ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGÔ THỊ LIÊN
THỰC TRẠNG BIỂU HIỆN LO ÂU CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN CHƢƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Mã số: Thí điểm
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đỗ Ngọc Khanh
HÀ NỘI - 2013
1
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, cán bộ giảng viên trường Đại
học Giáo dục - ĐHQG Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong chương trình đào
4. HS
: Học sinh
5. ICD
: Bảng phân loại bệnh tật quốc tế
6. RLLA
: Rối loạn lo âu
7. THCS
: Trung học cơ sở
8. THPT
: Trung học phổ thông
3
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ học sinh có RLLA phân bố theo các dạng ........................ 45
Biểu đồ 3.8: Tỷ lệ học sinh mắc các RLLA đồng thời ................................... 48
Biểu đồ 3.9: Các biểu hiện cơ thể của HS có RLLA ...................................... 52
Biểu đồ 3.10: Tương quan mức độ lo âu với khối lớp .................................... 56
Biểu đồ 3.11: Tương quan của mức độ lo âu với yếu tố trường ..................... 57
Biểu đồ 3.12: Tương quan của mức độ lo âu với yếu tố học lực .................... 57
5
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn ......................................................................................................
i
Danh mục viết tắt ............................................................................................
ii
Danh mục các bảng ......................................................................................... iii
Danh mục các biểu đồ ..................................................................................... iv
16
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 24
Chƣơng 2: TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......... 25
2.1. Tổ chức nghiên cứu .................................................................................. 25
6
2.1.1. Kế hoạch nghiên cứu ............................................................................ 25
2.1.2. Giới thiệu địa điểm nghiên cứu ............................................................. 25
2.1.3. Triển khai nghiên cứu ........................................................................... 26
2.2. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 27
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu........................................................... 27
2.2.2. Phương pháp quan sát .......................................................................... 28
2.2.3. Phương pháp trò chuyện, tọa đàm ...................................................... 29
2.2.4. Phương pháp trắc nghiệm (sử dụng thang đo) ...................................... 29
2.2.5. Phương pháp nghiên cứu bằng bảng hỏi ............................................... 32
2.2.6. Phương pháp phỏng vấn sâu ................................................................. 34
2.2.7. Phương pháp thống kê toán học ........................................................... 34
2.3. Đạo đức nghiên cứu ................................................................................. 35
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 35
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 37
3.1. Mô tả mẫu nghiên cứu.............................................................................. 37
3.2. Thực trạng lo âu của học sinh trung học phổ thông tham gia
nghiên cứu .............................................................................................
41
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội phát triển làm cho đời sống của con người ngày một tốt đẹp hơn,
nhưng cũng phức tạp hơn. Con người phải chịu nhiều áp lực từ công việc, gia
đình, các mối quan hệ v.v…chính những áp lực cuộc sống là những yếu tố tác
động đến sức khỏe tinh thần của chúng ta, nó làm nảy sinh các vấn đề có liên
quan đến căn nguyên tâm lý, trong đó có rối loạn lo âu.
Lo âu là hiện tượng tự nhiên, hết sức bình thường của con người khi họ
gặp những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Các nhà khoa học cho rằng có
một chút (10%) lo âu là cần thiết cho một người bình thường. Nhưng vấn đề
lại ở chỗ, không phải lúc nào người ta cũng có một chút lo âu, rất nhiều
người lo âu đã trở nên thái quá và thành bệnh lí. Người mắc rối loạn lo âu có
khó khăn trong việc thực hiện chức năng của mình, cuộc sống cá nhân của
họ bị đảo lộn, họ mất ăn, mất ngủ, hay ăn không ngon, ngủ không yên, tâm
thần bất an. Nghiên cứu thực nghiệm tác động cho thấy, có thể làm giảm
mức độ rối loạn lo âu bằng những biện pháp hỗ trợ tâm lý thích hợp (biện
pháp trị liệu hành vi - nhận thức của tác giả Huỳnh Hồ Ngọc Anh, trong luận
văn “Tác động của trị liệu hành vi - nhận thức đến học sinh trung học phổ
thông có rối loạn lo âu dựa trên định hình trường hợp”. Kết quả cho thấy các
em đều giảm lo âu rõ rệt và có được công cụ để đương đầu với lo âu trong
tương lai).
