Tìm hiểu và đánh giá thông tin về rối loạn tự kỷ của trẻ em và vị thành niên trên phương tiện truyền thông Internet - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN THÙY LINH TÌM HIỂU VÀ ĐÁNH GIÁ THÔNG TIN VỀ RỐI LOẠN TỰ KỶ
CỦA TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN TRÊN PHƯƠNG TIỆN
TRUYỀN THÔNG INTERNET Chuyên ngành:
TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN HÀ NỘI – 2011

1



MỤC LỤC

Trang
Phần một – MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
3.2 Khách thể nghiên cứu
5. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
6. Giới hạn của đề tài
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
7.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
7.3. Phương pháp nghiên cứu định lượng
7.4. Phương pháp xử lý thống kê
8. Đóng góp mới của đề tài
Phần hai – NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chƣơng 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới.

4

1.1.2. Những nghiên cứu về tự kỷ ở Việt Nam
1.2. Rối loạn tự kỷ ở trẻ em.
1.2.1. Định nghĩa
1.2.2. Dịch tễ

3.2.5. Phân tích thông tin về vấn đề thoái lui của rối loạn tự kỷ
3.2.6. Phân tích thông tin về các vấn đề khác thuộc triệu chứng
của rối loạn tự kỷ

3.3. Phân tích thông tin về nguyên nhân của rối loạn tự kỷ
3.3.1. Phân tích thông tin về nguyên nhân sinh học của rối loạn
tự kỷ
3.3.2. Phân tích thông tin về nguyên nhân môi trường của rối
loạn tự kỷ
3.3.3. Đánh giá một số thông tin sai về nguyên nhân của rối loạn
tự kỷ
3.4. Phân tích thông tin về các phƣơng pháp điều trị rối loạn
tự kỷ
3.4.1. Phân tích thông tin về các phương pháp Y sinh học
3.4.2. Phân tích thông tin về các phương pháp tâm lý giáo dục
3.4.3. Đánh giá một số thông tin sai về phương pháp điều trị rối
loạn tự kỷ
3.5. Phân tích thông tin về dịch vụ cho trẻ có rối loạn tự kỷ
3.6. Phân tích thông tin về tự kỷ trên Youtube và Facebook
Phần ba - KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1- Kết luận
2 - Khuyến nghị
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
6

Phụ lục 1 - Bảng mã code
Phụ lục 2 - Đánh giá về các phƣơng pháp điều trị tự kỷ dựa trên
các nghiên cứu thực chứng:
Phụ lục 3 - Các nghiên cứu thực chứng về nguyên nhân của rối

1. Lý do chọn đề tài.
Tự kỷ là một rối loạn phát triển về thần kinh, đƣợc đặc trƣng bởi sự
suy yếu trong tƣơng tác xã hội, giao tiếp và hành vi. Tiêu chí để chẩn
đoán tự kỷ là những rối loạn này cần xuất hiện trƣớc khi trẻ lên ba [23].
Từ những mô tả đầu tiên về tự kỷ bởi Hans Asperger (1938) [27] và Leo
Kanner (1943) [48], những nghiên cứu về tự kỷ trên thế giới đã tiến
những bƣớc dài, từ nghiên cứu mô tả, tìm hiểu nguyên nhân, phƣơng
pháp điều trị, các vấn đề tâm lý-xã hội liên quan của tự kỷ, cho đến cơ
chế hoạt động não bộ của ngƣời tự kỷ. Các nghiên cứu về tự kỷ ở Việt
Nam cũng nở rộ trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, chủ yếu dừng lại ở
mức mô tả triệu chứng và các đặc điểm liên quan, hoặc thái độ của gia
đình và phụ huynh, và tìm hiểu một số cách thức can thiệp, giáo dục [1],
[5]. Chúng tôi chƣa thấy có nghiên cứu nào trong hay ngoài nƣớc đánh
giá thông tin về tự kỷ trên các phƣơng tiện truyền thông ở cả nƣớc ngoài
và Việt Nam. Tuy nhiên, có một vài nghiên cứu về việc tìm kiếm thông
tin về sức khỏe tâm thần nói chung trên internet, nhƣ nghiên cứu của
Powell và Clarke (2006) trên 917 ngƣời tại Anh. Các tác giả đã tìm ra
rằng có 18% số ngƣời dùng internet tìm kiếm các thông tin về sức khỏe
tâm thần và ngƣời nào càng có vấn đề về tâm lý thì mức độ tìm kiếm càng
nhiều. Một điểm đáng chú ý là nghiên cứu này đã đƣợc thực hiện cách
đây 16 năm, khi các công cụ tìm kiếm và lƣợng thông tin trên mạng toàn
cầu không thể so sánh với sự phát triển nhƣ vũ bão hiện nay [76]. Một
nghiên cứu khác đƣợc thực hiện bởi Nemoto và các cộng sự (2007) về
chất lƣợng thông tin về sức khỏe tâm thần và rối loạn tâm thần trên 37
trang web tại Nhật Bản. Kết quả cho thấy nhìn chung chất lƣợng thông tin
thấp và mang tính thƣơng mại [69].
8

