LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám đốc, Phòng đào tạo,
Văn phòng khoa giáo dục, các thầy cô giáo trong hội đồng khoa học trường
Học Viện Quản Lý Giáo Dục đã giảng dạy, tạo điều kiện và quan tâm giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới :
Các đồng lãnh đạo, ban giám hiệu cùng toàn thể các thầy cô trong hội
đồng sư phạm, các bậc phụ huynh, toàn thể các em học sinh trường THPT
Nguyễn Văn Huyên. Cùng gia đình, bạn bè tạo điều kiện thuận lợi và động
viên chia sé giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học và khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn kính trọng tới Thạc sỹ Lê Thị Loan, cô đã
tận tình trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực
hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Trong quá trình nghiên cứu mặc dù rất cố gắng xong còn nhiều hạn chế
về thời gian, phương pháp nghiên cứu, năng lực bản thân nên không tránh
khỏi sai sót. Kính mong sự góp ý của các thầy cô và các bạn.
Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thị Huyền
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BGD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
CĐ Cao đẳng
ĐH Đại học
HS Học sinh
SV Sinh viên
THPT Trung học phổ thông
PPGD Phương pháp giáo dục
DHDA Dạy học dự án
TCCN Trung cấp chuyên nghiệp
PP Phương pháp
THCN Trung học chuyên nghiệp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN VĂN
HUYÊN - ĐỐNG ĐA - HÀ NỘI 38
2.1. Khái quát về trường THPT Nguyễn Văn Huyên - Đống Đa – Hà Nội 38
2.2. Thực trạng đổi mới phương pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp THPT Nguyễn
Văn Huyên 40
2.2.1. Thực trạng về nhận thức trong đổi mới phương pháp giáo dục hướng nghiệp
trường THPT Nguyễn Văn Huyên – Hà Nội 40
2.2.1. Thực trạng việc thực hiện chương trình giáo dục hướng nghiệp ở THPT Nguyễn
Văn Huyên – Đống Đa – Hà Nội 54
2.2.2. Thực trạng về năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm giảng dạy giáo dục
hướng nghiệp của đội ngũ giáo viên, việc khai thác thu hút nguồn giáo viên có trình
độ, tay nghề cho giáo dục hướng nghiệp 56
CHƯƠNG 3
BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
TỔ CHỨC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH
TRƯỜNG THPT NGUYỄN VĂN HUYÊN - ĐỐNG ĐA - HÀ NỘI 60
3.1. Định hướng phát triển giáo dục hướng nghiệp và các nguyên tắc để xây dựng biện
pháp đổi mới phương pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT Nguyễn
Văn Huyên- Hà Nội 60
3.1.1. Định hướng phát triển giáo dục hướng nghiệp 60
3.1.2. Đề xuất các biện pháp đổi mới phương pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp
phải đảm bảo các nguyên tắc 62
3.2. Các biện pháp đổi mới phương pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
trường THPT Nguyễn Văn Huyên- Hà Nội 63
3.2.1. Biện pháp 1: Đổi mới nhận thức về sử dụng phương pháp tổ chức giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh THPT Nguyễn Văn Huyên – Hà Nội 63
3.2.2. Biện pháp 2: Đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường THPT Nguyễn Văn
Huyên – Hà Nội phù hợp với việc đổi mới nội dung chương trình 69
giáo dục trong nhà trường phổ thông, đặc biệt trong giai đoạn đổi mới đất
nước và đổi mới giáo dục thì việc dạy kiến thức nghề và kĩ năng nghề nghiệp
làm hành trang cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống thì lại càng quan trọng.
Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách thắng
lợi thì phải phát triển mạnh sự nghiệp giáo dục. Và muốn phát triển kinh tế xã
hội thì phải phát triển nhân tố con người vì con người vừa là mục tiêu vừa là
động lực của sự phát triển. Tại điều 27 chương III luật Giáo dục 2005 có nói
về mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông: “ Giáo dục trung học phổ
thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục
trung học sơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông
thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân
để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học
nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”.
