1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Sự phát triển vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ (KH-CN) hiện đại và
sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta đã đặt ra những yêu cầu cao về chất lượng nguồn nhân lực
trong những năm tới, nhất là nguồn nhân lực cần cho quá trình tiếp cận với kinh tế (KT) tri
thức. Vì vậy, công tác HN theo quyết định 126/CP đã có một số điểm không phù hợp với sự
phát triển KT- XH hiệ
n nay và giai đoạn sắp tới.
1.2. Trong nhiều năm qua, GDHN cho học sinh THPT có nhiều cố gắng và có những
đóng góp nhất định, góp phần vào việc định hướng nghề nghiệp cho HSPT, nhằm đào tạo
nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển KT-XH của đất nước. Nhưng sau đó, công tác tổ chức
GDHN cho học sinh phổ thông không được các cấp QLGD và các trường học quan tâm đúng
mức, nhiều địa phương và trườ
ng học chưa thực hiện đầy đủ các nội dung GDHN. Việc huy
động các lực lượng XH tham gia tổ chức GDHN cho HSPT chưa được các cấp chú trọng; các
hình thức tổ chức GDHN chưa phù hợp với yêu cầu mới đặt ra; việc sử dụng và khai thác các
nguồn nhân lực - vật lực - tài lực còn ít hiệu quả.
1.3. Để đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sự phát triển KT-XH
của đấ
t nước, đồng thời đẩy mạnh một số lĩnh vực công nghệ cao, GDHN cho HS THPT
cần phải đổi mới cả nội dung, hình thức tổ chức, trong đó coi trọng việc huy động một cách
hợp lý các lực lượng XH cùng tham gia tổ chức GDHN cho HS THPT.
1.4. Trên thực tế, GDHN cho HSPT đang gặp nhiều khó khăn, chưa có tác động
nhiều đến chủ trương phân luồng HS sau THPT. Một trong những nguyên nhân yếu kém
của HN là do công tác HN chỉ
được triển khai bó hẹp trong trường THPT, các lực lượng xã
hội chưa tham gia tổ chức GDHN. Việc huy động và phát huy vai trò của các lực lượng xã
hội cho GDHN là một vấn đề cấp thiết cần được quan tâm hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài "Tổ chức giáo dục hướng
ng THPT và 14 trung tâm KTTH-HN thuộc 2 tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh, đây là
những địa phương đã có một thời gian làm tốt công tác GDHN cho học sinh phổ thông
theo tinh thần XHH; đồng thời là hai tỉnh có nền công nghiệp chưa phát triển nên có
nhiều vấn đề về nguồn nhân lực cần được quan tâm.
6. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Cơ sở phương pháp luận
+ Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh; các quan điểm đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; chiến lược phát triển
giáo dục đào tạo; định hướng GDHN đến 2010 và những năm tiếp theo.
+ Kế thừa và phát triển có chọn lọc một số kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học
trong và ngoài nướ
c về những vấn đề có liên quan đến luận án.
+ Cơ sở thực tiễn: Thực trạng GDHN cho học sinh THPT và việc tổ chức GDHN cho
HS THPT theo tinh thần XHH.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
+ Tổng hợp các tài liệu khoa học chuyên môn về GD, GDHN, các công trình có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu.
+ Phân tích các công trình khoa học về HN của các tác giả trong và ngoài nước.
+ Nghiên cứu xu hướng hiện nay của các nước phát triển và cách tiếp cận GDHN
trong thời kỳ
hội nhập theo tinh thần XHH.
6.2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Điều tra, toạ đàm, phỏng vấn; tổng kết kinh nghiệm.
+ Trưng cầu ý kiến chuyên gia; khảo nghiệm và thử nghiệm.
+ Phương pháp so sánh.
7. NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
7.1. Vai trò quan trọng của GDHN trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng các
yêu cầu của sự phát triển KT-XH của đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế.
cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học.
Trên thực tế, cả lý luận và thực tiễn, việc huy động các tổ chức xã hội tham gia vào
công tác GDHN ở nhiều nước trên thế giớ
i đã được nghiên cứu ở một số khía cạnh khác
nhau và được một số nước quan tâm, thực hiện khá tốt.
1.1.2. Ở Việt Nam
Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, nhiều công trình khoa học của các nhà tâm lý học,
giáo dục học, xã hội học đã tiếp cận nghiên cứu nhiều vấn đề về GDHN cho HSPT ở những khía
cạnh khác nhau. Tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra quan đ
iểm về con người trong công cuộc đổi
mới, là “ưu tiên đến việc giáo dục nghề nghiệp”. Trong các công trình khoa học khác, nhiều tác
giả như: Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Như Ất, Nguyễn Viết Sự, Nguyễn Văn Lê,
Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân, Nguyễn Đức Trí … đã làm nổi bật vai trò quan
trọng của công tác hướng nghiệp đối với việc phát triển nguồn nhân lực ở Vi
ệt Nam trong giai
đoạn 2001 – 2010 và đề xuất một số giải pháp về công tác giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam
trong giai đoạn 2005 - 2010.
Ngoài ra, một số công trình khoa học của các tác giả nói trên đã bước đầu đề cập đến
sự cần thiết phải có sự phối hợp trong công tác GDHN cho HSPT, đây là một khía cạnh để
thực hiện XHH công tác GDHN. Song các tác giả chưa đi sâu vào nghiên cứu các nội dung
tổ chức GDHN cho HS THPT theo tinh thần XHH.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
1.2.1. Hướng nghiệp
Tùy theo cách tiếp cận trên các lĩnh vực khoa học mà HN được hiểu theo những cách
khác nhau. Ngày nay, người ta nhận thấy chỉ cung cấp thông tin là không đầy đủ, mà cần phải
chỉ ra sự phát triển về mặt cá nhân, XH, GD và nghề nghiệp của HS: “Hướng nghiệp trong giáo
dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường để giúp HS có kiến thức về
nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệ
p trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường
của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội” [88; tr 2].
1.2.2.2. Tổ chức giáo dục hướng nghiệp
Tổ chức GDHN cho HS PT là toàn bộ hệ thống các giải pháp, phương pháp được thực
hiện trong quá trình QL, phân công trách nhiệm, sắp xếp, bố trí người thực hiện, phối hợp các
hoạt động trong và ngoài nhà trường nhằm đưa h
ệ thống hoạt động đồng bộ và có hiệu quả cao.
Nói cách khác, tập hợp hệ thống các giải pháp quản lý có tính tổ chức lên quá trình
GDHN gọi là “Tổ chức giáo dục hướng nghiệp”. Tổ chức GDHN cho HS THPT là một
chức năng QLGD ở trường THPT để đảm bảo cơ cấu tổ chức và nhân sự cùng các nguồn
lực khác để thực hiện quá trình GDHN cho HS theo mục tiêu của GDHN THPT. Cơ cấu tổ
chức GDHN
được cụ thể hoá qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức GDHN trong trường phổ thông Tổ giáo viên
Tóm lại, có thể hiểu: Xã hội hoá là tăng cường tính chất xã hội và hiệu quả
của các
hoạt động trong một nhà nước bằng cách phát huy vai trò của các tổ chức xã hội trong cộng
đồng với tinh thần tự nguyện cả về ý chí, tinh thần, trí tuệ, các nguồn lực vật chất nhằm
động viên được mọi thành phần kinh tế, mọi cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước tham gia
vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
1.2.3.2. Xã hội hóa giáo dục
Khái niệm xã hội hóa giáo dục (XHHGD) ở mỗi quốc gia có một quan niệm khác
nhau. Ở nước ta, khái niệm XHHGD được hiểu như sau: XHHGD là huy động toàn xã hội
làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân
dưới sự quản lý của nhà nước.
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy nội hàm của khái niệm XHHGD được thể hiện ở các nội
dung sau:
- Tạo cơ hội và môi trường học tập cho mọi người.
- Đa dạng hóa các loại hình đào tạo và hình thức h
ọc tập.
- Tham gia đóng góp nhân lực - vật lực và tài lực cho giáo dục.
- Tham gia trực tiếp vào việc giáo dục trẻ em và phát triển giáo dục.
- Huy động sức mạnh của các lực lượng xã hội tham gia vào QLGD.
1.2.3.3. Tinh thần “xã hội hoá”
Dựa vào quan điểm chỉ đạo của Đảng: "Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo
tinh thần XHH". Từ đây thuật ngữ " tinh thần xã hội hoá" được chính thức sử dụ
ng. Khi nói “tinh
thần xã hội hoá” chúng tôi muốn trình bày với ý nghĩa cách tiếp cận hướng vào các nội dung xã
hội hoá. Bởi vậy, tổ chức hoạt động GDHN theo tinh thần “xã hội hoá” được hiểu là:
+ Coi trọng vai trò tổ chức QL của các tổ chức XH trong quá trình phát triển GDHN.
+ Vận dụng các nội dung (nguyên tắc) của xã hội hoá vào tổ chức QL GDHN.
+ Tận dụng các lực lượng XH để phát triển GDHN thông qua việc tổ chức GDHN cho HS.
+ Phát huy vai trò của c
ộng đồng xã hội trong việc tổ chức và quản lý GDHN.
Trường THPT (thông thường là ban HN nhà trường).
Các tổ chức, cá nhân phối hợp: trung tâm KTTH-HN - các trường ĐH, CĐ,
TCCN; các cơ sở dạy nghề - các cơ sở sản xuất; dịch vụ - đại diện Hội CMHS; một số cá
nhân: phụ huynh, các nhà hảo tâm, các cựu HS đã trưởng thành…
+ Vai trò chủ
đạo của nhà trường:
- Xây dựng kế hoạch.
- Tổ chức triển khai thực hiện: Trường THPT đóng vai trò trung tâm.
+ Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân phối hợp:
- Cùng trường THPT xây dựng kế hoạch.
- Hỗ trợ nguồn lực: Đội ngũ giáo viên, kỹ thuật viên, tài liệu, CSVC; hỗ trợ tài chính
- Phối hợp với ban HN nhà trường tổ chức thực hiện GDHN.
- Bố trí việc làm cho HS sau khi tốt nghiệp.
7
Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức GDHN cho HSPT theo tinh thần XHH 1.4.2. Bảo đảm các nguồn lực cho GDHN theo tinh thần XHH
Các nguồn lực cần thiết đảm bảo cho hoạt động GDHN:
a. Nhân lực (con người): Đội ngũ giáo viên, cán bộ kỹ thuật của các trường dạy
BAN HƯỚNG
NGHIỆP
CÁC TỔ CHỨC TRONG
NHÀ TRƯỜNG
(Đoàn thanh niên, tổ chuyên môn,
tổ GVCN )
CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI
(Cơ quan thông tin truyền thông,
trung tâm KTTH-HN, trường dạy
nghề, trường ĐH,CĐ,TC, doanh
n
g
hi
ệp
, H
ộ
i CMHS )
8
Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ GDHN VÀ TỔ CHỨC GDHN
CHO HỌC SINH THPT THEO TINH THẦN XÃ HỘI HOÁ
2.1. BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG NHỮNG NĂM QUA
2.1.1. Hội nhập quốc tế và khu vực
2.1.2. Sự chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
2.1.3. Tác động của sự chuyển dịch cơ cấu KT và cơ cấu lao động
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ dẫn đến việc chuyển dịch cơ cấu lao độ
2.2. THƯC TRẠNG GDHN THEO TINH THẦN XHH TRONG NHỮNG NĂM QUA
2.2.1. Giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần xã hội hoá qua 4 hình thức trong
trường THPT
Kết quả điều tra việc thực hiện 4 hình thức GDHN từ 2.750 HS thuộc 21 trường
THPT hai tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh thu được ở bảng sau:
Bảng 1. Tổng hợp kết quả điều tra 4 hình thức GDHN TT
CÁC CON ĐƯỜNG
Thực
hiện tốt
(%)
Có thực
hiện
(%)
Không
thực hiện
(%)
1
Hướng nghiệp qua dạy - học các bộ môn khoa
học cơ bản
0 46,2 53,8
2
Hướng nghiệp qua dạy học môn Công nghệ
17,5 73,1 9,4
3
Hướng nghiệp qua các buổi "Sinh hoạt HN"
có thực hiện và thực hiện tố
t. Nhưng phần lớn giáo viên dạy không đúng chuyên môn đào
tạo nên không hiểu biết về nghề, vì vậy từ khâu chuẩn bị giáo án đến khi lên lớp thường
thiếu kiến thức thực tế nên công tác HN còn thiếu tính khả thi và không đáp ứng được nhu
cầu thực tế của xã hội.
2.2.2. Giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần XHH qua học nghề phổ thông
Kết quả của hoạt động HN, dạy nghề tạ
i các trung tâm KTTH-HN năm học 2001 -
2002 và 2006 - 2007 được thể hiện như sau:
+ Về số lượng: Năm học: 2001 - 2002 2006 – 2007
- Tổng số HS tham gia học nghề PT: 738.941 1.400.558
- Số HS được tư vấn HN tại trung tâm: 56.744 647.037
+ Về chất lượng và quy mô: Học sinh nắm được lý thuyết nghề cơ bản, có kỹ năng thực
hành tương đối tốt. Quy mô dạy nghề PT và tổ chức tư vấn HN cho HS của nhiều trung tâm
được mở
rộng, số HS tham gia HN ngày càng nhiều.Tuy nhiên việc tổ chức GDHN và dạy
nghề PT tại các trung tâm KTTH-HN vẫn còn một số hạn chế nhất định:
Nhiều trung tâm cơ sở vật chất yếu kém, lạc hậu, không đủ phòng học để tiếp nhận
HS. Đội ngũ giáo viên thiếu đồng bộ, các trung tâm chưa huy động được đội ngũ giáo viên
từ các trường dạy nghề tham gia dạy nghề PT và GDHN cho học sinh. Tỷ lệ
HS bỏ học ở
các trung tâm khá cao đã chứng tỏ khả năng thu hút học sinh ở một số trung tâm còn yếu
kém, nhiều học sinh lớp cuối cấp THCS chưa được tư vấn chọn ban học ở cấp THPT.
GDHN chưa phát huy được vai trò của cộng đồng trong việc tổ chức và quản lý, dạy - học
nghề phổ thông cho học sinh.
2.2.3. Thực trạng về phân luồng học sinh sau trung học
Sau THPT, ngoài s
ố ít HS trực tiếp tham gia lao động thì quá trình phân luồng HS vào
các trường ĐH,CĐ, TCCN so với đào tạo nghề của nước ta từ 1986 đến nay có sự chênh lệch
rất lớn về số lượng và quy mô đào tạo. Ta có bảng so sánh:
+ Các nguồn thông tin giúp HS có hiểu biết về nghề nghiệp và thị trường lao động:
Sách, báo, đài, ti vi: 83,2%; thông qua thầy cô giáo: 31,7%; bố, mẹ, anh chị, bạn bè,
ngườ
i thân: 22,1%; tự tìm hiểu lấy: 53,8%.
+ Các hoạt động ngoại khoá về GDHN được nhà trường tổ chức trong năm học:
- Tổ chức tham quan: 8,7% ý kiến được khảo sát cho rằng có thực hiện.
- Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về nghề: 0%.
- Tổ chức câu lạc bộ, diễn đàn về hướng nghiệp theo các chủ đề trong năm học: có
21, 5% ý kiến cho rằng nhà trường có thực hiện.
Các kết quả thu
được từ HS cho thấy trong những năm qua công tác tổ chức GDHN
chỉ được thực hiện bó hẹp trong nhà trường, từ công tác tổ chức đến việc huy động nguồn lực.
Ngoài các trung tâm KTTH-HN và tổ chức đoàn thanh niên có tham gia tổ chức GDHN, các
lực lượng XH khác còn đứng ngoài cuộc. 100% học sinh được hỏi cho rằng hội CMHS và
nhiều tổ chức XH chưa tham gia vào hoạt động GDHN. Vai trò của một số tổ chức XH trong
GDHN cho học sinh còn mờ nh
ạt, một số tổ chức ở các địa phương như các doanh nghiệp,
các cơ sở dạy nghề, một số Hội có quy mô lớn chưa tham gia vào hoạt động GDHN, có
95,4% ý kiến cho rằng các trường dạy nghề, các doanh nghiệp không tham gia GDHN.