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ rối loạn lo âu ở trẻ em từ 4 đến 18 tuổi
tương đối cao. Theo một báo cáo của Hoàng Cẩm Tú, ở hai phường Kim Liên
và Trung Tự (Hà Nội) rối loạn lo âu - trầm cảm ở lứa tuổi 4 đến 18 chiếm
2,22% [10, tr.106]. Tỉ lệ rối loạn lo âu ở trẻ em tại khoa Tâm thần Viện Nhi
chiếm 30% các rối loạn tâm thần, trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất ở lứa tuổi vị
thành niên (75,29%) [17]. Khi nghiên cứu trên 600 học sinh trung học phổ
9
Ket-noi.com
trung học phổ thông.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng biểu hiện lo âu của học sinh THPT huyện chương
Mỹ - thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó chỉ ra một vài biểu hiện điển hình khi
10
các em có lo âu nhằm giúp phụ huynh sớm nhận biết dấu hiệu rối loạn lo âu
ở con em mình từ đó phòng tránh và can thiệp kịp thời.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
240 học sinh THPT tại huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện lo âu của học sinh THPT.
4. Giả thuyết khoa học
- Tỉ lệ lo âu ở học sinh THPT huyện Chương Mỹ là rất đáng kể. Tuy
nhiên mức độ lo âu nghiêm trọng sẽ không chiếm phần nhiều.
- Một số yếu tố như lớp học, giới tính, gia đình, nhà trường có thể ảnh
hưởng đến tỉ lệ học sinh mắc lo âu.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu các vấn đề lý luận về lo âu.
- Tìm hiểu về khái niệm học sinh THPT và đặc điểm tâm lý của học sinh
THPT có liên quan đến rối loạn lo âu
- Khảo sát thực trạng các biểu hiện lo âu của học sinh 4 trường THPT tại
huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội.
- Chỉ ra một vài biểu hiện điển hình khi các em có lo âu nhằm giúp phụ
huynh sớm nhận biết dấu hiệu rối loạn lo âu ở con em mình từ đó phòng
tránh và can thiệp kịp thời.
- Đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm giảm thiểu tình trạng rối loạn lo
- Phương pháp làm trắc nghiệm tâm lý: Sử dụng trắc nghiệm đánh giá lo âu
Zung để chẩn đoán biểu hiện RLLA của học sinh THPT huyện Chương Mỹ
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 16.0
và Excel để xử lý những kết quả thu được.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu.
12
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu lo âu trên thế giới và ở Việt Nam
Lo âu là cảm xúc thường gặp của con người với nhiều mức độ khác
nhau. Sự trải nghiệm cảm xúc này hầu hết là do đáp ứng với các kích thích
của môi trường và thường chỉ là những biểu hiện nhất thời. Tuy nhiên cũng có
nhiều người khi đối mặt với những khó khăn, nguy hiểm, áp lực…của cuộc
sống đã lo âu quá mức trở thành rối loạn lo âu [23]. Lo âu quá mức gây ảnh
hưởng đến các chức năng của con người: chức năng học tập, giao tiếp…Vì
vậy trong suốt lịch sử phát triển của khoa học tâm lý, y học, lo âu là đối tượng
được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Do cách tiếp cận hoàn cảnh nghiên cứu
khác nhau nên nghiên cứu lo âu cũng rất đa dạng.
1.1.1. Trên thế giới
Trên thế giới, lo âu nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
và thực hành. Các nghiên cứu tậ
p trung vào các hướng nghiên cứu về lo âu như khái niệm, biểu hiện, phân
Tiếp đó, vào năm 1871 Jacob DaCosta đã mô tả các triệu chứng tim
mạch mạn tính mà không có tổn thương thực thể và có liên quan đến những
than phiền về mệt mỏi, lo lắng và buồn phiền. DaCosta đã mô tả các triệu
chứng lo âu gọi là trạng thái tim bị kích thích [12,tr.123].
Vào nửa sau của thế kỷ 19, các nhà tâm thần học Pháp và Đức bắt đầu
quan tâm đến yếu tố sinh học trong các rối loạn tâm thần. Khi nghiên cứu về
các biểu hiện của lo âu, Benedict Morel (1809 –1873) đã khẳng định rằng có
mối liên quan chặt chẽ giữa lo âu với các triệu chứng cơ thể và sự thay đổi ở
hệ thần kinh tự trị [26].
