Đại học quốc gia Hà Nội
TRNG I HC GIO DC
Bùi Việt Phú
tổ chức giáo dục h-ớng nghiệp
Cho học sinh trung học phổ thông
theo tinh thần xã hội hoá
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 62.14.05.01
Luận án Tiến sĩ QUảN Lý Giáo dục Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:
1. GS.TS. Phạm Tất Dong
2. PGS.TS. Đặng Xuân Hải
Luận án Tiến sĩ QUảN Lý Giáo dục
Hà Nội, 2009
1
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
1
Danh mục các cụm từ viết tắt
4
Danh mục các bảng, sơ đồ, biểu đồ
5
Mở đầu
6
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận tổ chức GDHN cho học sinh THPT
theo tinh thần xã hội hoá
1.3.5. Hướng nghiệp gắn với quá trình dạy học phân ban hiện nay
50
1.4. Tổ chức giáo GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH
51 2
1.4.1. Thiết kế cơ cấu tổ chức GDHN theo tinh thần XHH
51
1.4.2. Bảo đảm các nguồn lực cho GDHN theo tinh thần XHH
54
1.4.3. Hình thức tổ chức GDHN cho HS THPT theo tinh thần XHH
56
* Tổng kết chương 1
57
Chƣơng 2. Cơ sở thực tiễn về GDHN và tổ chức GDHN cho học
sinh THPT theo tinh thần XHH
2.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội trong những năm qua
59
2.1.1. Hội nhập Quốc tế và trong khu vực
59
2.1.2. Sự chuyển đổi nền KT kế hoạch hóa sang nền KT thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa
60
2.1.3. Tác động của sự chuyển dịch cơ cấu KT và cơ cấu lao động
62
2.2. Thực trạng về GDHN theo tinh thần xã hội hoá ở nước ta trong
những năm qua
66
3
3.2.3. Nhóm giải pháp về Cung ứng nhân lực
109
3.2.4. Nhóm giải pháp về Cung ứng vật lực, tài lực
112
3.2.5. Nhóm giải pháp về Tổ chức cơ chế phối hợp
116
3.3. Mối quan hệ giữa các nhóm giải pháp
125
3.4. Tổ chức thử nghiệm một số nhóm giải pháp
126
3.4.1. Mục đích
126
3.4.2. Nội dung
126
3.4.3. Nhận xét về quá trình thử nghiệm 3 nhóm giải pháp
136
* Tổng kết chương 3
138
* Kết luận
140
* Khuyến nghị
142
* Danh mục các công trình khoa học của tác giả có liên quan đến đề tài
nghiên cứu
143
* Danh mục tài liệu tham khảo
144
* Phụ lục
KT-XH Kinh tế xã hội
KHCN Khoa học công nghệ
KTTH-HN Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp
KTTH-HN-DN Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp - dạy nghề
MT Mục tiêu
LĐSX Lao động sản xuất
QĐ Quyết định
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TW Trung ương
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
VN Việt Nam
XH Xã hội
XHCN Xã hội chủ nghĩa
XHH Xã hội hoá
XHHGD Xã hội hoá công tác giáo dục
XHHGDHN Xã hội hoá giáo dục hướng nghiệp 5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1: Tổng hợp kết quả điều tra 4 con đường GDHN
66
Bảng 2: Số lượng GV dạy CN & HN một số tỉnh
68
Bảng 3: Số trường, số HS học nghề trong những năm qua
75
Bảng 4: Số lượng trung tâm KTTHHN từ 1980 – 2006
75
124
Sơ đồ 7: Mối quan hệ giữa các giải pháp
125
Biểu đồ 1: Số HS các trường dạy nghề giai đoạn 2000 - 2006
65
Biểu đồ 2: Số HS trong các trường THCN giai đoạn 1999 - 2006
65
6
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Sự phát triển vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ (KH-CN)
hiện đại và sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) ở nước ta
đã đặt ra những yêu cầu cao về chất lượng nguồn nhân lực trong những năm
tới, nhất là nguồn nhân lực cần cho quá trình tiếp cận với kinh tế (KT) tri thức.
Nền KT này đã và đang làm tăng xu thế hội nhập và cạnh tranh trên thị trường,
đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa thâm nhập vào các quốc gia. Vì vậy, công
tác hướng nghiệp (HN) theo quyết định 126/CP đã có một số điểm không còn
phù hợp với sự phát triển KT- XH hiện nay và giai đoạn sắp tới.
Hầu hết các nước có nền công nghiệp phát triển đều khẳng định tinh
thần công nghệ học trong HN. Mặt khác, ngày nay người ta đã đề cao năng
lực thích ứng với nhiều nghề và chuẩn bị cho con người có đầy đủ khả
năng để di chuyển nghề một cách linh hoạt theo sự chuyển dịch cơ cấu lao
động trong thời kỳ CNH - HĐH.
1.2. Giáo dục hướng nghiệp (GDHN) cho học sinh phổ thông (HSPT)
là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng ta quan tâm hiện nay.
Ngày 19 tháng 3 năm 1981, Hội đồng Chính phủ đã ban hành quyết định
Trong nhiều năm qua, công tác GDHN cho học sinh trung học phổ
thông (THPT) có nhiều cố gắng và có những đóng góp nhất định, góp phần
vào việc định hướng nghề nghiệp cho HSPT và đào tạo nguồn nhân lực
phục vụ sự phát triển KT-XH của đất nước và từng địa phương. Nhưng sau
đó công tác tổ chức GDHN cho HSPT không được các cấp QLGD và các
trường học quan tâm đúng mức, nhiều địa phương và trường học chưa
nghiêm chỉnh thực hiện đầy đủ các nội dung GDHN, chất lượng GDHN
chưa đáp ứng yêu cầu của HS và XH, HSPT cuối các cấp học và bậc học
chưa được chuẩn bị chu đáo để lựa chọn nghề nghiệp, lựa chọn ngành học
phù hợp với bản thân và yêu cầu của XH. Hàng năm cả nước có gần một
triệu HS tốt nghiệp THPT và Bổ túc THPT đăng ký dự thi ĐH, CĐ, TC;
trong số đó có trên 40% được tuyển, số còn lại đi đâu và làm việc gì
đang là một câu hỏi quan trọng đặt ra cho các cấp QLGD nói riêng và
của toàn XH nói chung. 8
Xu thế muốn thi vào các trường đại học (ĐH) mà không muốn vào các
trường nghề đã tạo nên một cuộc chạy đua vào ĐH, dẫn đến tình trạng tách
rời giữa học với hành, giữa lý thuyết với thực tiễn; vai trò của GDHN bị coi
nhẹ, nhiều trường không còn quan tâm đến việc tổ chức GDHN cho HS; cơ
sở vật chất (CSVC), đội ngũ cán bộ chuyên trách, giáo viên (GV) làm công
tác HN không được quan tâm đúng mức. Coi nhẹ GDHN trong nhà trường PT
là một biểu hiện lạc hậu của hệ thống GD nước ta so với các nước có nền công
nghiệp phát triển.
Việc huy động các lực lượng XH tham gia tổ chức GDHN cho HSPT
chưa được các cấp quan tâm; các hình thức tổ chức GDHN chưa phù hợp
với yêu cầu mới đặt ra; việc sử dụng và khai thác các nguồn nhân lực - vật
lực - tài lực còn ít hiệu quả.
Để đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sự phát triển
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Tổ chức GDHN ở trường THPT đang còn nhiều vấn đề bất cập về nội
dung, phương thức tổ chức thực hiện. Nếu nhà trường thực hiện đồng bộ các
nhóm giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá
như: tổ chức nhận thức, tổ chức nội dung, cung ứng nhân lực, cung ứng vật
lực, tài lực và tổ chức cơ chế phối hợp GDHN thì sẽ góp phần nâng cao hiệu
quả GDHN cho học sinh THPT, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực
cho sự phát triển của đất nước.
5. NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Xây dựng cơ sở lý luận tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo
tinh thần XHH.
+ Khảo sát, đánh giá thực trạng GDHN và tổ chức GDHN cho HSPT
theo tinh thần XHH.
+ Đề xuất các giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh
thần xã hội hoá.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Luận án nghiên cứu về tổ chức GDHN cho HS THPT
theo tinh thần XHH trong phạm vi cấp tỉnh và cấp trường THPT. 10
+ Về địa bàn: Do điều kiện có hạn nên chúng tôi tiến hành khảo sát
thực trạng ở 21 trường THPT và 14 trung tâm KTTH-HN thuộc 2 tỉnh
Quảng Trị và Hà Tĩnh, là những địa phương đã có một thời gian làm tốt
công tác GDHN cho học sinh phổ thông theo tinh thần XHH; đồng thời là
hai tỉnh có nền công nghiệp chưa phát triển nên có nhiều vấn đề về nguồn
nhân lực cần được quan tâm.
Phần thử nghiệm được thực hiện ở 6 trường THPT tỉnh Quảng Trị
và thành phố Đà Nẵng năm học 2005 -2006.
đề có liên quan đến phần khảo sát , đối chứng và thử nghiệm.
+ Tổng kết kinh nghiệm
- Tổng kết kinh nghiệm việc tổ chức GDHN cho học sinh THPT
công lập và ngoài công lập.
- Thu thập và tổng hợp kết quả các báo cáo khoa học; khái quát những
kinh nghiệm thực tế từ các công trình nghiên cứu ở các trường THPT; các
trung tâm KTTH-HN và các cơ sở giáo dục có liên quan đến đề tài.
+ Khảo nghiệm và thử nghiệm: Khảo nghiệm và thử nghiệm một số
giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT ở tỉnh Quảng Trị và thành phố
Đà Nẵng. Kết quả thử nghiệm được tổng kết, nhận định về mức độ cần thiết và
tính khả thi của các giải pháp.
+ Trƣng cầu ý kiến chuyên gia: Lấy ý kiến chuyên gia về một số
vấn đề có liên quan đến luận án.
+ Phƣơng pháp so sánh
7. NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
7.1. Vai trò quan trọng của GDHN trong việc chuẩn bị nguồn nhân
lực đáp ứng các yêu cầu của sự phát triển KT-XH
7.2. Công tác hướng nghiệp cần có sự tham gia của các lực lượng xã
hội, một mình trường PT không thể đảm nhiêm công việc này.
7.3. Chỉ ra những bất cập trong GDHN cho HS THPT trong thời gian
qua. Nguyên nhân của những bất cập đó chủ yếu thuộc về phương thức tổ
chức GDHN của các cấp quản lý trong hệ thống giáo dục quốc dân. 12
7.4. Tính hợp lý và khả thi của các giải pháp tổ chức GDHN cho học
sinh THPT theo tinh thần XHH.
8. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
8.1. Đề tài góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về GDHN; xã
hội hoá trong giáo dục và tổ chức GDHN theo tinh thần XHH ở cấp THPT.
GDHN qua dạy môn Công nghệ; coi trọng việc chuẩn bị cho HS tâm lý sẵn
sàng đi vào lao động. Việc đưa bộ môn công nghệ vào trường học được thể
hiện rõ nhất trong công trình khoa học "Những vấn đề nội dung giáo dục
trong nhà trường Pháp" .
Nhiều công trình khoa học của các tác giả ở viện nghiên cứu
Quốc gia về lao động và hướng nghiệp Paris: Anne Lancry-Hoest Landt
[123; 5-22]; Resgis Ouvrier-Bonnaz [65; 49-68] ; Rene-Pierre Halter
[65; 38-48], đã giới thiệu một cách chi tiết, linh động mô hình GDHN ở
Pháp và châu Âu xét từ góc độ lý thuyết và kinh nghiệm được rút ra từ
hàng trăm năm nay. Các tác giả đã nhấn mạnh đến môi trường học
đường, thị trường lao động, vai trò to lớn của các trung tâm HN trong
công tác tổ chức GDHN cho HS và thanh, thiếu niên; trong đó các tổ
chức xã hội đã có nhiều đóng góp trong việc phối hợp với nhà trường và
các trung tâm trong việc tổ chức GDHN.