Thiếu thông tin và thiếu kiến thức thực tế về HN là điểm yếu lớn nhất hiện nay của học
sinh THPT, đòi hỏi nhà trường phải huy động được sứ
c mạnh của các tổ chức xã hội để tuyên
truyền, phối hợp tổ chức các hoạt động ngoại khoá trong và ngoài nhà trường
2.3.1.2. Kết quả điều tra từ cán bộ QLGD các trường THPT và trung tâm KTTH-HN
+ Các lực lượng xã hội có tham gia giới thiệu nghề cho HS: đội ngũ giáo viên kỹ thuật
chiếm tỷ lệ lớn nhất: 91,2%. Tiếp đến là trung tâm KTTH-HN: 75,4%. Đoàn thanh niên chỉ
chiếm tỷ lệ ít ỏi: 14,2%. Trường dạy nghề cũng không đáng kể: 6,1%. Riêng hội CMHS và
cơ sở sản xuất dịch vụ không hề tham gia vào công tác HN (0%).
+ Về đội ngũ giáo viên dạy Công nghệ và hướng nghiệp tại 21 trường THPT khảo
chức GDHN cho học sinh trong khuôn khổ nhà trường, các lực lượng xã hội chưa có gì để
cam kết, ràng buộc trong việc tổ chức GDHN cho học sinh.
V
ề cơ sở vật chất, trong 21 trường THPT được khảo sát chỉ có 3 trường có phòng
hướng nghiệp, nhưng thiết bị vật chất còn hết sức nghèo nàn và lạc hậu. Cán bộ phụ trách
phòng hướng nghiệp là bí thư hoặc phó bí thư đoàn thanh niên, chưa có cán bộ chuyên trách
hướng nghiệp. Khi trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo Sở giáo dục và Đào tạo hai tỉnh Quảng Trị
và Hà Tĩnh đều cho biết hàng năm nguồn ngân sách xây dự
ng trường lớp chưa đáp ứng được
yêu cầu, các trường không thể có ngân sách để xây dựng phòng hướng nghiệp, về lĩnh vực
này ngành giáo dục rất cần sự quan tâm, hỗ trợ của các tổ chức xã hội.
Bảng 3: Kết quả điều tra nguyên nhân hạn chế của hoạt động GDHN
TT Nguyên nhân
Số ý kiến nhất
trí (%)
Số ý kiến khác
(%)
1 Cơ sở vật chất cho hoạt động GDHN yếu kém 100 0
2 Các cấp QLGD chưa quan tâm chỉ đạo chặt chẽ 67,8 32,2
3
Hướng nghiệp chưa được coi là hoạt động giáo
dục chính khoá trong nhà trường
95,4 4,6
4
Thiếu GV công nghệ, GV chuyên trách HN
98,6 1,4
5
Chưa xây dựng cơ chế phối hợp giữa trường
THPT với các tổ chức, đơn vị có liên quan
100 0
TINH THẦN XÃ HỘI HOÁ
2.3.2.1. Ưu điểm
Trong một thời gian khá dài (1986-1996), công tác tổ chức GDHN cho học
sinh THPT khá tốt, nhiều trường THPT và trung tâm KTTH-HN đã có sự phối hợp tổ
chức dạy nghề phổ thông và GDHN cho học sinh; nội dung và hình thức tổ chức khá
linh hoạt nên đã mang lại những kết quả nhất định.
Thực hiện ch
ủ trương xã hội hoá, nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp và
trường đào tạo nghề ngoài công lập ra đời. Cùng với hệ thống trường công lập, các trường
ngoài công lập đã góp sức cùng các trường THPT tư vấn nghề và định hướng nghề nghiệp
cho học sinh trong các mùa tuyển sinh hàng năm.
Số lượng các trung tâm KTTH-HN ở các quận, huyện và trung tâm học tập cộng
đồng ngày càng mở rộng đã làm phong phú đội ng
ũ giáo viên dạy kỹ thuật, hướng nghiệp
cho trường THPT, học sinh có thêm cơ hội được GDHN tại các trung tâm và các trung tâm
học tập cộng đồng.
Trong những năm gần đây, các Sở giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với báo Thanh
niên, đài phát thanh truyền hình địa phương và các trường đại học, cao đẳng, trường trung
cấp để tổ chức tư vấn tuyển sinh cho học sinh lớp 12 cuối cấ
p.
2.3.2.2. Khuyết điểm và nguyên nhân tồn tại
Công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của địa phương, đặc biệt
là nhu cầu về nguồn nhân lực cho sự phát triển KT-XH chưa đến với PH, HS. Các phương tiện
truyền thông còn hạn chế, chưa kịp thời đưa các thông tin về HN đến với mọi người, nhất là đối
tượng HS lớp cuối cấp; nguồn thông tin về HN đưa vào các trung tâm h
ọc tập văn hoá cộng
đồng còn hạn chế.
