Thực trạng biểu hiện lo âu của học sinh Trung học phổ thông huyện Chương Mỹ - Thành phố Hà Nội - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGÔ THỊ LIÊN

THỰC TRẠNG BIỂU HIỆN LO ÂU CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN CHƢƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Mã số: Thí điểm
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đỗ Ngọc Khanh

HÀ NỘI - 2013

2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, cán bộ giảng viên trường Đại
học Giáo dục - ĐHQG Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong chương trình đào
tạo thạc sĩ Tâm lý học Lâm sàng trẻ em và vị thành niên - Trường Đại học


4
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 1.1: Bảng so sánh lo âu bình thường và rối lọan lo âu
14
Bảng 2.1: Tổng số học sinh tham gia điều tra
30
Bảng 2.2: Độ tin cậy của thang Zung.
32
Bảng 3.1: Tương quan giữa mức độ lo âu ở học sinh và khả năng
phân loại được bệnh

47
Bảng 3.2: Bảng thống kê điểm trung bình của các item theo các mức
độ lo âu


Biểu đồ 3.10: Tương quan mức độ lo âu với khối lớp
56
Biểu đồ 3.11: Tương quan của mức độ lo âu với yếu tố trường
57
Biểu đồ 3.12: Tương quan của mức độ lo âu với yếu tố học lực
57

6
MỤC LỤC

Trang
Lời cảm ơn
i
Danh mục viết tắt
ii
Danh mục các bảng
iii
Danh mục các biểu đồ
iv
Mục lục…………………………………………………………………….
v

2.1.1. Kế hoạch nghiên cứu
25
2.1.2. Giới thiệu địa điểm nghiên cứu
25
2.1.3. Triển khai nghiên cứu
26
2.2. Phương pháp nghiên cứu
27
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
27
2.2.2. Phương pháp quan sát
28
2.2.3. Phương pháp trò chuyện, tọa đàm
29
2.2.4. Phương pháp trắc nghiệm (sử dụng thang đo)
29
2.2.5. Phương pháp nghiên cứu bằng bảng hỏi
32
2.2.6. Phương pháp phỏng vấn sâu
34
2.2.7. Phương pháp thống kê toán học
34
2.3. Đạo đức nghiên cứu
35
Tiểu kết chương 2
35
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
37
3.1. Mô tả mẫu nghiên cứu
37

TÀI LIỆU THAM KHẢO
62
9
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Xã hội phát triển làm cho đời sống của con người ngày một tốt đẹp hơn,
nhưng cũng phức tạp hơn. Con người phải chịu nhiều áp lực từ công việc, gia
đình, các mối quan hệ v.v…chính những áp lực cuộc sống là những yếu tố tác
động đến sức khỏe tinh thần của chúng ta, nó làm nảy sinh các vấn đề có liên
quan đến căn nguyên tâm lý, trong đó có rối loạn lo âu.
Lo âu là hiện tượng tự nhiên, hết sức bình thường của con người khi họ
gặp những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Các nhà khoa học cho rằng có
một chút (10%) lo âu là cần thiết cho một người bình thường. Nhưng vấn đề
lại ở chỗ, không phải lúc nào người ta cũng có một chút lo âu, rất nhiều

rối loạn lo âu ở con em mình để hỗ trợ các em kịp thời. Song việc nghiên cứu
theo hướng này lại chưa nhiều, chưa có các nghiên cứu điển hình.
Huyện Chương Mỹ nằm ở phía tây nam của thành phố Hà Nội. Đây là
khu vực tập trung nhiều trường THPT với số lượng học sinh rất lớn. Tuy
nhiên việc nghiên cứu vấn đề lo âu của học sinh THPT tại khu vực này còn
khá mới mẻ. Vì thế tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng biểu hiện lo âu của học
sinh Trung học phổ thông huyện Chương Mỹ - Thành phố Hà Nội” để tìm
hiểu thực trạng các biểu hiện lo âu của lứa tuổi học sinh THPT. Đồng thời,
qua đây, chúng tôi có thể đưa ra được một vài khuyến nghị cho các ngành, các
cấp và đặc biệt là với các bậc phụ huynh trong cách quan tâm, dạy dỗ con cái
mình nhằm giảm thiểu nguy cơ rối loạn lo âu ở các em học sinh trong lứa tuổi
trung học phổ thông.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng biểu hiện lo âu của học sinh THPT huyện chương
Mỹ - thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó chỉ ra một vài biểu hiện điển hình khi

11
các em có lo âu nhằm giúp phụ huynh sớm nhận biết dấu hiệu rối loạn lo âu
ở con em mình từ đó phòng tránh và can thiệp kịp thời.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
240 học sinh THPT tại huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện lo âu của học sinh THPT.
4. Giả thuyết khoa học
- Tỉ lệ lo âu ở học sinh THPT huyện Chương Mỹ là rất đáng kể. Tuy
nhiên mức độ lo âu nghiêm trọng sẽ không chiếm phần nhiều.
- Một số yếu tố như lớp học, giới tính, gia đình, nhà trường có thể ảnh
hưởng đến tỉ lệ học sinh mắc lo âu.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phương pháp làm trắc nghiệm tâm lý: Sử dụng trắc nghiệm đánh giá lo âu
Zung để chẩn đoán biểu hiện RLLA của học sinh THPT huyện Chương Mỹ
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 16.0
và Excel để xử lý những kết quả thu được.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu.

13
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu lo âu trên thế giới và ở Việt Nam
Lo âu là cảm xúc thường gặp của con người với nhiều mức độ khác
nhau. Sự trải nghiệm cảm xúc này hầu hết là do đáp ứng với các kích thích
của môi trường và thường chỉ là những biểu hiện nhất thời. Tuy nhiên cũng có
nhiều người khi đối mặt với những khó khăn, nguy hiểm, áp lực…của cuộc
sống đã lo âu quá mức trở thành rối loạn lo âu [23]. Lo âu quá mức gây ảnh
hưởng đến các chức năng của con người: chức năng học tập, giao tiếp…Vì
vậy trong suốt lịch sử phát triển của khoa học tâm lý, y học, lo âu là đối tượng
được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Do cách tiếp cận hoàn cảnh nghiên cứu
khác nhau nên nghiên cứu lo âu cũng rất đa dạng.
1.1.1. Trên thế giới
Trên thế giới, lo âu nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
và thực hành. Các nghiên cứu tậ
p trung vào các hướng nghiên cứu về lo âu như khái niệm, biểu hiện, phân
loại và nguyên nhân.
Hướng nghiên cứu về khái niệm Lo âu

bản chất. Freud đã tách ra 1 hội chứng riêng biệt gọi là “tâm căn lo âu”
(anxiety neurosis) từ suy nhược thần kinh. Vào thời điểm đó, rối loạn phân ly
và rối loạn nghi bệnh được xếp vào suy nhược thần kinh và được cho là bệnh
lý tâm thần, còn tình trạng hoảng sợ có kèm lo âu - theo Freud có liên quan
đến những yếu tố sinh học cơ thể [26].
Tuy không có bằng chứng khoa học xác đáng, nhưng học thuyết này
cũng làm sáng tỏ thêm về bản chất bên trong của lo âu và thể hiện một cách
nhìn mới về lâm sàng. Quan điểm về bệnh học này đã để lại ảnh hưởng trong
một thời gian dài những năm đầu thế kỷ XXI.

15
Hướng nghiên cứu về phân loại rối loạn lo âu được nhiều nhà tâm lý
quan tâm và đưa ra các cách phân loại khác nhau:
Năm 1960, khi bàn về lo âu và rối loạn lo âu, Donald Klein đề nghị
chia ra hai thực thể khác nhau là rối loạn hoảng loạn và lo âu lan tỏa mãn
tính [12; 125].
Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 8 (ICD8, 1968) tổ chức Y tế
thế giới cho rằng, lo âu được xếp vào lo âu tâm căn (tức là bệnh do căn
nguyên tâm lí).
Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 9, (ICD9, 1978), mặc dù đã có
nhiều tiến bộ, nhiều thay đổi trong bảng phân loại, nhưng họ vẫn xếp các
trạng thái lo âu vào các rối loạn tâm căn, tuy nhiên bắt đầu theo hướng mô tả
các triệu chứng thuần túy về các mức độ khác nhau của các rối loạn lo âu.
Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 [32,tr.116] đã ghi nhận sự kết
hợp quan trọng của các rối loạn này với các nguyên nhân tâm lí. Rối loạn lo
âu được xếp vào các rối loạn tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể.
Nhìn chung các nghiên cứu kể trên đã đề cập đến một số cách phân loại
rối loạn lo âu. Tuy nhiên việc phân loại đó chưa thực sự cụ thể. Bởi lẽ RLLA
còn liên quan đến nhiều vấn đề khác như: Biểu hiện cơ thể, nhận thức, cảm
xúc, các nguyên nhân