Ở Nga, nhiều nhà khoa học nổi tiếng đã phát triển lý luận về GDHN.
Trong đó phải kể đến N.K.Krupxkaia, A.V.Lunasatsky, M.I.Kalinin, 14
N.O.Blonxkii, P.R.Atutov là những nhà khoa học có nhiều đóng góp quan
trọng trong lĩnh vực giáo dục lao động kỹ thuật tổng hợp (LĐKT-TH) trong
những năm 70 của thế kỷ XX. Các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu ý tưởng
"học tập kết hợp với lao động sản xuất" để hình thành nhân cách toàn diện
cho học sinh. Những ý tưởng đó có giá trị lớn cả về chính trị lẫn kinh tế.
N.K.Krupxkaia đã phát triển nguyên lý GDKT-TH của V.I.Lênin. Bà
nhấn mạnh nguyên lý này phải được quán triệt vào các môn học của nhà
trường và giữa các môn học với nhau phải có sự quan hệ mật thiết, liên hệ
với hoạt động thực tiễn, nhất là đối với học môn kỹ thuật (nay là công
nghệ). Sau N.K.Krupxkaia, M.N.Xcatkin trong cuốn sách "Hoàn thiện quá
trình dạy học" đã khẳng định: cần phải thực hiện sao cho học tập lý thuyết
thuật (LĐ&KT) thời Xô Viết mà đến 1992 – 1993 vẫn duy trì.
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng trong những thời điểm lịch
sử khác nhau dù thực hiện chương trình LĐ&KT hay công nghệ thì mục
đích chung của GDHN vẫn là chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống để
đáp ứng với yêu cầu công nghệ hiện đại và sự phát triển của XH.
Trung Quốc rất chú trọng đến GDHN cho học sinh, học sinh được
học môn lao động kỹ thuật ngay từ bậc tiểu học. Mục tiêu chủ yếu của bộ
môn này ở bậc tiểu học là GD ý thức, thái độ lao động cho HS và cung cấp
cho HS một số kiến thức, kỹ năng tối thiểu. Ở cấp THCS và THPT, học
sinh được học môn kỹ thuật lao động và được thực hành ngay trong trường
học một số nội dung như chế biến, gia công đồ gỗ, kim loại, lắp ráp điện,
điện tử, các nghề thủ công truyền thống. Học sinh được tham gia lao động
tại địa phương và các nhà máy, cơ sở sản xuất dịch vụ. Các cơ sở này đã
trực tiếp tham gia cùng với nhà trường GDHN cho học sinh PT.
Môn kỹ thuật lao động trở thành bắt buộc trong hệ thống trường
THCS và THPT, nhằm giúp học sinh có được kiến thức, kỹ năng và khả
năng ứng dụng công nghệ vào cuộc sống. Trong các trường PT, bộ phận
chuyên môn làm công tác tâm lý và tư vấn nghề cho HS, giúp các em khắc 16
phục trở ngại về tâm lý trong quá trình học tập và định hướng chọn ngành
nghề phù hợp với năng lực bản thân và thị trường lao động. Đặc biệt giáo
dục nghề nghiệp đã được đưa vào loại hình trường THPT có dạy nghề khá
sớm. Học sinh vừa được trang bị học vấn PT và có kỹ năng cần thiết để có
thể học lên bậc đại học hoặc ra làm việc theo ngành nghề được đào tạo ngay
từ khi còn học PT. Việc đưa GD nghề nghiệp vào trường PT vừa đáp ứng
nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của xã hội, vừa góp phần quan trọng vào
việc phân luồng học sinh THCS và THPT.