Ở Việt Nam, những năm gần đây, cùng với sự thay đổi mạnh mẽ về
kinh tế và sự phát triển đột biến của công nghệ thông tin và liên lạc, thông

- Tìm hiểu các thông tin về hội chứng tự kỷ trên các phƣơng tiện truyền
thông.
- Đánh giá chất lƣợng thông tin trên cơ sở khoa học nhằm giúp cộng
đồng có cách định hƣớng và sàng lọc thông tin chính xác hơn về rối loạn
tự kỷ, từ đó góp phần cải thiện đƣợc nhận thức của cộng đồng, thái độ và
hành động của họ đối với trẻ tự kỷ.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu đã nêu, nhiệm vụ nghiên cứu cụ
thể của đề tài nhƣ sau:
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan để thiết lập cơ sở lý luận cho đề tài.
- Khảo sát nguồn thông tin trên internet về các vấn đề khái niệm tự kỷ,
triệu chứng thƣờng gặp, đánh giá mức độ tự kỷ, phƣơng pháp điều trị.
- Đánh giá các thông tin thu thập dƣợc dựa trên tiêu chuẩn DSM-IV,
ICD-10 và các nghiên cứu thực chứng.
- Đề xuất một số ý kiến giúp cộng đồng sàng lọc thông tin tự kỷ trên
internet

4. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài này là các thông tin về rối loạn tự
kỷ của trẻ em và vị thành niên trên phƣơng tiện truyền thông internet.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài này là các trang báo điện tử,
website, diễn đàn trên mạng internet với số lƣợng tổng cộng là 325 trang
thông tin. Chủ yếu thông tin về tự kỷ trên internet là về trẻ em và vị thành
niên vì đây là đối tƣợng rất đƣợc quan tâm.

10

7.4 Phương pháp xử lý thống kê
Phần mềm Microsoft Excel đƣợc sử dụng các để thực hiện phép
thống kê cơ bản để xử lý số liệu định lƣợng thu đƣợc từ phần mềm
Atlas.Ti.

8. Đóng góp mới của đề tài
Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam tìm hiểu và đánh giá thông
tin về tự kỷ trên internet, vì vậy đề tài sẽ đóng góp về mặt lý thuyết cho
lĩnh vực nghiên cứu tự kỷ ở Việt Nam, cũng nhƣ đóng góp về mặt thực
tiễn trong việc định hƣớng thông tin cho xã hội về một trong những dạng
rối loạn bí ẩn và thiếu sự thống nhất của một lớp ngƣời quan trọng và
đƣợc quan tâm nhiều nhất, đó là rối loạn tự kỷ ở trẻ em và vị thành niên.
12

Phần hai
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN

Để tìm hiểu cơ sở lý luận cho nghiên cứu này, chúng tôi đã xem xét
từ các nguồn tƣ liệu đáng tin cậy khác nhau nhƣ thƣ viện Quốc gia, thƣ
viện Đại học Quốc gia Hà Nội, thƣ viện khoa Giáo dục Đặc biệt – Đại
học Sƣ phạm Hà Nội. Ngoài ra chúng tôi cũng sử dụng các công cụ tìm
kiếm thông tin trực tuyến nhƣ PsyINFO
1
, các website tìm kiếm tài liêu
học thuật nhƣ , ,

