên cứu có tâm
huyết với nền giáo dục đề cập đến cũng như được nghiên cứu trong các luận
văn tốt nghiệp, có thể kể đến như:
- Một số biện pháp đổi mới quản lý công tác liên kết đào tạo tại chức ở
trung tâm giáo dục thường xuyên Hải Phòng, Đỗ Văn Hạ, 2003.
- Tổ chức hoạt động liên kết giữa khoa tại chức trường Đại học Bách
khoa Hà Nội với các cơ sở đào tạo ngoài trường nhằm nâng cao chất lượng
đào tạo trong bối cảnh hiện nay, Võ Khánh Can, 2006.
- Hoàn thiện quy trình Đào tạo cử nhân hệ Tại chức ở Học viện Báo chí
và Tuyên truyền - Luận văn Thạc sĩ khóa 2004-2006 của Phạm Trung Kiên –
Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
- Thực trạng và một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức
đào tạo hệ tại chức trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN, Hà Văn Lợi, 1999.
chức bằng cách đặt ra các mục tiêu hoàn chỉnh các mục tiêu cần phải đặt, là
lựa chọn, sử dụng các phương tiện nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
- Theo quan điểm triết học: quản lý được xem như một quá trình liên
kết thống nhất giữa chủ quan và khách quan để đạt mục tiêu nào đó.
- Theo quan điểm chính trị xã hội, người ta cho rằng: “Quản lý là sự tác
động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức
quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã
hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các
phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho
sự phát triển của đối tượng” [10, tr. 7]
- Theo quan điểm hệ thống: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định
hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả
nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong
điều kiện biến đổi của môi trường” [23, tr. 43]
- Theo giáo sư Hà Thế Ngữ, giáo sư Đặng Vũ Hoạt: Quản lý là một quá
trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới
của hệ thống mà người quản lý mong muốn. [16,tr. 17]
Như vậy, tùy theo cách tiếp cận và quan điểm khác nhau, người ta có
thể nêu ra những khái niệm về quản lý khác nhau nhưng hiểu theo nghĩa
chung nhất ta có thể định nghĩa như sau: Quản lý là sự tác động có định
hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý thông qua việc lập kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức và kiểm tra các
hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đinh.
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người
quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm đạt
mục tiêu chung. Bản chất đó có thể được thể hiện ở mô hình sau:
Mô hình 1.1: Mô hình về quản lý
quản lý
Khách thể
quản lý
Công cụ, PP
quản lý
Mục tiêu
quản lý
Kế hoạch
Kiểm tra
Tổ chức
Chỉ đạo
Thông tin (Nguồn: Trần Khánh Đức. Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ
XXI, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009.
Trên đây là bốn chức năng quản lý chung nhất mà bất kỳ chủ thể quản
lý nào cũng phải thực hiện, chúng kế tiếp nhau và độc lập tương đối với nhau.
Tập hợp các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý. Đặc
biệt trong mọi quá trình quản lý, người quản lý phải thực hiện một dãy chức
năng kế tiếp nhau một cách logic, bắt buộc, bắt đầu từ việc xác định mục tiêu
và nhiệm vụ quản lý cho tới khi kiểm kê các kết quả đạt được và tổng kết các
quá trình quản lý. Trên cơ sở phân tích các kết quả đạt được người quản lý lại
đưa ra các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý mới. Quá trình này được diễn ra một
cách “tuần hoàn” và có thể gọi đó là chu trình quản lý. Trong chu trình quản lý
có sự tham gia của hai yếu tố vô cùng quan trọng đó là thông tin và quyết
định. Trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng
thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo.
1.2.3. Quản lý giáo dục
- Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của bộ máy quản lý giáo dục
dung giáo dục được chọn lọc và sắp xếp hệ thống, với những phương pháp
giáo dục cơ sở khoa học và thực tiễn, với những nhà sư phạm đã được trang bị
đầy đủ về kiến thức khoa học và phẩm chất đạo đức.
Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc gia, ở
đó vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp tiến hành quá trình
giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục. Nhà
trường là một tổ chức giáo dục chuyên nghiệp, có nội dung chương trình, có
phương tiện và phương pháp hiện đại, có đội ngũ các nhà sư phạm được đào
tạo chu đáo thực hiện. Nhà trường là môi trường giáo dục thuận lợi, có một
tập thể học sinh cùng nhau rèn luyện.
Khái quát lại: Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp thực
hiện mục tiêu đào tạo, giáo dục nhân cách cho người học bằng việc truyền đạt
tri thức, kinh nghiệm của nhân loại cho thế hệ kế tiếp.
Theo cách tiếp cận hệ thống, nhà trường là một bộ phận hay hệ thống
con, phân hệ của hệ thống xã hội. Đến lượt mình, hệ thống con đó cũng tự nó
là một hệ thống của hệ thống xã hội. Vì vậy, nhà trường là một hệ thống xã
hội với các thành tố:
+ Thành tố con người bao gồm: trước hết là hai thành viên cơ bản là
người dạy và người học, kế đó là đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ, nhân
viên giúp việc,…
+ Thành tố vật chất của nhà trường bao gồm: các cơ sở trường lớp,
trang thiết bị đồ dùng phục vụ giảng dạy và học tập, sách giáo khoa, tài liệu
tham khảo,…
+ Thành tố ý thức, tinh thần: là toàn bộ tri thức, kỹ năng, thái độ mà xã
hội đã tích luỹ được, tái tạo được và phát triển trong nhà trường thông qua
hoạt động dạy và học; là hệ tư tưởng chỉ đạo, là quan điểm đường lối phát
triển giáo dục, thể hiện ở đường lối chính sách giáo dục của Đảng và Nhà
nước; là tinh thần nghề nghiệp, lương tâm nhà giáo.
+ Thành tố quá trình: là quá trình cơ bản, phản ánh bản chất của nhà
trường, tạo nên sự khác biệt của nhà trường với các tổ chức khác trong xã hội;
đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng;
+ Tổ chức bộ máy nhà trường, tuyển dụng, quản lý, sử dụng đãi ngộ nhà
giáo, cán bộ, nhân viên;
+ Huy động quản lý, sử dụng các nguồn lực.
+ Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hoá, thể dục thể thao,
y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài theo quy định của
Chỉnh phủ.
Quản lý trường đại học là tác động có hướng đích của chủ thể quản lý
(Lãnh đạo nhà trường, các phòng ban chức năng) lên đối tượng quản lý (Sinh
viên, giảng viên, cán bộ công nhân viên) với các nội dung quản lý (Kế hoạch,
chương trình, nội dung, biện pháp…) dựa vào các công cụ và các phương
pháp quản lý nhằm đạt được các mục tiêu mà nhà trường hướng tới.
Quản lý trường đại học hướng vào các lĩnh vực sau:
+ Quản lý các hoạt động giáo dục như: Tuyển sinh, quản lý người học,
tổ chức giảng dạy học tập theo mục tiêu chương trình giáo dục để cấp văn
bằng hoặc chứng chỉ; Tuyển dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên tham
gia vào các hoạt động của nhà trường; Huy động quản lý, sử dụng các nguồn
lực theo quy định của pháp luật; Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự
kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền.
+ Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng phát triển và
chuyển giao công nghệ, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các lực lượng trong và
ngoài nhà trường đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và địa
phương.
+ Quản lý cơ sở vật chất và các nguồn lực làm cho nhà trường vận hành
và phát triển theo qui định của pháp luật.
1.2.5. Đào tạo và quản lý đào tạo
1.2.5.1. Khái niệm về đào tạo
“Đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện để trở thành người có hiểu biết, có nghề
nghiệp.” [22, tr. 248]
Hay nói cách khác đào tạo là truyền thụ một cách có hệ thống những
Nhiệm vụ của quá trình đào tạo là: dạy người, dạy nghề và dạy phương
pháp với ba mục tiêu tương ứng, đó là: Thái độ, kiến thức và kỹ năng. Trong
thực tế, ba chức năng được thực hiện với mức độ ít nhiều khác nhau tùy theo
tính chất và nội dung của từng giai đoạn trong quá trình đào tạo nhưng bao
giờ cũng phải có sự quản lý và tổ chức thực hiện để đảm bảo chất lượng của
quá trình đào tạo.