Tại Hoa Kỳ, chương trình “giáo dục nghề nghiệp” đã được đưa vào các
được kế hoạch hóa để giúp HS đưa ra những quyết định về việc lựa chọn có
tính HN sau khi học xong bậc phổ thông. Các nhà khoa học đã nghiên cứu
và đưa ra 4 nhiệm vụ của HSPT ở các trung tâm hướng nghiệp Úc; 4 nhiệm
vụ này có mối quan hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau:
- Học về bản thân trong mối quan hệ với lao động: GDHN-LN đảm
bảo cho HS được hiểu biết nhiều hơn về khả năng, thái độ của bản thân đối
với các công việc, đối với lao động và về những ảnh hưởng của gia đình, bè
bạn, cộng đồng đối với sự phát triển các khả năng và thái độ đó khi lựa
chọn phương hướng lập nghiệp và tham gia thế giới việc làm.
- Học về thế giới việc làm: GDHN-LN bảo đảm cho học sinh có cơ
sở để tự quyết định về lập nghiệp qua sự tìm tòi, phân tích các vai trò lao
động và sự đóng góp của lao động.
- Học và làm kế hoạch và ra quyết định về HN, lập nghiệp.
- Ứng dụng những quyết định về HN- lập nghiệp và quản lý sự
chuyển dịch sang lao động.
Allan Walker trong công trình khoa học "Một số vấn đề về quản lý
giáo dục ở Australia" đã chỉ ra: "Nhà trường hiện nay không chỉ là nơi dạy
lý thuyết, mà phải cung cấp cho học sinh một khả năng chuyển đổi thật 18
nhanh và có sự bình đẳng giữa các học sinh, làm cho học sinh vừa có kỹ
năng lao động, vừa có tri thức" [7; tr 53].
Theo tác giả Magumi Nishino thuộc viện nghiên cứu giáo dục Nhật,
HS trung học phải được bồi dưỡng kỹ năng lao động cơ bản của ngành
nghề: "Bồi dưỡng tri thức và kỹ năng cơ bản của những ngành nghề cần
thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và khả năng lựa
chọn ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân" [85; tr 49].
Trong những năm 50 của thế kỷ XX, Nhật đã quan tâm đến vấn đề
hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kỹ thuật, cung cấp tri thức, rèn
Tóm lại, giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và GDHN cho HSPT trên thế
giới là xu thế chung được nhiều nước quan tâm, đây là một nội dung quan
trọng trong GDHN cho HS. Tuỳ theo yêu cầu và mục tiêu giáo dục phổ thông
của từng nước mà mức độ, nội dung và phương pháp tiến hành khác nhau.
Nhưng tất cả đều nhằm một mục tiêu chung là cung cấp cho học sinh tri thức
khoa học cơ bản và tạo cho HS những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống.
Các công trình khoa học của các tác giả ở một số nước trên thế giới
về GDHN trong trường PT đều đã chú trọng đến việc cải cách mục tiêu, nội
dung, phương pháp, cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho công tác HN,
nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này trong nhà trường và làm tốt công
tác phân luồng học sinh. Trên thực tế, việc huy động các tổ chức xã hội
tham gia vào công tác GDHN ở nhiều nước trên thế giới đã được nghiên
cứu và tổ chức thực hiện khá tốt.
Xu thế hiện tại của các nước trên thế giới đều coi trọng việc dạy môn
công nghệ ở trường phổ thông và đưa HS tham quan hoặc trực tiếp lao động
tại các nhà máy, xí nghiệp có sự quản lý của nhà trường, đưa lao động gắn
liền với giáo dục công nghệ để tiến hành GDHN.
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng xu hướng chung là các
nước công nghiệp có nền kinh tế phát triển cao hay đang chuyển đổi đều 20
rất coi trọng GDHN cho HSPT như một hoạt động chuẩn bị tạo nguồn
nhân lực mới để học sinh tiếp cận sớm thế giới nghề, với tổ chức nền kinh
tế hiện đại dựa vào tri thức được thực hiện thông qua mọi hoạt động
GDHN, các môn học khoa học và nhất là môn công nghệ học với tính chất
tích hợp, liên môn, GD văn hoá công nghệ. Các tổ chức chính trị xã hội,
nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong công tác phối hợp với nhà
trường PT để tổ chức HN cho HS.