nghiên cứu về nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng hay một số biện pháp trị
liệu rối loạn lo âu ở trẻ em như:
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy trong luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của
một số yếu tố tâm lý đến rối loạn lo âu của trẻ em”, đã chẩn đoán và trị liệu cho
42 trẻ em từ 7 – 15 tuổi có RLLA đến khám tại khoa Tâm bệnh - viện nhi Quốc
Gia từ tháng 8/2001 đến tháng 8/2002. Tác giả đã đưa ra rất nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến RLLA của các em như: RLLA có liên quan đến gia đình, RLLA có
liên quan đến học tập, RLLA có liên quan đến môi trường xã hội [19].

17
Trong luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu một số nguyên nhân gây ra rối
loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông”, tác giả Nguyễn Hằng Phương
cho biết: trong số 600 khách thể nghiên cứu thì có 130 em RLLA, chiếm
21,66%. Và cũng đưa ra bốn nhóm nguyên nhân chính gây ra RLLA của
học sinh là nhóm nguyên nhân liên quan đến học tập, nhóm nguyên nhân
liên quan tới gia đình, nhóm nguyên nhân liên quan đến quan hệ xã hội,
nhóm nguyên nhân liên quan tới bản thân học sinh. [16]
Nghiên cứu về trị liệu lo âu ở trẻ em, phải kể đến nhóm tác giả: Trần
Thành Nam, Đặng Hoàng Minh, Nguyễn Thị Hồng Thúy, Cao Vũ Hùng
với đề tài: “Bước đầu áp dụng mô hình trị liệu nhận thức hành cho trẻ
em có rối loạn lo âu‟‟. Nghiên cứu đã lựa chọn 20 trẻ được chẩn đoán là
rối loạn lo âu để điều trị bằng xây dựng mô hình hành vi - nhận thức.
Sau 8 buổi làm việc nhóm tác giả công bố: có 11 trẻ cùng gia đình tuân
thủ đầy đủ cam kết, 9 trẻ cùng gia đình không tuân thủ đầy đủ cam kết
và kết quả là thang điểm CBCL của trẻ đã giảm hẳn, trẻ hết rối loạn lo âu
theo chuẩn đoán của DSM IV [20].
Trong đề tài: “Tác động của trị liệu hành vi - nhận thức đến học sinh
trung học phổ thông có rối loạn lo âu dựa trên định hình trường hợp” tác giả
Huỳnh Hồ Ngọc Anh đã lựa chọn 2 trong số 15 học sinh có điểm lo âu từ 40
đến 55 để định hình trường hợp và trị liệu hành vi - nhận thức. Kết quả cho

chờ và suy nghĩ về một điều gì đó có thể để mà không chắc có thể đối phó
được là lo. Nếu sự việc cụ thể mà đã từng gây nguy hiểm thì là lo sợ. Trong
nhiều trường hợp, đặc biệt khi tâm lý bị rối loạn, một triệu chứng thường gặp
là mối lo nhưng cụ thể không thật rõ là lo về cái gì, sợ về cái gì, đó là hãi.
[21,tr 190].
Theo Nguyễn Viết Thêm, Lã Thị Bưởi, Trần Viết Nghị [11, tr.41] “Lo
âu là trạng thái cảm xúc thông thường của con người trước những sự kiện của
cuộc sống ( thi cử, xung đột trong các mối quan hệ, bệnh tật, tai nạn…) là tín

