Tìm hiểu thực trạng rối loạn lo âu của sinh viên trường đại học điều dưỡng nam định - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THU HẰNG

TÌM HIỀU THỰC TRẠNG RỐI LOẠN
LO ÂU CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
ĐIỀU DƢỠNG NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH TÂM LÝ HỌC
chuyên ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên
Mã số: Thí điểm
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐỖ NGỌC KHANH

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, em đã nhận được nhiêu sự giúp đỡ của
các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè.
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Giáo dục;
các thầy giáo, cô giáo trong chương trình đào tạo thạc sỹ Tâm lí lâm sàng trẻ em và vị
thành niên – trường Đại học Giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội đã dạy cho chúng
em nhiều kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường và những ý kiến
hướng dẫn, đóng góp chân thành giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Đặc biệt, em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo PGS. TS. Đỗ
Ngọc Khanh người trực tiếp cố vấn, hướng dẫn đã nhiệt tình dẫn dắt, tận tâm chỉ bảo
cho em trong suốt quá trình làm đề tài.
Tôi xin cảm ơn các anh chị em trong lớp cao học Tâm lý lâm sàng trẻ em và vị
thành niên khóa 6 đã góp ý, chia sẻ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện
nghiên cứu.


Rối loạn hoảng sợ

ASKT

Ám sợ khoảng trống

DSM-IV

Diagnostic and Statistical Manual of Mental DisordersFourth edition – Sổ tay chẩn đoán và phân loại bệnh tâm
thần (hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ), chỉnh sửa lần thứ 4.

ICD-10

International Statistical Classification of Diseases and
Related Health Problems 10th – Revision – Bảng phân loại
quốc tế về vấn đề Sức khỏe tâm thần, lần thứ 10.

RLLA

Rối loạn lo âu

SKTT

Sức khỏe tâm thần

SV

Sinh viên


1.1.2. Những nghiên cứu về rối loạn lo âu của sinh viên ở Việt Nam ................ 13
1.2. Một số vấn đề lí luận của đề tài.................................................................... 18
1.2.1. Rối loạn lo âu ............................................................................................ 18
1.2.2. Đặc điểm tâm lý của sinh viên có liên quan đến RLLA ............................ 32
Tiểu kết chƣơng 1: ..................................................................................... 34
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............... 35
2.1. Tiến trình thực hiện đề tài ............................................................................ 35
2.2. Vài nét về địa bàn nghiên cứu...................................................................... 35
2.3. Đặc điểm về khách thể nghiên cứu .............................................................. 36
2.4.Các phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 38
iii


2.4.1. Nghiên cứu lý luận .................................................................................... 38
2.4.2.Phương pháp trắc nghiệm (sử dụng thang đo) .......................................... 38
2.4.3. Phương pháp nghiên cứu bằng bảng hỏi .................................................. 40
2.4.4. Phương pháp chọn mẫu ............................................................................ 41
Tiểu kết chƣơng 2 .............................................................................................. 42
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................. 43
3.1. Tỷ lệ SV có biểu hiện RLLA tại trường ĐHĐDNĐ theo test Zung ............ 43
3.1.1.Tỷ lệ SV trường ĐHĐDNĐ có biểu hiện RLLA theo giới tính. .................. 45
3.1.2. Tỷ lệ SV trường ĐH ĐDNĐ có biểu hiện RLLA theo năm học................. 46
3.2. Những đặc điểm lâm sàng của RLLA ở sinh viên đại học ĐDNĐ ............. 47
3.3. Sự khác biệt mức độ biểu hiện RLLA của SV với các biến số độc lập ...... 51
3.4. Các dạng biểu hiện cụ thể của RLLA ở SV trường ĐHĐDNĐ ................... 53
3.4.1.Rối loạn ám sợ đặc hiệu(ASĐH) ................................................................ 53
3.4.2. Rối loạn ám sợ khoảng trống .................................................................... 58
3.4.3. Ám sợ xã hội .............................................................................................. 61
3.4.4. