Vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông - Pdf 23

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
…  …
1. Lý do chọn đề tài
Kinh tế xã hội hiện nay đang phát triển rất nhanh chóng, điều đó kéo theo giáo
dục cũng phát triển theo một cách năng động. Cho nên, để đáp ứng được nhu cầu
mới và tình hình hiện nay của xã hội thì mỗi người trong xã hội phải làm sao chọn
cho mình một nghề nghiệp phù hợp với sở thích, năng lực cá nhân, cũng như là đáp
ứng đúng nhu cầu của xã hội đặt ra, có như vậy thì trong xã hội chúng ta mới thật
sự đứng vững vàng và tạo điều kiện cho xã hội ngày càng phát triển.
Hầu hết mọi người đều trải qua những năm tháng học tập trong các trường trung
học phổ thông (THPT). Khi rời ghế nhà trường, ai cũng phải tính đến việc tìm cho
mình một nghề để học và làm, tạo cho mình có một cuộc sống tự lập. Để giúp học
sinh (HS) chọn nghề phù hợp thì nhất thiết phải cần đến công tác giáo dục hướng
nghiệp (GDHN), công tác này giúp cho HS phổ thông định hướng nghề nghiệp,
am hiểu về các ngành, nghề, lựa chọn được ngành học, trình độ đào tạo phù
hợp; chủ động, sáng tạo trong học tập, giúp người học có thông tin về thị
trường lao động và tìm được việc làm phù hợp; tăng cường sự phối hợp giữa
cơ sở giáo dục với đơn vị sử dụng lao động để việc đào tạo của nhà trường tiếp
cận với thực tiễn và đáp ứng nhu cầu của xã hội.
1
HN cho HS phổ thông là một vấn đề rất quan trọng nhưng hiện nay chưa được
quan tâm đúng mức. Điều này tạo điều kiện cho HS chọn ngành nghề chưa thật sự
phù hợp với sở thích năng lực của bản thân, làm cho các em không phát huy đúng
mức khả năng của mình, đặc biệt là HS các vùng sâu vùng xa có quá ít thông tin về
tuyển sinh. Trong khi đó các giáo viên (GV) dạy môn "HN - dạy nghề" chỉ dạy
nghề chứ chưa thật sự HN. Các GV dạy môn này chưa được trang bị những kỹ năng
để HN mà chủ yếu truyền cho HS bằng kinh nghiệm của mình.
Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu về: “Vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh phổ thông” hiện nay là việc làm vô cùng cần thiết, cấp bách và có ý nghĩa to

Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
6. Cấu trúc của bài nghiên cứu
Nội dung
1. Cơ sở lý luận của đề tài
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
3. Đề xuất các giải pháp
Kết luận và đề nghị
1. Kết luận
2. Đề nghị
3
NỘI DUNG
…  …
1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1 Hướng nghiệp
HN được hiểu là sự tác động của một tổ hợp các lực lượng xã hội vào thế hệ trẻ,
lấy sự chỉ đạo của một hệ thống sư phạm làm trung tâm, giúp cho các em quen biết
với một số ngành nghề phổ biến để khi tốt nghiệp ra trường các em có thể lựa chọn
cho mình một cách có ý thức nghề nghiệp tương lai.
HN là khái niệm chung của một trong những lĩnh vực văn hóa xã hội, thực hiện
dưới hình thức quan tâm của xã hội và tạo nghề cho thế hệ đang lớn lên, hỗ trợ và
phát triển những thiên hướng và thực hiện đồng bộ các biện pháp chuyên môn tác
động đến con người trong việc tự xác định nghề nghiệp và chọn lựa hình thức tối ưu
để có việc làm, có tính đến nhu cầu và năng lực của con người, kết hợp với hoàn
cảnh kinh tế - xã hội trong thị trường lao động. Qua đó đảm bảo lợi ích tối đa của cá
nhân và xã hội, khai thác và sử dụng triệt để khả năng, tiềm năng và ưu thế của cá