Chính quyền các cấp và các cấp QLGD chưa quan tâm đúng mức đối với GDHN
cho HSPT, trong một khoảng thời gian khá dài từ 1990 – 2003 nhiều trường THPT không tổ
chức thực hiện GDHN cho HS [33]. Các trường THPT còn xem nhẹ công tác GDHN cho
2.3.2.3. Thuận lợi
1 Đảng và Nhà nước đã có chủ trương cụ thể về xã hội hoá giáo dục nói chung, thể
hiện trong các văn bản: Nghị quyết 90/CP (ngày 21/8/1997); Nghị định 73/1999/NĐ-CP
(ngày 19/8/1999), Nghị quyết 05/2005/NQ-CP (ngày 18/4/2005) và Quyết định 126/CP
(ngày 19/3/1981) về công tác HN trong trường phổ thông
2 Các cơ quan truyền thông đại chúng (báo, đài), các trường ĐH, CĐ, TCCN và
một số doanh nghiệp b
ước đầu đã có sự phối hợp, hỗ trợ với ngành giáo dục để tư vấn HN
cho học sinh THPT.
3 Hoạt động giáo dục hướng nghiệp được đưa vào chương trình phân ban THPT
buộc các trường THPT phải thực hiện đầy đủ theo phân phối chương trình của Bộ GD&ĐT.
4 Sự phát triển mạnh của các ngành công nghiệp đã tạo ra một thị trường lao động
lớn từ nông thôn
đến thành thị, nhu cầu nguồn lao động ngày càng nhiều.
2.3.2.4. Khó khăn, thách thức
1 Khó khăn lớn nhất hiện nay là thiếu cơ bản về đội ngũ giáo viên và cán bộ
chuyên trách hướng nghiệp tại các trường THPT và các trung tâm KTTH-HN. Trong
khi nước ta chưa có trung tâm đào tạo giáo viên hướng nghiệp.
2 Mặc dầu đã có nhiều văn bản, nghị quyết nói đến vấn đề XHH giáo dục và
GDHN, nhưng trên thực tế việc tổ ch
ức triển khai thực hiện thiếu đồng bộ, nhiều trường
THPT chưa quan tâm đúng mức đến GDHN cho HS.
3 Nội dung, phương pháp GDHN lạc hậu, chưa theo kịp sự phát triển của nền khoa
học tiên tiến.
4 Trước sự phát triển mạnh mẽ của KH-CN, sự hội nhập kinh tế Quốc tế, đòi hỏi
công tác GDHN cho HS THPT cần phải có một sự thay đổi toàn diện từ cách tiếp c
ận, định
hướng phát triển đến nội dung và cách thức tổ chức. Đây là một khó khăn lớn đối với
GDHN nước ta hiện nay, đòi hỏi cần phải có sự quan tâm của toàn xã hội.
5 Cơ sở vật chất, thiết bị của trường THPT nghèo nàn, lạc hậu, nguồn tài chính cho
b. Thông qua mạng Internet: Hi
ện nay, hầu hết trường THPT đã đưa hệ thống
Internet vào trường học phục vụ cho việc khai thác thông tin trong nghiên cứu giảng dạy
của CBQL, GV và phục vụ học tập cho HS. Để sử dụng, khai thác thông tin HN qua
Internet có hiệu quả, nên huy động các lực lượng hỗ trợ xây dựng CSVC. Trường THPT
cần chủ động phối hợp các Trung tâm Tin học, đài bưu chính viễn thông tổ chức các đợt
tập huấn về khai thác và s
ử dụng cho GV và HS.
c. Đưa nội dung các thông tin liên quan về HN cho HSPT vào các trung tâm học tập cộng
đồng dưới dạng sách, tài liệu, băng đĩa…để tuyên truyền cho các bậc phụ huynh học sinh. Hàng
năm, Sở GD&ĐT phối hợp với các cơ quan truyền thông, Sở văn hoá Thông tin để tuyên truyền
sâu rộng cho HS, xây dựng các bộ phim, cốt truyện, vở kịch có nội dung về HN.
3.2.1.2. Phát huy có hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồ
ng để
chuyển tải thông tin đến phụ huynh học sinh
a. Những địa phương có trung tâm học tập cộng đồng thường xuyên cập nhật, đưa
những thông tin liên quan đến nghề nghiệp vào chương trình học tập của nhân dân như
phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở địa phương;
Đưa một số thông tin về tư vấn nghề nghiệp đế
n với cha mẹ HS vào chương trình của
Trung tâm học tập cộng đồng dưới dạng sách, tài liệu, băng đĩa… để từ đó, cha mẹ học sinh
giúp nhà trường điều chỉnh ý định chọn nghề của các em.
15
b. Những địa phương chưa có trung tâm học tập cộng đồng thì có thể đưa những
thông tin trên đây tới cha mẹ học sinh bằng cách khác, chẳng hạn như: thông qua một số
buổi họp phụ huynh do nhà trường tổ chức, qua các buổi sinh hoạt của nhân dân ở khu dân
cư, khu phố có dành một khoảng thời gian nhất định để cán bộ HN thông báo về tình hình
sản xuất của địa phương, về cơ c
ấu lao động, sự chuyển dịch kinh tế…
3.2.2. Nhóm giải pháp về tổ chức nội dung
a. Xây dựng một trung tâm đào tạo chuyên gia HN và tư vấn nghề có tầm cỡ quốc gia,
quốc tế với sự trợ giúp của các chuyên gia nước ngoài. Thực tế, chúng ta đã tiếp nhận kinh
nghiệm của Pháp, Xingapo, Hàn Quốc, sau hội thảo Pháp - Á năm 2004; Năm 2007 khoa Sư
ph
ạm - ĐHQG Hà Nội đã liên kết với một số trường ĐH, trung tâm HN tại Pháp mở lớp đào tạo
chuyên gia HN đầu tiên tại Việt Nam. Đây là một mô hình mới cần được tổng kết rút kinh
nghiệm và nhân rộng tại một số trường ĐH trọng điểm trên toàn quốc.