Đến năm 1894, trong học thuyết của Freud về chứng suy nhược thần
kinh lần đầu tiên khái niệm lo âu được tiếp cận và được làm sáng tỏ về mặt
bản chất. Freud đã tách ra 1 hội chứng riêng biệt gọi là “tâm căn lo âu”
(anxiety neurosis) từ suy nhược thần kinh. Vào thời điểm đó, rối loạn phân ly
và rối loạn nghi bệnh được xếp vào suy nhược thần kinh và được cho là bệnh
lý tâm thần, còn tình trạng hoảng sợ có kèm lo âu - theo Freud có liên quan
đến những yếu tố sinh học cơ thể [26].
Tuy không có bằng chứng khoa học xác đáng, nhưng học thuyết này
cũng làm sáng tỏ thêm về bản chất bên trong của lo âu và thể hiện một cách
nhìn mới về lâm sàng. Quan điểm về bệnh học này đã để lại ảnh hưởng trong
một thời gian dài những năm đầu thế kỷ XXI.
14
Hướng nghiên cứu về phân loại rối loạn lo âu được nhiều nhà tâm lý
quan tâm và đưa ra các cách phân loại khác nhau:
Năm 1960, khi bàn về lo âu và rối loạn lo âu, Donald Klein đề nghị
chia ra hai thực thể khác nhau là rối loạn hoảng loạn và lo âu lan tỏa mãn
tính [12; 125].
Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 8 (ICD8, 1968) tổ chức Y tế
mien phi
phi
nay, con số trung bình 3,4% trẻ em có biểu hiện rối nhiễu hành vi trở thành
con số độc nhất mà ngành tâm thần vẫn công bố trong một số hội thảo.
Nghiên cứu những biểu hiện rối loạn tâm lí trẻ em chỉ diễn ra lẻ tẻ ở một
vài địa phương trong một thời điểm nhất định. Tìm hiểu vấn đề này chúng
tôi đã thu được những số liệu như sau ở Việt Nam:
- Nghiên cứu của Trần Viết Nghị (1994) cho thấy 75% bệnh nhân tâm căn
nghi bệnh có lo âu sợ hãi [13].
- Trong nghiên cứu của Nguyễn Công Khanh sử dụng thang đánh giá lo âu
Spiebeger trên 503 học sinh cấp II thấy có 17,65% - 19,2% học sinh có
trải qua biểu hiện của RLLA [7].
- Theo Bác sĩ Ngô Thanh Hồi - Giám đốc Bệnh viện Tâm thần ban ngày
Mai Hương trong một cuộc khảo sát gần đây đưa ra con số, gần 20% trẻ
dưới 16 tuổi có vấn đề sức khỏe tâm thần [4].
- Còn theo một số tài liệu của Bệnh viện tâm thần trung ương, năm
2005,trong số gần 5000 người có biểu hiện “bất bình thường” đến khám
thì có 30% là học sinh, sinh viên. Tỉ lệ này ở một số trường học là 20%
học sinh lo lắng và có biểu hiện rối loạn tâm trí.
Như vậy, với những số liệu nhỏ lẻ mà chúng tôi tìm hiểu được thì hiện
nay, tỷ lệ rối loạn lo âu ở lứa tuổi học sinh là khá cao.
Gần đây, có một số công trình nghiên cứu của các tác giả đã đi sâu
nghiên cứu về nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng hay một số biện pháp trị
liệu rối loạn lo âu ở trẻ em như:
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy trong luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của
một số yếu tố tâm lý đến rối loạn lo âu của trẻ em”, đã chẩn đoán và trị liệu cho
42 trẻ em từ 7 – 15 tuổi có RLLA đến khám tại khoa Tâm bệnh - viện nhi Quốc
Gia từ tháng 8/2001 đến tháng 8/2002. Tác giả đã đưa ra rất nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến RLLA của các em như: RLLA có liên quan đến gia đình, RLLA có
lệ lo âu, nhiên cứu nguyên nhân lo âu, trị liệu lo âu…) nhưng trên phương
diện tiếp cận chúng tôi nhận thấy có khá ít những nghiên cứu về các biểu
17
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
hiện cụ thể của lo âu ở học sinh THPT. Vì thế trong luận văn này chúng tôi
đi sâu tìm hiểu các biểu hiện cụ thể của lo âu mà học sinh THPT mắc phải.