1
Đồng thời Bộ trưởng Bộ GD&ĐT chỉ đạo xây dựng chương trình giáo
dục THPT theo mục tiêu quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật Giáo dục ,
chú trọng đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục , cụ thể hóa chuẩn kiến
thức, kĩ năng giáo dục kĩ thuật tổng hợp – hướng nghiệp. Ở cấp THPT nội
dung hướng nghiệp được bố trí thành các môn học.
Giáo dục nghề phổ thông là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục
đào tạo, góp phần vào việc phân luồng học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào
cuộc sống lao động hoặc tiếp tục học lên cao hợp với khả năng của gia đình,
năng lực của bản thân và nhu cầu xã hội.
Hơn nữa, năm 2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ
chức thương mại Quốc tế (WTO), đã khẳng định vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế. Do đó, vấn đề chất lượng nguồn lao động là yêu cầu cấp thiết
của xã hội trong giai đoạn hiện nay, mà học sinh lại là chủ nhân tương lai của
đất nước, họ phải biết nắm bắt cơ hội trên cơ sở hiểu rõ năng lực của bản thân
để chọn ngành nghề phù hợp với yêu cầu của xã hội đồng thời có khả năng
thích ứng và thay đổi nghề nghiệp.
cấp mà đi thẳng ra thị trường lao động không qua đào tạo. Mặt khác theo nhận
định của nhiều nhà tuyển dụng hiện nay số lượng SV ra trường đủ điều kiện
đáp ứng nhu cầu công việc của doanh nghiệp chỉ khoảng 20%, số khác hoặc
thiếu các kỹ năng làm việc hoặc chuyên môn thấp. Hậu quả của vấn đề trên là
SV vào CĐ-ĐH mà chưa định hình được nghề nghiệp cụ thể, sau 3-4 năm học
“lây lất” ở giảng đường, ra trường phải đi làm trái nghề.
Tại Ngày hội Việc làm - Hướng nghiệp năm 2010 do Báo Giáo Dục
TP.HCM tổ chức đã thực hiện cuộc khảo sát về nhu cầu hướng nghiệp của
250 HS THPT và kết quả cho thấy, có đến 80% HS cho biết rất thiếu thông
3
tin trước khi vào kỳ tuyển sinh CĐ-ĐH. Các em HS cần được tư vấn hướng
nghiệp, cung cấp những thông tin cần thiết để có cơ sở đưa ra các quyết định
cho bản thân trong lựa chọn nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp phổ thông. Đặc
biệt là các HS lớp 12 số này lên đến 98%. Cũng tại cuộc khảo sát trên đa số
HS (86%) cho rằng phải cố gắng học giỏi các môn học để chuẩn bị cho tương
lai của mình. Điều này có thể hiểu HS-SV cho rằng cần tập trung học tập cao
độ là kế hoạch tốt cho tương lai mà không chú ý đến kỹ năng sống. Các kỹ
năng như có cá tính, có khả năng lãnh đạo, biết làm việc độc lập, biết tham
gia các hoạt động xã hội, có niềm đam mê một lĩnh vực nào đó và có nhiều
năng khiếu khác nhau không được HS-SV quan tâm đến. Trong khi đó, xu
hướng của chương trình dạy học hiện đại từ lâu đã coi trọng kỹ năng, năng
lực thực tiễn hơn là kiến thức.
HS thì “khát” thông tin, đặc biệt là các HS ở ngoại thành, vùng sâu,
vùng xa việc được tư vấn chọn ngành nghề, định hướng nghề nghiệp theo
năng lực càng “đói” thông tin hơn. Các bậc phụ huynh thì phó mặc cho nhà
trường, nhà trường thì mỗi tháng chỉ có 1-2 tiết dạy hướng nghiệp. Một số HS
có ý thức tự tư vấn cho mình bằng cách tự tìm đọc tài liệu thì vấp phải thực tế
là chưa có nhiều tài liệu sách vở nghiên cứu, giới thiệu về trường lớp, ngành
nghề đào tạo cho các em. Một vài tài liệu chỉ mới qua loa, đại khái chưa thật
sự đáp ứng được nhu cầu cần thiết của HS.
làm bật nội dung, khắc sâu kiến thức, học sinh thấy hấp dẫn hơn. Từ đó giúp
cho người học có cách nhìn thay đổi làm cho họ có thể phát huy toàn diện: từ
trí lực, tâm lực, thể lực…như vậy chất lượng giáo dục hướng nghiệp sẽ hiểu
quả hơn. Đây chính là cái đích cần đạt trong giáo dục hướng nghiệp.
Với những lí do trên nên tôi chọn nghiên cứu vấn đề : “ Đổi mới
phương pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường THPT
Nguyễn Văn Huyên – Đống Đa – Hà Nội ”.
5
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về phương pháp tổ chức giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh THPT. Với sự nghiên cứu thực trạng sử dụng các phương
pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp hiện nay, để đề xuất biện pháp đổi mới
phương pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT Nguyễn Văn
Huyên – Đống Đa– Hà Nội .
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Vấn đề đổi mới phương pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh THPT Nguyễn Văn Huyên – Đống Đa – Hà Nội .
3.2. Khách thể nghiên cứu:
Quá trình giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT Nguyễn Văn Huyên –
Đống Đa – Hà Nội .
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề đổi mới phương pháp tổ
chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường THPT Nguyễn Văn Huyên –
Đống Đa – Hà Nội .
4.2. Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng các phương pháp tổ chức giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh trường trường THPT Nguyễn Văn Huyên – Đống
Đa – Hà Nội .
4.3. Đề xuất các biện pháp đổi mới phương pháp tổ chức giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh trường THPT Nguyễn Văn Huyên – Đống Đa– Hà Nội
Chương 2: Thực trạng của việc sử dụng các phương pháp tổ chức giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh trường trường THPT Nguyễn Văn Huyên – Đống
Đa – Hà Nội .
Chương 3: Biện pháp đổi mới phương pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp
cho học sinh trường THPT Nguyễn Văn Huyên – Đống Đa – Hà Nội .
7
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN VĂN HUYÊN
ĐỐNG ĐA - HÀ NỘI
1.1. Giáo dục hướng nghiệp ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam.
1.1.1. Trên thế giới
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua nhiều hình
thái kinh tế xã hội, để tồn tại và phát triển, loài người đã biết truyền kinh
nghiệm từ thế hệ trước cho thế hệ sau về kiến thức kĩ thuật và đặc biệt đã
truyền nghề và dạy nghề cho người lao động trong gia đình và trong xã hội
song thời kì đầu mới chỉ dừng ở mức độ truyền nghề.
Xét theo tiến trình lịch sử thì giáo dục hướng nghiệp không được đưa
vào dạy trong các nhà trường như những môn khoa học tự nhiên, xã hội. Mãi
đến khi khoa học, kĩ thuật phát triển thì giáo dục hướng nghiệp cho người lao
động mới thực sự được quan tâm đúng mức. Nhiều nhà tư tưởng trên thế giới
đã có quan điểm đưa giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông vào
chương trình dạy trong nhà trường.
Tại Pháp : Năm 1849 lần đầu tiên xuất bản cuốn “Hướng dẫn chọn
nghề ”, coi giáo dục hướng nghiệp là một vấn đề không thể thiếu được khi xã
hội phát triển. Đã khẳng định tính cấp thiết trong việc giúp cho thanh thiếu
niên, học sinh có kiến thức về thế giới nghề nghiệp để chuẩn bị hành trang
cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống…
Một số nước trên thế giới : Theo số liệu thống kê của UNESCO những
theo một trong các khóa dạy nghề, trong chương trình phổ thông đã tiến hành
6 nội dung học tập bắt buộc với giáo dục lao động và hướng nghiệp, 6 nội
dung học tập tự chọn cho giáo dục nghề nghiệp.