19
hiệu báo trước một sự trở ngại sắp xảy ra, kèm theo sự suy diễn tính toán sắp
đặt của quá trình tư duy trước sự thay đổi của cuộc sống hàng ngày và cho
phép con người sử dụng mọi biện pháp để giải quyết, đương đầu với đe dọa.
Lo âu bình thường sẽ hết khi mọi chuyện đã giải quyết xong. Khi vượt qua
được lo âu và sợ hãi thông thường trong cuộc sống hàng ngày, con người sẽ
có thêm kinh nghiệm và thích nghi với cuộc sống để phát triển các chức năng
tâm lý”.
Từ những cách hiểu khác nhau về lo âu vừa trình bày trên, chúng ta có
thể xem xét thuật ngữ lo âu qua những điểm sau:
- Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người
trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người
phải tìm cách vượt qua để tồn tại.
- Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xẩy đến,
cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa.
- Lo âu là một đáp ứng với một sự đe dọa nào đó mà cá nhân không biết
được rõ ràng, mơ hồ, thường phát sinh từ bên trong và mang tính xung đột,
mâu thuẫn.
Trong đề tài này chúng tôi thống nhất hiểu khái niệm lo âu theo khái
niệm lo âu của Nguyễn Viết Thêm, Lã Thị Bưởi, Trần Viết Nghị [11,tr.41]
“Lo âu là trạng thái cảm xúc thông thường của con người trước những sự

Những người bị rối loạn lo âu, trầm cảm, stress dai dẳng thường có biểu hiện
mất ngủ, bực bội, bất an, trí nhớ và khả năng lao động giảm sút.
Jitender [26], Julie Schulz [27] , Peter Tyrer [30] đã khái quát một số
đặc điểm của rối loạn lo âu như sau:
+ Đó là một trạng thái cảm xúc với tính chất trải nghiệm chủ quan về
sợ hoặc cảm xúc có liên quan gần như thế (kinh hãi, tổn hại, hoảng hốt khiếp
sợ, hoảng sợ, bối rối, kinh sợ, kinh hoàng).
+ Cảm xúc xấu: Có thể là cảm giác cái chết đe dọa hoặc là suy sụp.

21
+ Đó là sợ trực tiếp cho tương lai, trong đó có cảm giác đe dọa của
nguy hiểm đang đến.
+ Có những đe dọa hoặc là không thể nhận ra được, hoặc theo tiêu
chuẩn hợp lí, đe dọa ấy không cân xứng với cảm xúc đó gây nên.
+ Có những khó chịu chủ quan về cơ thể như là cảm giác thắt lại trong
ngực, cảm giác thít chặt trong cổ họng và khó thở.
+ Có các rối loạn cơ thể bao gồm các hoạt động tự ý (thí dụ, kêu thét
lên, chạy trong khi hoảng sợ) hoặc các hoạt động không hoàn toàn hoặc hoàn
toàn tự ý (thí dụ: khô mồm, ra mồ hôi, nôn và đánh trống ngực).
Theo DSM-IV, rối loạn lo âu là những lo sợ thái quá về một số sự
kiện hoặc các hành vi kéo dài trong nhiều ngày, xẩy ra lặp đi lặp lại ít nhất
trong 6 tháng. Cá nhân thường có khó khăn trong sự kiểm soát những lo lắng
và thường có những dấu hiệu thực thể chẳng hạn như là sự căng cơ, cáu bẳn,
khó ngủ và cảm giác bất an…
Theo Kazdin [22,tr.48] sự phân biệt giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh
lý chính là mức độ khó khăn trong việc kiểm soát loại bỏ hoặc lo âu.
Lo âu bệnh lý là lo âu không phù hợp với hoàn cảnh, không có chủ đề rõ
ràng, mang tính chất vô lý, mơ hồ, thời gian thường kéo dài. Mức độ lo âu
gây trở ngại rõ rệt đến các hoạt động của bệnh nhân. Lo âu lặp đi lặp lại với
nhiều triệu chứng cơ thể như: mạch nhanh, chóng mặt, khô miệng, vã mồ hôi,

Không có hoặc có rất ít rối loạn
thần kinh thực vật
Nhiều rối loạn thần kinh thực vật
(mạch nhanh, thở gấp, chóng
mặt, khô miệng, vã mồ hội, lạnh
chân tay, run rẩy, bất an)