b. Mở rộng mã ngành đào tạo giáo viên dạy công nghệ và HN trong các trường ĐH,
đáp ứng nhu cầu nguồn giáo viên cho trường THPT, trong
đó cần nhấn mạnh việc phát huy
vai trò của các trường ĐHSP trong công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên. Mở rộng mã ngành đào
tạo giáo viên CN và HN trong các trường ĐHSP, đặc biệt đối với các trường ĐH ở miền Trung;
Tây Nguyên và vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
c. Đối với những GV chưa đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, một số GV các chuyên
ngành khác đang dạy CN và HN ở các trường THPT cần được đào tạo lại ho
ặc bồi dưỡng
16
trong hè để đạt tỷ lệ về chuẩn hoá đội ngũ vào năm 2010.
3.2.3.2. Liên kết với các cơ sở ĐT nghề, các trung tâm nghiên cứu HN, các cơ sở
sản xuất để đa dạng hóa đội ngũ giáo viên HN
- Liên kết với các trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề ở địa phương để cử GV
có chuyên môn trực tiếp tham gia dạy HN cho HS THPT: Trường Trung cấp nghề tỉnh
(thuộc sở Lao động Thươ
ng binh và Xã hội)); trường Trung học Y tế (thuộc sở Y tế), trường
Trung học Nông nghiệp (thuộc sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Quảng Trị) và
Trung tâm KTTHHN tỉnh (thuộc sở GD - ĐT Quảng Trị).
- Vận động đại diện các nghề tham gia các buổi sinh hoạt HN hoặc giúp giáo viên soạn bài
giảng trong sinh hoạt HN để đảm bảo độ chính xác của các thông tin trong bài học;
- Liên hệ với các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất để tạ
o điều kiện cho HS đến tham
biệt là các cựu HS đang giữ chức vụ chủ chốt trong các doanh nghiệp.
3.2.5. Nhóm giải pháp về tổ chức cơ chế phối hợp
Nói đến cơ chế phối hợp là nói đến sự vận hành của các mối quan hệ giữa các thành tố
(bộ phận) trong một cấu trúc (tổ chức) có hệ thống nhằm mục đích đạt được hiệu quả cao của
hoạt động. Đây là sự vận hành mang tính tất yếu.
Các bộ phận:
Các lực lượng hỗ trợ như trung tâm KTTHHN; các cơ sở ĐT nghề; cơ sở sản
xuất dịch vụ, nông trường, tổ chức chính trị XH, chính trị XH nghề nghiệp, Hội CMHS…
17
Cấu trúc: Là toàn bộ sự liên kết đồng bộ trong một tập hợp có tính ổn định hoặc cơ
động tùy theo từng sự việc cụ thể.
Quan hệ: Là mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường PT với các tổ chức đoàn thể xã
hội có liên quan, các cơ sở dạy nghề, các trung tâm KTTH-HN, Hội CMHS…
Hiệu quả: Chính là kết quả của hoạt động GDHN cho HSTHPT.
Cơ chế cầ
n có để phối hợp:
- “Cơ chế pháp lý”, tức là cần có những quy định cụ thể về sự phối hợp.
- “Cơ chế tình cảm”, tức là cần tạo ra được sự đồng thuận giữa hai bên.
- “Cơ chế ngành, lãnh thổ”, tức là tạo ra được sự phối hợp ngang dọc.
Lực lượng: Trung tâm KTTH-HN; trường ĐH, CĐ, TC; các cơ sở dạy nghề; Hội
CMHS; các doanh nghiệp, c
ơ sở sản xuất dịch vụ Trường THPT đóng vai trò trung tâm.
Cơ chế phối hợp được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 3: Cơ chế phối hợp tổ chức GDHN cho HS THPT
b. Đối với trung tâm KTTH-HN:
TRƯỜNG
THPT Hội CMHS Trung tâm
KTTH-HN
Các doanh
nghiệp…
ĐH, CĐ ,TC,
d
ạy
n
g
hề
18
Cử cán bộ, giáo viên phụ trách theo dõi từng trường hoặc từng cụm trường.
Chịu trách nhiệm sắp xếp biên chế các lớp theo số lượng vừa phải để đảm bảo cho
việc hình thành kỹ năng nghề cho HS.
Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, dụng cụ thực hành…
phân công giáo viên phù hợp với chuyên môn nghề từ
ng lớp để HN và giảng dạy kỹ thuật,
nghề PT theo chương trình quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Chịu trách nhiệm về chất lượng dạy nghề PT và GDHN cho HS.
3.2.5.3. Tổ chức cơ chế ph
ối hợp với trường ĐH, CĐ, TC, các cơ sở ĐT nghề
Nội dung: Thể hiện tính đặc thù của trường ĐH, CĐ, TCCN và các cơ sở đào tạo
nghề. Tuỳ thuộc điều kiện từng địa phương, đặc điểm của các trường chuyên nghiệp, năng
lực, sở trường của học sinh để xác định nội dung hợp lý:
Các trường ĐH, CĐ: Định hướng cho một bộ phận học sinh có năng lực học tập
khá, giỏi; riêng đối với các trường ĐH chất lượng cao định hướng cho một số HS giỏi có
năng lực và hứng thú, có điều kiện theo các chuyên ngành phù hợp.