sau này khi Leo Kanner (1894 - 1981) phát hiện, ngƣời ta mới thấy đó
chính là những trẻ bị tự kỷ. Trong cuốn sách ―Hiện tƣợng tự kỷ‖, Lorna
Wing (1978) đã tìm ra những dấu hiệu của rối loạn tự kỷ liên quan đến
nhân vật ―Sƣ huynh Juniper‖. Theo nhận định của tác giả, ngƣời này có
những biểu hiện tự kỷ nhƣ không muốn giao tiếp hay tiếp xúc, thờ ơ với
mọi ngƣời xung quanh, thích những họat động nhàm chán lặp đi lặp lại,
không hiểu và đáp lại những tình cảm. Tuy chƣa khẳng định một cách
chắc chắn ―Sƣ huynh Juniper‖ có bị tự kỷ hay không, nhƣng mô tả của
Lorna Wing cho thấy một số biểu hiện mà ngày nay chúng ta thƣờng gặp
ở ngƣời bị tự kỷ. Theo các tài liệu mô tả lâm sàng, vào thời điểm những
năm 70 của thế kỷ XVIII, bác sỹ Jean Marc Itard (1774-1838) đã tiếp
nhận một cậu bé ―hoang dã‖ tên là Victor. Những mô tả cho thấy, cậu bé
không có khả năng hiểu và biểu đạt ngôn ngữ, không có khả năng giao
tiếp hoặc nhận thức, các ứng xử xa lạ với cuộc sống của xã hội loài
ngƣời. Nói chung, Victor bị mất khả năng giao tiếp về mặt xã hội và
không có khả năng nhận thức nhƣ trẻ bình thƣờng. Ngày nay, ngƣời ta
cho rằng, Victor bị tự kỷ.
Những ví dụ trên giúp chúng ta khẳng định rằng tự kỷ đã tồn tại từ
lâu trong lịch sử loài ngƣời. Thuật ngữ Tự kỷ (Autism) đƣợc bác sỹ tâm
thần ngƣời Thụy Sỹ Engen Bleuler (1857-1940) đƣa ra năm 1919 để mô
14

tả giai đoạn bắt đầu của rối loạn thần kinh ở ngƣời lớn, đây là hiện tƣợng
mất nhận thức thực tế của ngƣời bệnh khi cách ly với đời sống thực tại
hàng ngày và nhận thức của ngƣời bệnh có xu hƣớng không thống nhất
với kinh nghiệm thông thƣờng của họ [52].
Tự kỷ thực sự đƣợc công nhận vào năm 1943 trong một bài báo
―Autism Disturbance of Effective Contract‖, đƣợc mô tả một cách rõ ràng
và khoa học bởi bác sỹ tâm thần ngƣời Mỹ là Leo Kanner [48]. Ông đã
hiểu tự kỷ theo một sắc thái khác và không giống Bleuler. Mô tả của ông

Trong những thập niên nửa cuối của thế kỷ 20, nhiều cuộc tranh cãi đã
diễn ra xung quanh việc định nghĩa tự kỷ. Theo Lorna Wing và Judith
Gould (1979), các hội chứng mà Kanner và Asperger mô tả thuộc về
nhóm nhỏ nằm trong một dãy các dạng rối loạn gây ảnh hƣởng xấu tới
quan hệ tƣơng tác và giao tiếp xã hội, các rối loạn này có thể có ở các trẻ
với bất kỳ mức độ trí tuệ nào và gắn với những vấn đề thể chất nào đó
hoặc với khuyết tật khác về phát triển. Từ đó Lorna Wing đƣa ra khái
niệm Rối loạn phổ Tự kỷ (Autism Spectrum Disorder, viết tắt là ASD) để
khái quát hiện tƣợng phức tạp này [94], [95].
Trong suốt quá trình phát hiện và nghiên cứu tự kỷ, các nhà khoa
học đã đƣa ra các tiêu chuẩn chẩn đoán đƣợc khái quát đầy đủ trong hai
bảng phân loại bệnh là DSM-IV
1
và ICD-10
2
. Đây là hai bảng phân loại
bệnh tật có uy tín nhất vào thời điểm hiện nay trên thế giới.
1.1.2. Những nghiên cứu về tự kỷ ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tự kỷ mới đƣợc quan tâm khoảng hơn một thập kỷ trở
lại đây. Nhìn chung các nghiên cứu vẫn ở mức độ khám phá, đánh giá về
đặc điểm của tự kỷ, vấn đề chẩn đoán, và hiệu quả của việc ứng dụng các
phƣơng pháp điều trị nƣớc ngoài.