9
1.1.2. Việt Nam
So với các nước trên thế giới công tác giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh đã được đưa vào dạy trong các trường phổ thông từ sau năm 1945, song
mới dừng lại ở việc dạy môn kĩ thuật nông nghiệp và kĩ thuật công nghiệp ở
các trường phổ thông. Đứng trước yêu cầu mới của đất nước, Hội đồng Chính
phủ đã có Quyết định số 126/CP, ngày 19/03/1981 về công tác giáo dục
hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp
phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường. Để thực hiện
Nghị quyết số 14 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục, Hội đồng chính phủ
quyết định : “Các trường phổ thông phải tích cực tiến hành việc hướng nghiệp
cho học sinh nhằm chuẩn bị về mọi mặt cho học sinh sẵn sàng đi vào lao động
sản xuất sau khi ra trường”. Thực hiện quyết định 126/CP, năm 1991 Bộ giáo
dục và đào tạo đã ban hành chương trình hướng nghiệp và quy chế về tổ chức
và hoạt động cho các nhà trường phổ thông. Trong đó quy định học sinh sau
khi hoàn thành chương trình hướng nghiệp phổ thông phải dự thi để lấy
chứng chỉ nghề và có khuyến khích cộng điểm vào kết quả kì thi tốt nghiệp
THPT và kì thi tuyển sinh vào THPT đối với học sinh cấp trung học cơ sở.
Luật giáo dục Việt Nam đã chỉ rõ “ Mục tiêu giáo dục là đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe thẩm mĩ
và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”.[8]
Chủ trương của Đảng về Hướng nghiệp cho học sinh đã được thể hiện
trong các văn kiện quan trọng của Đảng và nhà nước, các quyết định, chỉ thị
của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân các tỉnh thành phố.
trong một không gian thời gian nhất định vàđược cấu trúc bởi các yếu tố: mục
đích, nội dung giáo dục, các hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục.
11
* Cấp độ thứ ba:
Giáo dục được hiểu là hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo
dục trong sự tương tác lẫn nhau, nhằm thực hiện nội dung giáo dục đã được
xác định.
=> Phương pháp giáo dục cũng được hiểu tương ứng với ba cấp độ của giáo
dục :
* Cấp độ rộng nhất:
PPGD là cách thức triển khai của một hệ thống giáo dục đa tầng, đa
diện:cho một bậc học, cấp học, ngành học, phương thức học…
* Cấp độ thứ hai:
PPGD được hiểu là phương pháp triển khai một quá trình giáo dục cụ
thể. Tức là cách thức hình thành mục đích giáo dục, cách thức soạn thảo và
triển khai nội dung giáo dục, cách thức tổ chức hoạt động giáo dục nhằm hiện
thực hóa mục đích, nội dung giáo dục và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả
của quá trình giáo dục .
* Cấp độ thứ ba:
PPGD là cách thức tiến hành các hoạt động của nhà giáo dục và người
được giáo dục nhằm thực hiện một nội dung giáo dục đã được xác định.
Lưu ý:
Ở cấp độ đầu, PPGD mang đậm tính chiến lược, có nhiều yếu tố lý
luận,phương pháp luận. Dần về các cấp độ sau, PPGD mang tính chiến thuật,
kỹ thuật.
Phân biệt phương pháp giáo dục với kinh nghiệm giáo dục
- Kinh nghiệm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả giáo dục.
- Nhiều người đồng nhất kinh nghiệm giáo dục với phương pháp giáo dục.
Đây là quan niệm sai lầm, thực chất, kinh nghiệm và phương pháp giáo dục là
hoàn toàn khác nhau. Bởi kinh nghiệm được hình thành qua trải nghiệm của
nhân văn, tôn trọng, thỏa mãn và thúc đẩy nhu cầu phát triển của họ.
* Nội dung của phương pháp :
Nội dung lí luận của phương pháp giáo dục là yếu tố tạo ra sự khác biệt
về bản chất và mức độ khoa học giữa phương pháp giáo dục với kinh nghiệm
cá nhân trong giáo dục.
Nội dung lí luận của phương pháp giáo dục bao gồm sự mô tả toàn bộ
nội dung của phương pháp giáo dục, từ cơ sở lí luận của phương pháp đến hệ
thống các biện pháp tiến hành; từ mục đích, chức năng, tính chất, nguyên tắc,
cách thức triển khai các biện pháp đến những gợi ý có tính linh hoạt khi sử
dụng các biện pháp giáo dục, trong những tình huống phổ biến. Nội dung lí
luận của phương pháp cũng đề cập đến những ưu thế và hạn chế của phương
pháp, phạm vi sử dụng có hiệu quả của nó; những yêu cầu về phía nhà giáo
dục và người được giáo dục khi tiến hành phương pháp này; sứ mạng hiện tại
và những triển vọng của phương pháp trong tương lai Đối với nhà giáo dục
và người được giáo dục việc hiểu sâu sắc và thấu đáo nội dung lí luận của
phương pháp sẽ giúp họ có cơ sở vững chắc để triển khai các biện pháp giáo
dục trong thực tiễn.