Việc xác định cho bản thân một hướng đi, một nghề nghiệp chỉ có thể có được
những cá nhân có khả năng nhận thức và nhận thức một cách hợp quy luật đối với
5
sự vận động của đời sống xã hội, có khả năng xem xét, so sánh đánh giá những
dạng khác nhau của hoạt động lao động để đi tới những quyết định hợp lý cho bản
thân. Sự lựa chọn nghề là quá trình biểu hiện tính năng động của chủ thể, nó liên
quan đến những nội dung hay hình thức của đối tượng lựa chọn và chịu sự chi phối
của chính tính năng động xuất hiện trong bản thân của đối tượng lựa chọn. Điều
chỉnh, hướng dẫn và phát triển tính năng động này cho mỗi HS là trọng trách của
công tác HN, nó tham gia vào hệ thống khách quan trong quá trình điều chỉnh các
điều kiện chủ quan, giúp cho HS có sự định hướng và lựa chọn nghề nghiệp một
cách khoa học và đúng đắn, tạo ra sự thích ứng ở mức độ nhất định với nghề hoặc
lĩnh vực mà HS yêu thích và nếu chọn đúng ngành nghề, việc học tập trở nên hứng
thú hơn, hiệu quả tăng lên và xã hội bớt rất nhiều sự lãng phí do chuyển nghề hoặc
phải hành nghề bất đắc dĩ.
Chính và thế mà hiện nay công tác HN trong trường THPT được xem là việc
làm cần thiết, cấp bách và cần có biện pháp và hướng đi thật sự thích hợp phù hợp
với nhu cầu phát triển của xã hội.
1.3 Mục đích của giáo dục hướng nghiệp
HN có mục đích tổng quan chung là hình thành khả năng tự chủ trong công việc
chọn nghề cho HS trên cơ sở của sự phù hợp giữa năng lực, hứng thú, sở thích con
người với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội. GDHN góp phần nâng cao hiệu
quả lao động xã hội, điều chỉnh lực lượng lao động cho phù hợp.
Đối với HS THPT, GDHN sẽ giúp HS có được ý thức trong chọn nghề, có
định hướng đúng trong chọn nghề dựa trên sự hiểu biết về các nghề nghiệp
được HN, phù hợp với nhu cầu thị trường lao động, năng lực, sự yêu thích của
bản thân.
Trên cơ sở của công tác GDHN còn nâng cao sự nhận thức nghề nghiệp, là
quá trình tạo ra những điều kiện hiện thực để đưa HS vào thế giới của các
nghề nghiệp, tạo sự thích thú tìm hiểu nghề nghiệp một cách tự giác để chọn

kiện tìm hiểu nghề của địa phương, trong xã hội. Từ sự làm quen này, sẽ giúp cho
7
các em HS hiểu rằng những nghề nào đang cần phát triển nhất, thái độ đối với nghề
như thế nào là đúng… Đồng thời, HS còn phải biết những yêu cầu tâm sinh lý mà
nghề đặt ra, những điều kiện vào học nghề đó là như thế nào. Tóm lại, nhiệm vụ này
là hình thành ở HS những biểu tượng đúng đắn về những nghề cần phát triển.
- Nhiệm vụ thứ hai là hướng dẫn phát triển hứng thú nghề nghiệp: trong quá
trình tìm hiểu nghề, ở HS sẽ xuất hiện và phát triển hứng thú nghề nghiệp. Em HS
này thích nông nghiệp, em khác thích công nghiệp, có em lại chỉ chú ý đến nghệ
thuật Người làm HN sẽ hướng dẫn sự phát triển hứng thú của các em trên cơ sở
phân tích những đặc điểm, những điều kiện, những hoàn cảnh riêng của từng em
một.
Hứng thú là một động lực hết sức quan trọng để con người gắn bó với nghề. Vì
vậy, hứng thú được coi như một chỉ số quan trọng hàng đầu để xét sự phù hợp nghề
của con người. Song việc giáo dục đạo đức, giáo dục chính trị có ý nghĩa đối với sự
hình thành và phát triển hứng thú. Trong xã hội, không ít nghề ở ngoài sự định
hướng của HS. Nhưng khi thấy được hết tầm quan trọng của một nghề, có những
HS đã dứt khoát chọn nghề ấy, và cảm thấy thoải mái hoặc hài lòng với sự lựa chọn
của mình, từ đó nảy nở hứng thú với nghề.
- Nhiệm vụ thứ ba là giúp học sinh hình thành năng lực nghề nghiệp tương ứng:
Người ta chỉ có thể yên tâm sống lâu dài với nghề nếu họ có năng lực chuyên môn
thực sự, đóng góp được sức lực, trí tuệ một cách hữu hiệu với nghề của mình. Xét
đến cùng, ai cũng muốn có năng suất lao động cao, có uy tín trong lao động nghề
nghiệp. mặt khác, nghề nghiệp cũng không chấp nhận những người thiếu năng lực,
làm việc thiếu hiệu quả và năng suất không cao. Vì vậy, trong quá trình HN, phải
tạo điều kiện sao cho HS hình thành năng lực tương ứng với hứng thú nghề nghiệp
đã có.
Đối với HS THPT, con đường hình thành năng lực nghề nghiệp là tổ chức lao
động sản xuất kết hợp với dạy nghề, HS sẽ được thử sức trong các hình thức hoạt
động nói trên, từ đó năng lực nghề nghiệp sẽ nảy nở và phát triển.