1
Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders 4th edition – Sổ tay thống kê và chẩn đoán các
rối loạn tâm thần Hoa Kỳ, phiên bản 4
2
International Classification of Diseases and Related Health Problems (10th edition) – Phân loại bệnh
tật và các vấn đề liên quan đến sức khỏe quốc tế, phiên bản 10.
16

17

Bệnh viện Nhi Trung ương‖ do bác sỹ Quách Thúy Minh và các cộng sự
tại bệnh viện Nhi Trung ƣơng thực hiện. Nghiên cứu đƣợc tiến hành trên
45 trẻ tự kỷ bằng cách thực hiện quan sát lâm sàng, làm các trắc nghiệm
tâm lý nhƣ thang đánh giá mức độ tự kỷ, trắc nghiệm Denver và tiến hành
điều trị tâm vận động và sử dụng hóa dƣợc cho trẻ. Kết quả trị liệu cho
thấy có 55,5% trẻ tăng khả năng giao tiếp bằng mắt, 64,1% giảm tăng
động và 77,8% giảm xung động. Trong luận án tiến sĩ của mình, tác giả
Ngô Xuân Điệp có nghiên cứu về ―Nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỷ tại
Thành phố Hồ Chí Minh‖ (2009), đi sâu vào nghiên cứu nhận thức của trẻ
tự kỷ về sự vật và hiện tƣợng liên quan đến sự vật hàng ngày, từ đó đƣa
ra các biện pháp can thiệp phù hợp [8].
Về chẩn đoán tự kỷ, hai tác giả Trần Văn Công và Vũ Thị Minh
Hƣơng tiến hành nghiên cứu ―Xung quanh vấn đề chẩn đoán trẻ tự kỷ
hiện nay‖ (2011). Nghiên cứu này xem xét tính chính xác của chẩn đoán
trên 20 trẻ đã đƣợc chẩn đoán là tự kỷ ở các phòng khám và bệnh viện.
Các tác giả đã chỉ ra một loạt nguy cơ chẩn đoán sai gây hậu quả nghiêm
trọng cho trẻ và các bậc phụ huynh. Cuối cùng nghiên cứu đƣa ra một số
kiến nghị trong chẩn đoán tự kỷ [6].
Về can thiệp và điều trị cho tự kỷ, tác giả Nguyễn Thị Diệu Anh và
cộng sự tại bệnh viện Nhi Đồng 1TP HCM thực hiện nghiên cứu ―Ứng
dụng việc chăm sóc tại nhà cho trẻ có rối loạn tự kỷ‖. Nghiên cứu tiến
hành trên 10 trẻ tự kỷ đƣợc tiến hành can thiệp bằng phƣơng pháp
TEACCH tại gia đình với sự tham gia can thiệp của 10 giáo dục viên đặc
biệt. Trƣớc và sau một năm can thiệp trẻ đƣợc đánh giá bằng trắc nghiệm
tâm lý – giáo dục PEP (Psychology Education Profile). Kết quả nghiên
cứu cho thấy, cả 10 trẻ đều có tiến bộ rõ rệt. Trong nghiên cứu này, tác
giả đã cho thấy tính hiệu quả của phƣơng pháp TEACCH trong điều trị tự
kỷ ở Việt Nam. Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu nhƣ: ―Đánh

Tự kỷ là một rối loạn phát triển lan tỏa ở mức độ từ nhẹ đến nặng,
khởi phát sớm từ khi trẻ còn nhỏ (thƣờng là trƣớc 3 tuổi) và diễn biến kéo
19

dài. Biểu hiện chung của rối loạn tự kỷ là những khiếm khuyết về tƣơng
tác xã hội, giao tiếp và những hành vi định hình cùng với ý thích bị thu
hẹp. Bên cạnh đó, trẻ thƣờng có những rối loạn cảm giác và tăng động.
[2]
1.2.2 Dịch tễ
Tỉ lệ chẩn đoán trẻ mắc tự kỷ trong những năm gần đây có xu
hƣớng tăng lên, trong đó tự kỷ điển hình, hay còn gọi là tự kỷ Kanner,
chiếm 16,8%, còn lại là những thể khác. Trẻ trai mắc tự kỷ nhiều hơn trẻ
gái từ 4 đến 6 lần. Theo những số liệu mới nhất, cứ một trong 88 trẻ em
Mỹ bị tự kỷ (theo Trung tâm Kiểm soát Bệnh dịch Hoa Kỳ, 2012)
1
.
1.2. 3. Nguyên nhân của tự kỷ
Cho đến nay ngƣời ta chƣa tìm ra nguyên nhân chính xác của tự
kỷ, ngoại trừ việc có vẻ nhƣ nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra những
loại tự kỷ khác nhau. Những nguyên nhân này có thể bắt nguồn từ môi
trƣờng, sinh học và gen di truyền. Cho đến nay, các nghiên cứu cho thấy
gen di truyền là một trong các yếu tố có thể gây tự kỷ. Nghiên cứu cho
thấy trong những trẻ sinh đôi cùng trứng, khi một trẻ bị tự kỷ thì từ 36
đến 95% trẻ còn lại cũng bị tự kỷ. Ở trẻ sinh đôi không cùng trứng, khi
một trẻ bị tự kỷ, trẻ kia cũng bị từ 0 đến 31% số lần.
Các nghiên cứu cũng cho thấy, bố mẹ nào đã có một con bị tự kỷ
thì cũng có khả năng đứa con còn lại bị tự kỷ từ 2 đến 18%. Tự kỷ cũng
xuất hiện nhiều hơn ở những ngƣời bị một bệnh khác. Khoảng 10% trẻ tự
kỷ cũng bị một bệnh về gen, thần kinh, chuyển hóa/trao đổi chất nhƣ: Hội
chứng Nhiễm sắc thể X dễ vỡ, bệnh xơ cứng, hội chứng Down, và các rối