* Hệ thống biện pháp kĩ thuật giáo dục của phương pháp:
Nội dung lí luận của phương pháp chỉ là hình thái lí luận của phương
pháp, chưa phải là phương pháp giáo dục trong thực tiễn. Điều quyết định sự
tồn tại trong hiện thực và hiệu quả của phương pháp giáo dục là hệ thống biện
pháp giáo dục.
Biện pháp giáo dục là một hệ thống các cách thức tác động cụ thể của
nhà giáo dục vào đối tượng người được giáo dục, qua đó thực hiện được
nhiệm vụ giáo dục. Xung quanh vấn đề biện pháp giáo dục có vài điểm cần
chú ý:
14
* Thứ nhất:
Biện pháp giáo dục là những cách thức tác động thực tiễn của nhà giáo
dục và người được giáo dục lên đối tượng giáo dục. Vì vậy biện pháp là sự
quy trình tuyến tính. Nói cách khác, hệ thống biện pháp giáo dục là cấu trúc
đa diện, đa tầng. trong đó các tiểu hệ thống biện pháp đảm nhận chưc năng
riêng và kết hợp với nhau thành một hệ thống hữu cơ. Trong mỗi tiểu hệ
thống, các biện pháp cụ thể kết hợp với nhau theo logic tuyến tính, tạo thành
quy trình chặt chẽ ( các bước tìm hiểu học viên, các bước thiết kế bài học
v.v…). Vì vậy trong thực tiễn giáo dục , một mặt phải xác định được đầy đủ
các bình diện thao tác, đồng thời phải thiết lập được quy trình các thao tác
trong từng bình diện đó.
* Các thủ pháp nghệ thuật giáo dục :
Hệ thống biện pháp giáo dục là cơ cấu kĩ thuật của phương pháp giáo
dục .Đó là điều kiện cần để tiến hành hoạt động giáo dục có kết quả. Tuy
nhiên, biện pháp kĩ thuật sớm hay muộn cũng dẫn đến máy móc. Vì vậy có
thể chuyển chúng vào trong các phương thức giáo dục bằng máy giáo dục .
Do đó, một giáo viên giỏi là người không chỉ tổ chức tốt các biện pháp giáo
dục mà phải nâng các biện pháp đó lên mức nghệ thuật giáo dục. Ta quy ước
gọi đó là các thủ pháp nghệ thuật giáo dục.
Đổi mới phương pháp giáo dục được nghiên cứu cụ thể hơn trong môi
trường nhà trường .
Như vậy ta có thể hiểu nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong hệ
thống tổ chức xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho
sự duy trì và phát triển của xã hội.
Nhà trường có chức năng và nhiệm vụ theo quy chế về tổ chức hoạt động theo
QĐ số : 25/2000/QĐ-BGD&ĐT.
16
1. Dạy kĩ thuật (công nghệ), dạy nghề phổ thông và tư vấn hướng nghiệp cho
học sinh phổ thông. Trung tâm giáo dục thường xuyên theo chương trình của
Bộ Giáo dục và Đào tạo;
2. Bồi dưỡng giáo viên kỹ thuật các trường trung học phổ thông về giáo dục
kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp;
3. Tổ chức lao động sản xuất và dịch vụ kĩ thuật phục vụ giáo dục đào tạo;
các tập thể sư phạm, của các cán bộ thuộc các cơ quan nhà máy khác nhau,
được tiến hành với mục đích giúp học sinh chọn nghề đúng đắn phù hợp với năng
lực, thể lực và tâm lý của cá nhân với nhu cầu kinh tế xã hội. Hướng nghiệp là bộ
phận cấu thành của quá trình giáo dục – học tập trong nhà trường”.
Các nhà tâm lý học lại coi : “ Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp
tâm lý sư phạm và y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu
của xã hội và năng lực của bản thân”.