điểm tâm sinh lí của HS.
- Là người chịu trách nhiệm đứng ra vận động lôi cuốn các tổ chức trong trường
cà ngoài xã hội liên quan đến HS trong lớp mình chủ nhiệm có thể tham gia vào
công tác HN.
- Kết hợp với giáo viên bộ môn (GVBM) của lớp mình tiến hành các hoạt động
GDHN hấp dẫn, gây hứng thú cho HS.
- Kết hợp và đề xuất với cơ quan làm công tác tuyển sinh của trường làm tốt
công tác GDHN cho HS.
b. Đối với giáo viên bộ môn
GVBM là người trực tiếp truyền thụ kiến thức trong lĩnh vưc khoa học cho HS,
lĩnh vực khoa học này được ứng dụng trong trong một số ngành nghề của xã hội.
Nhờ vào quá trình truyền thụ kiến thức đó mà người GVBM đã tạo nền móng cho
HS lĩnh hội kiến thức nghề nghiệp cho bản thân.
Nội dung tài liệu học tập của các bộ môn có thể và cần phải sử dụng vào công
tác HN cho HS. Lực lượng GVBM trong trường là rất lớn, là mạng lưới gắn chặt
các yếu tố thời gian và biện pháp tác động đến HS, làm cho công tác HN được tiến
hành liên tục, đa dạng ở mọi nơi, mọi chổ trong khuôn khổ trường THPT. Nhiệm vụ
GVBM bao gồm một số nội dung như:
- Cung cấp cho HS một số hiểu biết về nghề nghiệp ở địa phương và trong xã
hội.
- Phát hiện kịp thời và và có biện pháp thích đáng, phù hợp bồi dưỡng sự hứng
thú, năng lực của HS đối với bộ môn.
- Hướng dẫn cách tổ chức ngoại khóa về nội dung và phương pháp tiến hành để
đáp ứng sở thích năng lực hiểu biết, sáng tạo kỹ thuật của HS.
- Quan hệ mật thiết vớt một số cơ sở sản xuất và tổ chức xã hội, triển khai chu
đáo và có hiệu quả các buổi tham quan cho HS.
10
- Cung cấp một số tư liệu có liên quan đến các nghề trong xã hội góp phần xây
dựng phương hướng-hướng nghiệp cho nhà trường.
1.5.2 Nhiệm vụ của học sinh