Các cơ sở đào tạo nghề: Định hướng cho đối tượng HS (số đông) có năng lực học
tập trung bình, có đ
iều kiện bản thân phù hợp. Cam kết trách nhiệm với nhà trường đảm bảo
việc làm cho một số ngành nghề đào tạo.
Các hình thức:
19
- Phối hợp tổ chức các buổi tư vấn, đối thoại trực tiếp giữa đại diện các trường ĐH,
CĐ, TCCN, các cơ sở dạy nghề với học sinh.
- Tổ chức cho HS tham quan ở các trường ĐH, CĐ, TCCN, các cơ sở dạy nghề, được
phối hợp chặt chẽ, tổ chức vào các thời điểm thích hợp của năm học.
- Tổ ch
ức hội thi tìm hiểu về thế giới nghề nghiệp
Trách nhiệm của mỗi bên:
+ Nhà trường: Chuẩn bị, ổn định tổ chức, cung cấp số lượng, thông tin về HS.
+ Đơn vị chủ trì: Điều hành; phân công; trả lời các tình huống và tổng kết
+ Các đơn vị phối hợp: có trách nhiệm cung cấp thông tin cụ thể, tư vấn, định hướng
nghề nghiệp, hướ
ng dẫn thủ tục hồ sơ và trả lời thắc mắc của HS.
3.2.5.4. Tổ chức cơ chế phối hợp với Hội CMHS
Nội dung và các hình thức phối hợp:
+ Tuyên truyền, vận động HS xem các chương trình truyền hình có chủ đề, nội dung
Từ sơ đồ trên, chúng ta nhận thấy: trường THPT đóng vai trò trung tâm trong quá
trình XHH công tác GDHN; chính quyền địa phương; các tổ chức đoàn thể, cơ sở sản xuất
dịch vụ; trường ĐH, CĐ, TCCN, các cơ sở dạy nghề, trung tâm KTTH-HN và gia đình, bạn
bè, người thân là những lực lượng nòng cốt có chức năng phối hợp, hỗ trợ cho nhà trường tổ
chức GDHN cho HS.
3.3. Mối quan hệ giữa các nhóm giải pháp
Cấp ủy, chính quyền
địa phương
Trường THPT
Gia đình, bạn bè,
người thân
Các tổ chức đoàn
thể, cơ sở sản xuất
dịch vụ,
- Trường ĐH,CĐ,TCCN
- Các cơ sở dạy nghề
- Trung tâm KTTH-HN
20
Như chúng tôi đã trình bày ở trên, mỗi giải pháp có một vị trí, tầm quan trọng và phạm
vi tác dụng khác nhau nhưng tất cả đều hướng đến một mục tiêu chung nhằm nâng cao hiệu quả
của GDHN cho HS THPT. Mỗi giải pháp tổ chức GDHN cho HS THPT theo tinh thần XHH là
thành phần của một hệ thống nhất. Mối quan hệ đó được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 5: Mối quan hệ giữa các nhóm giải pháp
1 Nhóm giải pháp Tổ chức nhận thức 4,97 4,96
2 Nhóm giải pháp về Tổ chức nội dung 4,94 4,95
3 Nhóm giải pháp về Cung ứng nhân lực 4,93 4,92
4 Nhóm giải pháp về Cung ứng vật lực, tài lực 4,95 4,91
5 Nhóm giải pháp về Tổ chức cơ chế phối hợp 4,98 4,87
(5 là điểm cao nhất, 1 là điểm thấp nhất)
Tổ chức
nội dung
Giải pháp tổ
chức GDHN
theo tinh
thần XHH
Tổ chức
cơ chế
phối hợp
Tổ chức
nhận thức
Cung ứng
vật lực,
tài lựcCung ứng
nhân lực
21
Từ kết quả trưng cầu ý kiến trên cho thấy:
- Tất cả các nhóm giải pháp đã đề xuất để nâng cao hiệu quả công tác GDHN đều có
tính cấp thiết cao (từ 4,93 đến 4,98 điểm), trong đó nhóm giải pháp thứ nhất và thứ năm
được các chuyên gia và các nhà QLGD cho là cấp thiết nhất (bình quân 4,97 - 4,98 điểm).
a. Thử nghiệm nhóm giải pháp Tổ chức nhận thức
* Nội dung thử nghiệm: Chúng tôi chỉ tập trung vào 2 kênh thông tin quan trọng để
quán triệt cho HS THPT, đó là:
- Nguồn thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng gần gũi hàng ngày như ti
vi, đài truyền thanh, báo chí, mạng Internet.
- Tổ chức các buổi tư vấn trực tiếp cho số đông học sinh (thông qua cán bộ
phụ trách
HN; giáo viên, đại diện một số tổ chức: Đoàn thanh niên, các trường dạy nghề, các cơ sở
sản xuất dịch vụ, đại diện các cơ quan truyền thông, Hội CMHS…
* Kết quả:
- Về tổ chức, bộ máy: Có 6/6 (100%) trường thành lập ban HN từ đầu năm học.
- Có 5249/6467 học sinh tham gia theo dõi các chương trình truyền hình, truyền
thanh hàng ngày (chiếm 81,11%).