Các nhà kinh tế lại coi hướng nghiệp là : “ Những mối quan hệ kinh tế
giúp cho mỗi thành viên trong xã hội phát triển năng lực lao động và đưa họ
vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với sự phân bố lực lượng lao
động xã hội”.
Về phương diện khoa học lao động, hướng nghiệp là hình thức giám
định lao động có tính chất chuẩn đoán, dựa trên khả năng phù hợp để xác lập
định hướng nghề nghiệp cho từng người, cụ thể trên cơ sở xác định tương ứng
giữa đặc điểm, tâm sinh lý và yều cầu của một nghề nào đó với người lao động.
Theo tác giả Phạm Tất Dong: “ Hướng nghiệp là một hệ thống tác động
của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn
được nghề phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá
18
nhân, vừa đáp ứng nhu cầu năng lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh
tế quốc dân”.
Hướng nghiệp là một hoạt động giáo dục nhằm mục đích giáo dục học
sinh lựa chọn nghề một cách tự giác, có ý nghĩa là việc lựa chọn đó phải phù
hợp với yêu cầu xã hội và phù hợp với những đòi hỏi của nghề .
Từ những khái niệm trên ta có thể hiểu hướng nghiệp là toàn bộ những
tác động giúp con người định hướng đến một nghề hay một số nghề nhất định
đảm bảo được sự phù hợp giữa khả năng, yêu cầu cá nhân đặc điểm nghề
nghiệp và yêu cầu của xã hội. Qua đó các em nhận thức sâu sắc trách nhiệm,
nghĩa vụ của bản thân mình góp phần cung cấp nguồn nhân lực lao động có tri
thức có kĩ năng nghề nghiệp trước công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước.
trường phổ thông tiến hành hướng nghiệp chủ yếu là định hướng nghề nghiệp
và một phần tư vấn nghề, còn tuyển chọn lao động do các cơ quan doanh
nghiệp, các cơ sở tuyển dụng tiến hành. Tuy nhiên công tác hướng không chỉ
được thực hiện trong nhà trường phổ thông mà còn được tiến hành trong các
20
trường nghề nhằm tạo nên sự thích ứng nghề và được tiến hành trong các
trường nghề nhằm tạo nên sự thích ứng nghề và được tiến hành cả thời kì đầu
người ta mới bước vào nghề nhằm hình thành sự ổn định nghề ở mỗi cá nhân,
làm cho họ yên tâm, hạnh phúc trong lao động nghề nghiệp.
Theo từ điển Tiếng Việt (năm 2006) định nghĩa: “ Hướng nghiệp là thi
hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng
khiếu, năng lực , thể lực ) nhân dân theo ngành và loại lao động”.
Hay hướng nghiệp còn được định nghĩa theo ý nghĩa thứ 2: “ Hướng nghiệp
là giúp đỡ, lựa chọn hợp lý ngành nghề”.
Công việc chủ yếu của định hướng nghề nghiệp trong nhà trường phổ
thông là thông tin về cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, những hoạt động nghề
và nghề truyền thống của địa phương, những đòi hỏi của chúng về phẩm chất
đạo đức năng lực, yêu cầu tâm sinh lý của nghề, về hệ thống các trường
TCCN, CĐ, ĐH dạy nghề của trung ương và địa phương…Công tác thông tin,
tuyên truyền, giải thích nghề còn được tiến hành đối với phụ huynh học sinh,
làm cho cha mẹ học sinh hiểu được sự phát triển kinh tế của đất nước, nhu
cầu phát triển của các ngành, đặc biệt là họ hiểu được nguyện vọng và năng
lực của con em mình. Trên cơ sở đó, nhà trường kết hợp chặt chẽ với gia đình
cho học sinh lời khuyên khi chọn nghề.
Công tác giáo dục hướng nghiệp cần chú ý những yêu cầu sau:
- Định hướng chú ý của học sinh vào những ngành nghề, lĩnh vực kinh
tế mà Nhà nước, địa phương đang cần phát triển.
- Kích thích hứng thú của học sinh tìm hiểu về các ngành ,nghề trong
xã hội.
- Giúp học sinh có thái độ đúng đắn với nghề nghiệp, từng bước xóa bỏ