Như vậy chọn nghề là một quá trình nhận thức và quyết định của chủ thể, thể
hiện tính năng động của chủ thể. Đó là quá trình khó khăn và chịu sự chi phối bởi
yếu tố khách quan, vượt ra ngoài sự kiểm soát của cá nhân đó. Vì vậy, cần có sự
định hướng của xã hội. Nói cách khác, cần phải có HN.
Định hướng nghề nghiệp là một điều tối cần thiết ngay từ khi HS còn trên ghế
nhà trường. Nhưng không phải bạn trẻ nào cũng có cái nhìn nghiêm túc về điều này.
Có không ít sinh viên ra trường lúng túng, không biết nên bắt đầu từ đâu, không biết
ngành học của mình sẽ ứng dụng vào những công việc cụ thể nào. Cũng không ít
HS không biết phải chọn ngành nghề nào để học tiếp sau khi học xong THPT.
Theo cô Nguyễn Hồng Mai, giảng viên Đại học Công nghệ Thành Phố Hồ Chí
Minh cho biết: "Nhiều sinh viên bây giờ chọn ngành học theo thời thượng, các em
không hiểu được tiềm năng của mình thực sự muốn gì, thích gì. Tôi nghĩ ngay từ khi
các em còn học phổ thông, gia đình nhà trường nên giúp các em có những định
hướng nghề nghiệp rõ ràng để các em không cảm thấy hối tiếc, cảm thấy chán nản
khi chọn sai ngành học thích hợp".
Thạc sĩ Phạm Công Tín là giảng viên giảng dạy môn Ngôn ngữ học ứng dụng,
Văn hóa và ngôn ngữ châu Á tại đại học Fullerton, với bằng cử nhân Anh văn của
trường San Bernardino và bằng thạc sĩ Ngôn ngữ học xã hội của trường Fullerton,
thuộc đại học California cho rằng: “Đa số các sinh viên dễ dàng chấp nhận những
công việc không phù hợp, trái với chuyên môn vì ngay từ đầu các em đã không xác
định được phương hướng học tập và ngành nghề phù hợp”.
Theo lời nhận xét này thì rõ ràng là các sinh viên này không được HN ngay từ
khi còn ngồi trên ghế trường phổ thông, không hiểu chính xác nghề nghiệp nên đã
chọn nghề không thật sự phù hợp. Từ đó cho chúng ta thấy rằng GDHN là quan
trọng và cần thiêt như thế nào. Nếu khi còn là HS THPT mà các em không được
HN một cách tỉ mỉ, đúng đắn và kỷ lưỡng thì chắc chắn sẽ có nhiều em rơi vào tình
12
cảnh của một số sinh viên như trên, từ đó không có động lực trong học tập và kết
quả học tập sẽ không sao có thể đạt cao được. Khi đó các em sẽ biết phải làm như
thế nào với công việc của chính bản thân đang theo học, một số trường hợp còn sinh

ngưỡng cửa nghề nghiệp.
- HN thông qua tổ chủ nhiệm, GVCN, GVBM, cán bộ của nhà trường.
- Thông qua giờ hoạt động ngoài giờ lên lớp.
- Các buổi sinh hoạt Đoàn, giờ sịnh hoạt lớp.
Các hoạt động này sẽ nhằm cung cấp cho HS về:
+ Thông tin nghề: Là giới thiệu cho HS về những loại hình sản xuất hiện đại,
tình hình thị trường lao động, những yêu cầucủa ngành nghề, về nội dung và triển
vọng phát triển của thị trường nghề nghiệp, những cách và điều kiện tiếp cận chúng,
những yêu cầu do các nghề đòi hỏi đối với con người, những khả năng tăng cường
và tự hoàn thiện trình độ nghề nghiệp trong quá trình hoạt động lao động.
+ Định hướng nghề: Giúp HS tự xác lập nghề nghiệp và đi tới quyết định một
cách có ý thức trong việc chọn lựa con đường nghề nghiệp phù hợp với những đặc
điểm tâm lý và khả năng của các em cùng với yêu cầu của xã hội.
+ Nhu cầu của xã hội đang cần những gì và số lượng như thế nào…
+ Thông tin về tuyển sinh của các năm học trước.
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.1 Kết quả điều tra
2.1.1 Điều tra
Sử dụng phiếu điều tra.
Phiếu điều tra (phần phụ lục)
2.1.2 Phương pháp điều tra
Đã tiến hành khảo sát 40 HS ở trường THPT Thống Linh bằng cách
- Sử dụng phiếu điều tra.
- Hỏi ý kiến của một số giáo viên.
- Hỏi một số HS trong lớp chủ nhiệm.
- Phân tích số liệu.
14
- Tổng hợp số liệu.
- Xử lý và đánh giá số liệu.
2.1.3 Kết quả điều tra