Từ các cách hiểu về RLLA như trên, chúng tôi thống nhất hiểu khái
niệm rối loạn lo âu theo DSM-IV như sau: „„Rối loạn lo âu là những lo sợ
thái quá về một số sự kiện hoặc các hành vi kéo dài trong nhiều ngày, xẩy
ra lặp đi lặp lại ít nhất trong 6 tháng. Cá nhân thường có khó khăn trong
sự kiểm soát những lo lắng và thường có những dấu hiệu thực thể chẳng
hạn như là sự căng cơ, cáu bẳn, khó ngủ và cảm giác bất an
Theo khái niệm này, những người có RLLA phải đảm bảo một số yếu
tố: bệnh nhân không thể kiểm soát cảm xúc, hành vi, suy nghĩ cũng như
trạng thái cơ thể ít nhất 6 tháng. Bệnh nhân có những sợ hãi, lo lắng thái quá
về một vấn đề nào đó. Và bệnh nhân có những triệu chứng cơ thể như tim đập
nhanh, vã mồ hôi, bất an, đứng ngồi không yên, mất ngủ, ăn không
ngon Những nghi thức, cảm xúc sợ hãi thái quá này phải duy trì liên tục ít

23
nhất 6 tháng thì mới đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh.
1.2.3. Khái niệm học sinh trung học phổ thông
Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia: Bậc trung học phổ thông là một
trong số các bậc học của hệ thống giáo dục ở Việt Nam hiện nay, nó sau tiểu
học, trung học cơ sở và trước cao đẳng, đại học. Trung học phổ thông là bậc
học kéo dài 3 năm (từ lớp 10 đến lớp 12). Để tốt nghiệp bậc học này, học sinh
phải vượt qua kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông vào cuối năm học lớp 12
(trước đây thường gọi là thi tú tài) [33].
Như vậy, học sinh THPT là những em học sinh từ lớp 10 đến lớp 12 ở các

niên mới lớn, thanh niên học sinh). Đây cũng là giai đoạn nối tiếp thời kỳ dậy
thì, thời gian quan trọng của một đời người. Chính vì có sự thay đổi lớn như
thế nên tâm sinh lí của các em cũng có những đặc điểm rất khác biệt và đặc
biệt hơn hẳn những giai đoạn trước.
- Đặc điểm sinh lý:
Do sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh trung ương
và các giác quan nên có sự thay đổi trong chiều cao, cơ thể phát triển. Ở các
em nam thì cao vọt lên, râu cằm, ria mép, cơ bắp nổi lên, hoàn thiện dần chức
năng làm cha…còn ở các em gái thì cơ thể duyên dáng, mềm mại hơn, hoàn
thiện chức năng làm mẹ… nói chung là ở thời gian này, các em đã có sự chín
muồi về mặt sinh lí, cơ thể.
- Đặc điểm tâm lý:
+ Sự phát triển tự ý thức:
Ở lứa tuổi này các em có sự nhìn nhận về bản thân khá nghiêm túc và
sâu sắc hơn lứa tuổi học sinh trung học cơ sở. Các em không chỉ đánh giá,
nhìn nhận cái tôi trong hiện tại mà còn so sánh với quá khứ và nhận thức vị trí
của mình trong tương lai. Các em đánh giá cao vai trò của mình trong gia đình
và xã hội do vậy các em thường chủ động tham gia vào các hoạt động để
khẳng định hơn nữa vị trí, vai trò của mình. Việc khẳng định bản thân là một

25
nhu cầu tương đối cao của các em vì thế các em phải tự hoàn thiện để đáp ứng
với yêu cầu của gia đình và xã hội. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện không
phải lúc nào cũng suôn sẻ vì thế khi mong ước của các em không thực hiện
được sẽ gây cho các em sự lo lắng, chán nản và thất vọng.
+ Lý tưởng sống và tính tích cực xã hội của học sinh THPT.
Lứa tuổi này các em thể hiện lý tưởng sống khá rõ, các em tạo lên áp
lực cố gắng hết sức trong học tập để có thể khẳng định bản thân. Đồng thời
thiên hướng lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai là một trong những yếu tố
khiến học sinh THPT căng thẳng và mệt mỏi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status