Các thành tố và mối liên hệ của chúng trong mô hình quản lý đào tạo
của nhà trường. Mô hình quản lý đào tạo trong nhà trường bao gồm 4 thành
tố: Đầu vào, quá trình đào tạo, đầu ra và thị trường lao động (Hình vẽ).
Mô hình 1.2. Mô hình quản lý đào tạo
Tác giả: Nguyễn Đức Trí. Quản lý quá trình đào tạo, Viện chiến lược và
chương trình giáo dục, Hà Nội, 2002.
- Chúng ta có thể phân chia quá trình đào tạo gồm 3 giai đoạn sau:
Tuyển sinh, đào tạo, theo dõi sau đào tạo. Trong đó mỗi giai đoạn lại bao gồm
nghiệp;
Quá trình dạy
và học
Giảng viên,
sinh viên
Kết quả
đào tạo Người tốt
nghiệp với:
- Kiến thức;
- Kỹ năng;
- Thái độ;
- Thói quen;
- Kinh nghiệm.
Đánh giá/
lựa chọn
- Phát triển
chương trình;
- Lựa chọn hình
viên, sinh viên trong việc thực hiện kế hoạch và nội dung chương trình đào
tạo của nhà trường”.
Quản lý quá trình đào tạo bao gồm các công việc chủ yếu sau:
+ Quản lý mục tiêu, nội dung đào tạo: là quản lý việc xây dựng mục
tiêu, nội dung đào tạo, kế hoạch và nội dung chương trình giảng dạy, quản lý
quá trình đào tạo thực tế của giảng viên và sinh viên sao cho các kế hoạch đào
tạo, nội dung chương trình giảng dạy được thực hiện một cách đầy đủ và quán
triệt được các yêu cầu của mục tiêu đào tạo.
+ Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên: là quản lý việc thực hiện
các nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ giảng viên, các phương pháp, nội dung
giảng dạy trong quá trình đào tạo.
+ Quản lý hoạt động học tập của sinh viên: là quản lý việc thực hiện các
nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của sinh viên.
+ Quản lý chất lượng đào tạo: là việc phát hiện kịp thời các nguyên
nhân dẫn đến tình trạng yếu kém, đề ra các biện pháp khắc phục nhằm đảm
bảo được chất lượng đào tạo theo yêu cầu.
+ Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo:
Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo chính là quản lý các hoạt
động cụ thể do lãnh đạo nhà trường trực tiếp chỉ đạo các phòng ban chức
năng thực hiện theo quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy do Bộ
Giáo dục và đào tạo ban hành cùng những quy định của nhà trường. Quản lý
hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo bao gồm các công việc: Quản lý
công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện thường xuyên và định
kỳ; quản lý việc tổ chức thi kết thúc học phần, môn học; quản lý việc tổ chức
thi tốt nghiệp.
Quản lý quá trình đào tạo đòi hỏi các cán bộ quản lý nói chung, các bộ
phận quản lý quá trình đào tạo nói riêng và giảng viên phải có sự hiểu biết
đúng đắn và đầy đủ các vấn đề về bản chất nêu trên của quá trình đào tạo cũng
như phải hiểu rõ cơ chế, các mối quan hệ cơ bản của quá trình đào tạo trong sự
chi phối của nhiều yếu tố khách quan tác động lên quá trình đó.
tập, do đó những vấn đề về cơ cấu hệ thống giáo dục cần được xem xét xuất
phát từ yêu cầu hiện nay về xu thế giáo dục và đào tạo trong các thập kỷ tới đó
là quan hệ giữa hệ thống giáo dục và hệ thống đào tạo trong xã hội học tập ở
nước ta.
Hệ VLVH ở một trường đại học là sự thực hiện của trường đại học
đó đối với chủ trương xây dựng một xã hội học tập.