0
1
62.5
35
0
0
0
2.5
8
a
b
c
d
25
11
4
0
62.5
27.5
10
0
2
a
b
40
0
100
0
9
a

0
37.5
62.5
0
4
a
b
c
39
1
0
97.5
2.5
0
11
a
b
c
d
5
3
1
31
12.5
7.5
2.5
77.5
5
a
b

d
3
0
0
7.5
0
0
7
a
b
c
d
9
27
4
0
22.5
67.5
10
0
14
a
b
38
2
95
5
2.2 Đánh giá thực trạng
2.2.1 Đánh giá định tính
HN cho học sinh THPT là một vấn đề rất quan trọng nhưng chưa được quan tâm

Theo nhận định của tôi thì nhiều HS mơ hồ, lúng túng trước việc chọn trường,
chọn nghề, chọn việc, không hiểu ngành học, việc làm có phù hợp với năng lực hay
không. Lẽ ra HS phải được định hướng, trang bị hiểu biết ngay ở THPT. Có nhiều
em chỉ nghe theo gia đình để chọn nghề, vì sợ thất nghiệp, các em thiếu tự tin vào
bản thân mình khi quyết định chọn nghề.
Một số HS cũng biết nhờ cậy vào sách vở, tài liệu để tìm hiểu về ngành nghề,
nhưng một thực tế là những vùng sâu vùng xa thì đây là vấn đề hạn chế, các em ít
được tiếp xúc với nhiều thông tin nghề nghiệp.
Nếu công tác GDHN ở nhà trường không đạt hiệu quả, không đáp ứng được nhu
cầu của các em HS thì trách nhiệm lại được đặt lên vai phụ huynh và HS. Tuy
nhiên, việc này không hề dễ dàng. Cho nên, nhiều HS rất khó khăn trong việc ra
quyết định cho nghề nghiệp tương lai. Vì thế có thể khẳng định rằng GDHN và tư
vấn học đường là một nhu cầu không thể thiếu của HS. Vì vậy đa số HS bày tỏ nỗi
khát khao được tư vấn, HN để các em vững tin khi lựa chọn.
Học sinh THPT nói chung và học sinh lớp 12 nói riêng là lứa tuổi bắt đầu bước
vào ngưỡng cửa cuộc đời. Một cuộc sống tương lai đầy hấp dẫn, lý thú song cũng
17
đầy bí ẩn và khó khăn đang chờ đợi các em. Khác với thiếu niên, thanh niên HS có
sự chuẩn bị về tâm thế nên suy nghĩ của các em chín chắn hơn khi quyết định kế
hoạch đường đời của mình. Tuy nhiên trong thực tế, việc chọn nghề, quyết định
đường đời của HS THPT không đơn giản chút nào bởi vì ngành nghề trong xã hội
rất phong phú, mỗi ngành nghề đều có những yêu cầu riêng…
Hầu hết các em có mơ ước vào các trường đại học, trong khi xã hội đang cần rất
nhiều công nhân kỹ thuật lành nghề tham gia trực tiếp trong một số lĩnh vực nghề
nghiệp. Ước mơ của các em đôi khi còn rất xa với thực tế lao động, hoạt động nghề
nghiệp, chưa thấy được giá trị đích thực của các nghề. Các em có kỳ vọng quá cao
vào một số nghề nhưng khi tiếp xúc với nghề nghiệp trong thực tế thường làm các
em thất vọng. Chọn nghề mà hiểu biết quá ít, thậm chí không hiểu nghề định chọn
thì sớm muộn sẽ gặp trở ngại lớn trong hoạt động nghề nghiệp của cá nhân, tạo sự
hẫng hụt, bi quan chán nản, miễn cưỡng trong lao động, nhiều khi lỡ dở cả cuộc