tƣơng tác xã hội nhƣng vẫn có quan hệ với ngƣời thân, có khả năng nói
đƣợc nhƣng cách giao tiếp bất thƣờng, không chậm phát triển nhận thức.
Các dấu hiệu bất thƣờng xuất hiện sau 3 tuổi.
• Hội chứng Rett: hầu nhƣ chỉ có trẻ gái bị mắc, sự thoái triển các
kỹ năng ngôn ngữ, giao tiếp, tƣơng tác, vận động xảy ra khi trẻ ở lứa tuổi
6 – 18 tháng, có những động tác định hình ở tay, vẹo cột sống, chậm phát
triển trí tuệ mức nặng.

1

21

• Rối loạn phân rã tuổi ấu thơ: sự thoái lùi phát triển đáng kể xảy
ra trƣớc 10 tuổi về các kỹ năng: ngôn ngữ, xã hội, kiểm soát đại tiểu tiện,
kỹ năng chơi và vận động.
• Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu: có những dấu hiệu bất
thƣờng thuộc một trong 3 lĩnh vực của tự kỷ điển hình nhƣng không đủ
để chẩn đoán tự kỷ điển hình. Dạng này thƣờng là tự kỷ mức độ nhẹ, tự
kỷ không điển hình.
1.2.4.2. Phân loại theo khả năng trí tuệ và phát triển ngôn ngữ, bao
gồm tự kỷ có trí tuệ cao và nói đƣợc; tự kỷ có trí tuệ cao nhƣng không nói
đƣợc; tự kỷ có trí tuệ thấp và nói đƣợc; tự kỷ có trí tuệ thấp và không nói
đƣợc.
1.2.4.3. Phân loại theo khả năng giao tiếp, bao gồm loại không
phản ứng: hoàn toàn từ chối giao tiếp; giao tiếp thụ động: chấp nhận giao
tiếp nhƣng không chủ động; giao tiếp chủ động nhƣng bất thƣờng.
1.2.5. Biểu hiện lâm sàng
1.2.5.1. Thiếu hụt những kỹ năng tương tác xã hội là vấn đề cơ bản
của tự kỷ. Những biểu hiện sớm của khiếm khuyết này bao gồm kém
hoặc không giao tiếp bằng mắt, ít đáp ứng khi gọi tên, không dùng những

theo khi ngƣời thân chỉ vào thứ quen thuộc, hiểu các bƣớc trong việc làm
thƣờng qui.
• Giai đoạn giao tiếp sớm: tƣơng tác với ngƣời thân trong tình
huống quen thuộc, chơi luân phiên trong trò chơi có ngƣời; biết yêu cầu
ngƣời thân tiếp tục trò chơi bằng cách dùng những âm thanh, từ hoặc
hành động; lặp lời hoặc nhại lời khi ngƣời khác yêu cầu; bắt đầu biết
phản kháng hoặc từ chối; đôi khi dùng cử động cơ thể, âm thanh hoặc từ
ngữ để gây chú ý tới ngƣời khác; hiểu câu đơn giản quen thuộc, hiểu tên
của đồ vật và ngƣời quen mà không cần gợi ý bằng mắt.
• Giai đoạn đối tác: tham gia lâu hơn vào sự tƣơng tác chơi với trẻ
khác trong những trò chơi quen thuộc, biết dùng từ để yêu cầu / phản
23