1.1.2. Ở Việt Nam
tác GDHN trong trường PT, đưa ra một số nhận xét về thực trạng công tác
GDHN trong những năm qua và đề xuất một số nội dung cần quán triệt để nâng
cao hiệu quả công tác GDHN trong giai đoạn hiện nay như: "Giáo dục lao động
- kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp trong trường phổ thông" và "Nhà trường
phổ thông với việc giáo dục KTTH-HN và dạy nghề" của tác giả Nguyễn Trọng
Bảo [15 - 16]; "Vấn đề giáo dục nghề trong trường phổ thông" và "Giáo dục lao
động - kỹ thuật nghề nghiệp ở các cấp học của bậc THPT và những vấn đề cấp
bách cần giải quyết" của tác giả Đoàn Chi [25]; "Hướng nghiệp trong trường
phổ thông" của tác giả Đặng Danh Ánh [3]; "Một số giải pháp nâng cao chất
lượng giáo dục kỹ thuật và HN ở trường THCS và THPT trong thời gian tới"
[92] của tác giả Nguyễn Viết Sự; “Về công tác hướng nghiệp trong trường PT
hiện nay” của Nguyễn Toàn
Tác giả Nguyễn Văn Hộ với các công trình khoa học: "Thiết lập và
phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam" (1988), “Cơ sở
sư phạm của công tác HN trong trường phổ thông”, “Hoạt động GDHN và
giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT”(2006), [60-61-62] đã nhấn mạnh
việc hình thành các luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp phổ thông trong
điều kiện phát triển KT-XH của đất nước và đề xuất một số hình thức phối
hợp giữa nhà trường phổ thông với các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất
trong việc hướng nghiệp - dạy nghề cho học sinh phổ thông. 22
Các công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Tất Dong về "Vấn đề
hướng nghiệp trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IX" và
"Định hướng giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT" [29-30], ngoài
những vấn đề lý luận chung về hướng nghiệp, tác giả đã làm nổi bật vai trò
quan trọng của công tác hướng nghiệp đối với việc phát triển nguồn nhân lực ở
Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2010 nhằm đào tạo nguồn lao động chất
lượng cao theo kịp sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phục vụ sự nghiệp CNH -
của các tác giả Nguyễn Văn Lê, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Bùi Văn
Quân [78 - 79 - 80] đã đi sâu tìm hiểu về giáo dục phổ thông và GDHN trên thế
giới, đồng thời đã phân tích, nhận định và rút ra một số kinh nghiệm quý báu
cho GDPT và GDHN ở Việt Nam, tiến tới xây dựng khái niệm HN và đề xuất
nhiều giải pháp có tính khả thi đối với GDPT và GDHN ở nước ta trong thời
gian chuẩn bị nguồn nhân lực đi vào CNH - HĐH đất nước.
Trong nhiều công trình khoa học khác như: “Một số giải pháp nâng
cao chất lượng giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp ở trường THCS và THPT
trong giai đoạn tới”; "Về giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp trong giáo dục
phổ thông ở nước ta thời gian tới"; và "Một số giải pháp nâng cao chất lượng
giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp ở trường phổ thông" [92 - 93 - 94], Nguyễn
Viết Sự đã xây dựng cơ sở phương pháp luận về GDKT&HN, đề xuất một số
giải pháp nhằm tăng cường giáo dục GDHN cho HSPT.
Tác giả Nguyễn Đức Trí với “Một số vấn đề về hướng nghiệp”; “Giáo
dục hướng nghiệp trong trường phổ thông vấn đề và định hướng giải pháp”
[112 - 113], đã nêu lên thực trạng của giáo dục Việt Nam là:
“Cầu việc làm lớn hơn rất nhiều so với cung việc làm”.
“Cầu học lớn hơn nhiều so với cung học”.
“Quy mô đào tạo nghề tăng nhưng chưa có tư vấn chọn nghề phù
hợp, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền rất bất hợp lý, chất lượng nghề
thấp dẫn tới tình trạng vừa thừa vừa thiếu”.