hơn. Chỉ 2.5% là không muốn GV hướng dẫn mình thôi, vậy là số HS kém quan
tâm đến nghề nghiệp hiện nay còn rất ít, hay nói đúng hơn là số lượng không đáng
kể. Các em đã lo lắng và đã quan tâm nhiều hơn đến nghề của minh.
Để làm tốt công tác hướng nghiệp ở trường THPT, qua điều tra HS lớp 10 có
đến 92.5% HS đề xuất nhà trường nên có kế hoạch, tổ chức các buổi HN cho HS,
trong khi chỉ có 7.5% HS đề nghị để tự HS tìm hiểu lấy. Qua con số này thì rõ ràng
HS đã không còn bỏ qua việc chọn ngành nghề mà đã rất quan tâm ngay cả khi còn
học lớp 10, các em đã có sự quan tâm một cách rất nhiều và có sự chú ý thích đáng
đối với công tác này ở trường THPT mà các em đang theo học.
Kết quả khảo sát HS lớp 10 cho thấy phần lớn (67.5%) các em đang tìm hiểu
ngành nghề để chọn lựa khi ra trường. Một tín hiệu vui chính là ở điểm này, nó góp
phần cho công tác GDHN được tiến hành một cách thuận lợi cho các em HS được
lựa chọn ngành nghề dể dàng hơn.
Không ít (22.5%) HS đã mạnh dạn chọn cho mình một hướng đi cho tương lai.
Đây là số liệu thật đáng mừng vì có đến 62.5% là các em đã biết rất rõ về ngành
19
nghề của mình sẽ theo học sau khi tốt nghiệp THPT, các em đã tìm hiểu thật kỹ
trước khi chọn ngành nghề khi còn đang học lớp 10 là một tín hiệu đáng mừng và
đó chính là một động lực rất lớn giúp các em có ý chí phấn đấu nhiều hơn trong học
tập, và tất nhiên là kết quả học tập chắc chắn sẽ cao hơn. Song cũng không thể
không lo lắng vì có 27.5% chỉ biết sơ sơ, chút ít và 10% là chỉ nghe nói qua mà
thôi. Các em chưa thật sự tìm hiểu thật kỹ ngành nghề mà đã quyết định chọn nó
rồi, 22.5% số lượng này cũng không phải là ít.
Một số em (10%) thì chưa có động tịnh gì, chưa suy nghĩ gì về ngành nghề trong
tương lai cho bản thân. Tuy số lượng này không nhiều nhưng nó cũng là vấn đề
đáng lo ngại và cần quan tâm đối với công tác HN của trường THPT, có lẽ các em
cho rằng là HS lớp 10 thì việc chọn ngành nghề là không cần thiết, việc đó hãy đợi
lên lớp 12 hãy chọn cũng chưa muộn, nhưng các em đâu biết rằng đây là thời điểm
chọn cho mình một hướng đi là cần thiết, là vô cùng quan trọng cho tương lai.
Các ngành nghề mà các em đã lựa chọn cho bản thân đã được các em tìm hiểu

xác hơn, phù hợp hơn.
Kết quả này phản ánh công tác GDHN ở trường THPT hiện nay đã gây được
nhiều sự chú ý cho các em HS, đã phát huy được vai trò của nó trong việc hướng
dẫn HS. Tuy nhiên đó chưa được xem là tốt nhất và phải cần đặt ra các biện pháp,
hướng đi tốt hơn để giúp cho tất cả HS được hiểu rõ ngành nghề, cũng chọn cho bản
thân một hướng đi phù hợp với sự phát triển của xã hội, của đất nước.
3. Đề xuất các giải pháp
Để một đất nước phát triển thì nhân tố con người được đặt lên hàng đầu, bởi lẽ
nếu không có con người hay có nhưng con người không có hiểu biết không có kiến
thức thì dù có công nghệ phát triển đến đâu đi nữa thì cũng thể nào có thể vận hành
được, và tất nhiên là không thể nào tạo ra của cải vật chất và quốc gia không thể
phát triển được. Việt Nam cũng vậy, con người Việt Nam chính là nhân tố cốt lõi
để đất nước phồn thịnh, để đất nước bay lên như khát vọng của cả dân tộc. Đã
đến lúc chúng ta không thể giàu lên mãi khoáng sản, mà chúng ta phải làm
giàu bằng năng lực trí tuệ, bàn tay, khối óc của con người Việt Nam.
21
Vậy chúng ta đã làm gì để định hướng và phát triển nguồn nhân lực của mình?
Đó chính là tạo ra nguồn lao nhân lực dòi dào nhưng nhất thiết phải có trí tuệ, có
kiến thức, yêu nghề có tâm huyết với nghề và luôn phấn đấu cùng với sự phát triên
của xã hội. Vậy thì bằng cách nào chúng ta mới có thể tạo ra được nguồn nhân lực
tiên tiến như vậy dể phục vụ cho sự phát triển của đất nước? Đó chính là công tác
GDHN, đặc biệt là HN cho HS THPT, một lực lượng to lớn và năng động của đất
nước. Vậy thì chúng ta đã quan tâm đến hoạt động HN cho nguồn nhân lực tiềm
năng ấy đến đâu?
Trên thế giới, để hướng đến một nền kinh tế tri thức, một xã hội tri thức vào
năm 2010, châu Âu đã đề ra những mục tiêu Lisbon 2000, theo đó HN được đặt lên
hàng đầu trong chính sách giáo dục của mình. Mục tiêu đó không phải có được
trong ngày một ngày hai, mà họ đã phải trải qua một quá trình phát triển, từ thử
nghiệm đến rút kinh nghiệm rất nhiều lần.
Ở Việt Nam, hoạt động HN không phải không có, nhưng chưa thực sự đi vào