1.2. Các khái niệm công cụ
1.2.1. Khái niệm lo âu
Có nhiều định nghĩa khác nhau về lo âu:
Theo Mike Nichols trong bài viết về “Lo âu bình thường và Rối loạn lo
âu lan tỏa”, cho rằng: Lo âu thường gặp là một cảm giác sợ hãi mơ hồ, khó
chịu, lan tỏa cùng với rối loạn cơ thể ở bất cứ bộ phận nào, ít nhất trong thể nhẹ
và nhất thời, chúng ta thường thấy mang tính chu kỳ. Lo âu có thể là hoạt động
thích nghi như là một tín hiệu báo động và báo trước sự đe dọa bên ngoài hoặc
bên trong và hậu quả là tạo ra hoạt động thích hợp [29].
Theo Kazdin [22, tr.47], lo âu về bản chất là đáp ứng với một đe dọa
không được biết trước từ bên trong, mơ hồ hay có nguồn gốc xung đột.
Theo tác giả Đinh Đăng Hòe: Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên
(bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự
nhiên, xã hội, mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, hướng tới [3,37].
Theo tác giả Nguyễn Minh Tuấn: Lo âu là một rối loạn có cấu trúc
mâu thuẫn.
Trong đề tài này chúng tôi thống nhất hiểu khái niệm lo âu theo khái
niệm lo âu của Nguyễn Viết Thêm, Lã Thị Bưởi, Trần Viết Nghị [11,tr.41]
“Lo âu là trạng thái cảm xúc thông thường của con người trước những sự
kiện của cuộc sống (thi cử, xung đột trong các mối quan hệ, bệnh tật, tai
nạn…) là tín hiệu báo trước một sự trở ngại sắp xảy ra, kèm theo sự suy
diễn tính toán sắp đặt của quá trình tư duy trước sự thay đổi của cuộc sống
hàng ngày và cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để giải quyết,
đương đầu với đe dọa. Lo âu bình thường sẽ hết khi mọi chuyện đã giải
quyết xong. Khi vượt qua được lo âu và sợ hãi thông thường trong cuộc
sống hàng ngày, con người sẽ có thêm kinh nghiệm và thích nghi với cuộc
sống để phát triển các chức năng tâm lý”.
19
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Như vậy, đối với mỗi con người, trạng thái lo âu xuất hiện trong cuộc
sống của họ là chuyện bình thường, phải lo lắng về điều gì đó cũng giống
như những việc làm hàng ngày khác của họ: lo cái ăn, cái mặc, lo học hành,
tu dưỡng, lo nghĩ về các mối quan hệ... Và lo âu là điều kiện tiên quyết để
mỗi người hoàn thiện bản thân mình, làm tốt mọi việc được giao, tạo ra cuộc
sống tốt đẹp hơn cho chính mình và những người xung quanh.
Nhưng nếu những lo âu đó kéo dài, lo âu với những nguyên nhân
+ Có các rối loạn cơ thể bao gồm các hoạt động tự ý (thí dụ, kêu thét
lên, chạy trong khi hoảng sợ) hoặc các hoạt động không hoàn toàn hoặc hoàn
toàn tự ý (thí dụ: khô mồm, ra mồ hôi, nôn và đánh trống ngực).
Theo DSM-IV, rối loạn lo âu là những lo sợ thái quá về một số sự
kiện hoặc các hành vi kéo dài trong nhiều ngày, xẩy ra lặp đi lặp lại ít nhất
trong 6 tháng. Cá nhân thường có khó khăn trong sự kiểm soát những lo lắng
và thường có những dấu hiệu thực thể chẳng hạn như là sự căng cơ, cáu bẳn,
khó ngủ và cảm giác bất an…
Theo Kazdin [22,tr.48] sự phân biệt giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh
lý chính là mức độ khó khăn trong việc kiểm soát loại bỏ hoặc lo âu.
Lo âu bệnh lý là lo âu không phù hợp với hoàn cảnh, không có chủ đề rõ
ràng, mang tính chất vô lý, mơ hồ, thời gian thường kéo dài. Mức độ lo âu
gây trở ngại rõ rệt đến các hoạt động của bệnh nhân. Lo âu lặp đi lặp lại với
nhiều triệu chứng cơ thể như: mạch nhanh, chóng mặt, khô miệng, vã mồ hôi,
lạnh chân tay, run rẩy, bất an...[11].