- Có 6/6 trường có thư viện, phòng đọc, trong đó có 2 trường có thư việ
n điện tử hiện
đại (trường THPT chuyên lê Quý Đôn, THPT Thị xã Quảng Trị)
- Số HS đọc báo, truy cập thông tin trên mạng Internet: 3681/6467 (chiếm 56,91%)
- Phối hợp tổ chức được 8 buổi tư vấn trực tiếp cho 2.114 học sinh (6 trường) lớp
cuối cấp (không kể các buổi sinh hoạt HN theo thời khoá biểu hàng tuần, hàng tháng)
* Đánh giá kết quả:
22
+ Các phương tiện thông tin đại chúng đã bắt đầu vào cuộc, phối hợp với ngành GD
trong công tác phổ biến, tuyên truyền một số nội dung HN cho HSPT
+ Hầu hết các trường THPT đã triển khai và có những quy định cụ thể trong quá trình
tổ chức thực hiện hoạt động GDHN cho HS. Học sinh đã biết khai thác thông tin về HN và
nghề nghiệp trên mạng Internet và đọc báo hàng ngày.
+ Những trường ở thành phố hoặc trường trọng điể
m thuận lợi trong việc tổ chức
triển khai và tuyên truyền cho HS. Một số trường ở vùng khó, CSVC - thiết bị, đội ngũ giáo
viên HN còn thiếu thì khó khăn; kết quả là HS thành phố thường được GDHN, tư vấn nghề
- Cơ chế phối hợp với các trường
ĐH, CĐ, TC, các cơ sở dạy nghề.
- Cơ chế phối hợp với hội PHHS (Trường THPT - Đại diện hội CMHS).
* Kết quả:
- 100% trường THPT đã triển khai kế hoạch thử nghiệm theo đúng nội dung đã thống
nhất đầu năm học.
- Có 6/6 trường xây dựng cơ chế phối hợp với trung tâm KTTH-HN tổ chức cho HS
học nghề phổ thông; cử CBQL là Phó hiệu trưở
ng phụ trách hoạt động ngoài giờ lên lớp
trực tiếp theo dõi HS HN và học nghề tại trung tâm.
Kết quả của 5 trường THPT có 2.096 HS học nghề PT; có 4.615/6467 học sinh được HN
tại các trung tâm (chiếm 71,36%).
23
- Có 3/6 trường xây dựng cơ chế phối hợp với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất
(chiếm 50%).
- Có 4/6 trường thực hiện xây dựng cơ chế phối hợp với các trường ĐH, CĐ, TC, các
cơ sở dạy nghề (66,7%).
- Có 6/6 trường xây dựng cơ chế phối hợp với hội CMHS (100%).
* Đánh giá kết quả:
+ Các trường THPT đã nhận thức được sự cần thi
ết của việc xây dựng cơ chế phối
hợp trong quá trình tổ chức GDHN cho HS.
+ Tại các địa phương tiến hành hành thử nghiệm đều có trung tâm KTTH-HN, nên
tại đây các trường THPT đã phối hợp chặt chẽ với trung tâm từ khâu tuyên truyền chọn
nghề, quản lý HS học nghề và tổ chức tư vấn HN.
+ 34% số trường chưa xây dựng cơ chế phối hợp với các trường ĐH, C
Đ, các cơ sở
dạy nghề để tổ chức cho HS tham quan, đây là một thiệt thòi lớn cho HS.
3.4.3. Nhận xét về kết quả thử nghiệm ba nhóm giải pháp
Các giải pháp đề xuất đã được khảo nghiệm và thử nghiệm thực tế tại các trường
chức GDHN trong và ngoài nhà trường, giúp học sinh có kiến thức về nghề nghiệp và có
khả năng lựa chọn nghề nghệp trên cơ sở kết hợp giữa nguyện vọng, sở trường cá nhân với
nhu cầu sử dụng lao động của xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
và từng địa phương.
24
1.2. Thực trạng hiên nay GDHN ở nước ta đang còn nhiều bất cập, tình trạng thiếu
giáo viên, cơ sở vật chất thiết bị cho GDHN đã kéo dài nhiều năm. Công tác GDHN chỉ
được triển khai bó hẹp trong nhà trường, chưa huy động được sự tham gia của toàn xã hội.
Vai trò của các lực lượng xã hội trong GDHN còn mờ nhạt, các trường THPT chưa chủ
động xây dựng cơ chế phối hợp với các trườ
ng đại học, cao đẳng, trường nghề và các cơ sở
sản xuất dịch vụ trong việc tổ chức, quản lý GDHN cho học sinh.
Một trong những nguyên nhân cơ bản đó là các cấp QLGD chưa coi trọng vai trò
của các tổ chức xã hội, chưa phát huy được vai trò của cộng đồng trong công tác tổ chức và
quản lý GDHN cho học sinh phổ thông. Để giải quyết được vấn đề nêu trên, trong những
năm tớ
i các cấp quản lý giáo dục mà đặc biệt là các trường THPT cần làm tốt việc huy động
sức mạnh của các tổ chức xã hội tham gia GDHN nhằm đa dạng hoá các nguồn lực trong tổ
chức GDHN cho học sinh THPT.
1.3. Để đạt được những mục tiêu tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT
như trên, cần phải thực hiện các nhóm giải pháp sau đây:
+ Tổ chức nhận thức.
+ Tổ chức nội dung.
+ Cung ứng nhân lực.
+ Cung ứng vật lực, tài lực .
+ Tổ chức cơ chế phối hợp.
Các nhóm giải pháp tổ chức GDHN cho HS THPT theo tinh thần XHH nếu được tổ
chức thực hiện một cách đồng bộ sẽ mang lại hiệu quả trong việc giáo dục nhận thức, định
hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT. Đặc biệt làm thay đổi nhận thức của xã h
ội về