- Cần định kỳ tổ chức các bản báo cáo nghề nghiệp như yêu cầu công việc, kỹ
năng, bằng cấp, phẩm chất, thu nhập, thăng tiến, dự báo khuynh hướng và nhu cầu
của các ngành nghề trong xã hội. Những báo cáo thường niên loại này cung cấp rất
nhiều thông tin quan trọng trong việc chọn nghề của HS và góp phần tư vấn cân đối
cấu trúc nghề nghiệp của xã hội.
- Trường cần xây dựng các chương trình, soạn tài liệu HN dành một số tiết học
thích đáng để giới thiệu những nghề cơ bản đang cần phát triển cho HS. Nội dung
của công tác HN là tập trung giới thiệu ngành, chuyên ngành đào tạo của trường, cơ
hội tìm việc làm sau khi tốt nghiệp cho đối tượng tuyển sinh của trường, có thể giải
thích thêm về công việc của ngành học đó là gì để các em HS dể hiểu.
- Thiết lập hệ thống thông tin về việc làm, thông tin hai chiều giữa nhà trường và
đơn vị sử dụng lao động, giới thiệu việc làm cho người học. Xây dựng cơ sở dữ liệu
về người học đã tốt nghiệp theo từng năm học để cung cấp cho các tổ chức, cá nhân
có nhu cầu sử dụng lao động, khảo sát, thống kê về việc làm của người học sau khi
23
tốt nghiệp Phối hợp với các tổ chức, cá nhân, đơn vị sử dụng lao động trong việc
đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội.
- Có thể tổ chức sự liên kết giữa nhà trường và các trung tâm tư vấn tâm lý, tư
vấn hướng nghiệp của các trường đại học, các viện nghiên cứu hoặc các tổ chức, cá
nhân khác để triển khai ngay công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh, khắc phục
khó khăn về nguồn nhân lực, kinh phí đầu tư xây dựng một phòng chuyên môn mới
trong nhà trường.
- Các trường đại học, cao đẳng… nên xây dựng chuyên ngành về GDHN nhằm
đào tạo ra đội ngũ có kinh nghiệm về công tác này để phục vụ cho công tác GDHN
trong nhà trường nói chung và trường THPT nói riêng.
- Công tác giáo dục HN cho HS nên chuẩn bị từ năm lớp 10, cần phải có sự
chuẩn bị sớm cho HS định hướng nghề nghiệp, giúp các em có hướng phấn đấu để
đạt kết quả học tập ngày càng cao hơn. Chuẩn bị sớm như cũng giúp các em HS có
thể điều chỉnh cách chọn nghề của bản thân một cách kịp thời để không sai lầm khi
quyết định sau cùng là học xong lớp 12. Và như thế đến lớp 12 thì các em đã có sẵn

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status