Chúng ta có thể căn cứ vào bảng sau để phân biệt rõ hơn về lo âu
bình thường và rối loạn lo âu. Trong luận văn này, chúng tôi cũng dựa vào
những tiêu chí này để xem xét những biểu hiệu rối loạn lo âu ở học sinh
THPT huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội:
21
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
mặt, khô miệng, vã mồ hội, lạnh
chân tay, run rẩy, bất an)
Từ các cách hiểu về RLLA như trên, chúng tôi thống nhất hiểu khái
niệm rối loạn lo âu theo DSM-IV như sau: „„Rối loạn lo âu là những lo sợ
thái quá về một số sự kiện hoặc các hành vi kéo dài trong nhiều ngày, xẩy
ra lặp đi lặp lại ít nhất trong 6 tháng. Cá nhân thường có khó khăn trong
sự kiểm soát những lo lắng và thường có những dấu hiệu thực thể chẳng
hạn như là sự căng cơ, cáu bẳn, khó ngủ và cảm giác bất an...
Theo khái niệm này, những người có RLLA phải đảm bảo một số yếu
tố: bệnh nhân không thể kiểm soát cảm xúc, hành vi, suy nghĩ cũng như
trạng thái cơ thể ít nhất 6 tháng. Bệnh nhân có những sợ hãi, lo lắng thái quá
về một vấn đề nào đó. Và bệnh nhân có những triệu chứng cơ thể như tim đập
nhanh, vã mồ hôi, bất an, đứng ngồi không yên, mất ngủ, ăn không
ngon...Những nghi thức, cảm xúc sợ hãi thái quá này phải duy trì liên tục ít
22
nhất 6 tháng thì mới đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh.
1.2.3. Khái niệm học sinh trung học phổ thông
Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia: Bậc trung học phổ thông là một
trong số các bậc học của hệ thống giáo dục ở Việt Nam hiện nay, nó sau tiểu
học, trung học cơ sở và trước cao đẳng, đại học. Trung học phổ thông là bậc
học kéo dài 3 năm (từ lớp 10 đến lớp 12). Để tốt nghiệp bậc học này, học sinh
phải vượt qua kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông vào cuối năm học lớp 12
(trước đây thường gọi là thi tú tài) [33].
Như vậy, học sinh THPT là những em học sinh từ lớp 10 đến lớp 12 ở các
trường THPT, tuổi đi học chuẩn là từ 15,16 đến 18 (tuy nhiên, có những em
đi học sớm hơn và cũng có những em đi học muộn hơn).
quan trọng đối với đời sống của các em, đó là quan hệ gia đình, bạn bè, thầy
cô, trường lớp...[8] những mối quan hệ này có những ảnh hưởng rất sâu sắc
đến các em.
1.2.4 Những vấn đề liên quan đến rối loạn lo âu ở học sinh THPT huyện
Chương Mỹ
1.2.4.1. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT
Học sinh THPT là giai đoạn đầu của tuổi thanh niên (còn gọi là thanh
niên mới lớn, thanh niên học sinh). Đây cũng là giai đoạn nối tiếp thời kỳ dậy
thì, thời gian quan trọng của một đời người. Chính vì có sự thay đổi lớn như
thế nên tâm sinh lí của các em cũng có những đặc điểm rất khác biệt và đặc
biệt hơn hẳn những giai đoạn trước.
- Đặc điểm sinh lý:
Do sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh trung ương
và các giác quan nên có sự thay đổi trong chiều cao, cơ thể phát triển. Ở các
em nam thì cao vọt lên, râu cằm, ria mép, cơ bắp nổi lên, hoàn thiện dần chức
năng làm cha…còn ở các em gái thì cơ thể duyên dáng, mềm mại hơn, hoàn
thiện chức năng làm mẹ… nói chung là ở thời gian này, các em đã có sự chín
muồi về mặt sinh lí, cơ thể.
- Đặc điểm tâm lý:
+ Sự phát triển tự ý thức:
Ở lứa tuổi này các em có sự nhìn nhận về bản thân khá nghiêm túc và
sâu sắc hơn lứa tuổi học sinh trung học cơ sở. Các em không chỉ đánh giá,
nhìn nhận cái tôi trong hiện tại mà còn so sánh với quá khứ và nhận thức vị trí
của mình trong tương lai. Các em đánh giá cao vai trò của mình trong gia đình
và xã hội do vậy các em thường chủ động tham gia vào các hoạt động để
khẳng định hơn nữa vị trí, vai trò của mình. Việc khẳng định bản thân là một
24
nhu cầu tương đối cao của các em vì thế các em phải tự hoàn thiện để đáp ứng