kháng/chào hỏi / gây chú ý / trả lời câu hỏi, nói đƣợc câu ngắn, bắt đầu
dùng từ để bày tỏ tình cảm, hiểu ý nghĩa của nhiều từ khác nhau
1.2.5.3. Những biểu hiện bất thường về hành vi định hình, thƣờng
gặp trẻ hay đi kiễng gót chân, quay tròn ngƣời, giơ tay ra nhìn, cử động
các ngón tay bất thƣờng, nghiêng đầu liếc mắt nhìn, lắc lƣ thân mình, đƣa
tay vào miệng, nhảy chân sáo, chạy đi chạy lại, nhẩy lên nhảy
xuống…Những thói quen rập khuôn thƣờng gặp là: quay bánh xe, quay
tròn đồ chơi, gõ đập đồ chơi tạo âm thanh, đi về theo đúng con đƣờng
quen thuộc, ngồi đúng một chỗ trong lớp, nằm đúng một vị trí, đóng mở
cửa nhiều lần, giở sách xem tranh xem chữ, bóc nhãn hiệu từ một đồ
hàng, thích bật công tắc điện, bấm máy vi tính, bấm điện thoại, tỉ mỉ tháo
rời những chi tiết của đồ vật, xếp các thứ thành hàng…Những ý thích của
trẻ bị thu hẹp thể hiện nhƣ: cuốn hút trong nhiều giờ để xem ti vi quảng
cáo hoặc chỉ xem một số chƣơng trình yêu thích, luôn cầm nắm một đồ
vật trong tay nhƣ bút, que , tăm, giấy, chai lọ, một số đồ chơi có mầu ƣa
thích hoặc có độ cứng mềm khác nhau.
Nhìn chung, trẻ tự kỷ tìm kiếm sự an toàn trong môi trƣờng ít biến

chậm phát triển trí tuệ và tăng hoạt động, 25% có nguy cơ động kinh. Một
số trẻ lớn có tình trạng trầm cảm, lo âu và kích động.
1.2.6. Sàng lọc, đánh giá và chẩn đoán
Để sàng lọc phát hiện sớm trẻ tự kỷ ở lứa tuổi 16- 24 tháng tuổi áp
dụng bảng hỏi M-CHAT (Modified Checklist for Autism in Toddlers)
gồm 23 câu hỏi khác nhau. Sử dụng thang đo mức độ tự kỷ CARS
(Chilhood Autism Rating Scale) để phân loại mức độ tự kỷ nhƣ nhẹ,
trung bình và nặng. Thang đo này đánh giá biểu hiện của tự kỷ ở 15 mục
khác nhau và cho điểm mỗi mục từ 1 đến 4 điểm tùy theo mức độ nặng
của các dấu hiệu. Nếu điểm của CARS từ 31 đến 35 điểm là tự kỷ nhẹ và
trung bình, nếu từ 36 đến 60 điểm là tự kỷ nặng.
Ở các cơ sở y tế Việt Nam, trẻ nghi ngờ bị tự kỷ thƣờng đƣợc đánh
giá sự phát triển tâm vận động cho trẻ dƣới 6 tuổi có thể sử dụng trắc
25

nghiệm Denver II và Bayley. Đối với trẻ lớn trên 6 tuổi có thể làm test trí
tuệ nhƣ Raven, Gille, WISC. Trẻ tự kỷ thƣờng có biểu hiện tăng hoạt
động nên có thể thang liệt kê hành vi trẻ em CBCL (Child Behavior
Check List).
Hiện nay chƣa có xét nghiệm sinh học nào mang tính đặc hiệu để
chẩn đoán tự kỷ. Một số xét nghiệm nhƣ chụp cắt lớp vi tính, MRI, kiểm
tra thính, thị giác… đƣợc chỉ định khi nghi ngờ trẻ có những bệnh lý thực
thể kèm theo.
1.2.6.1. Chẩn đoán xác định
Việc chẩn đoán trẻ bị tự kỷ nên thận trọng vì nếu chẩn đoán quá
mức sẽ gây ra những lo lắng cho gia đình, nhƣng nếu bỏ sót sẽ làm mất
cơ hội can thiệp sớm cho trẻ.
Bước 1 là chẩn đoán sàng lọc: dựa vào hỏi tiền sử, bệnh sử kết hợp
với quan sát trẻ trong một số hoàn cảnh khác nhau để đƣa ra những nhận
định ban đầu. Trẻ cần đƣợc khám nội khoa, thần kinh toàn diện. Tiếp theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status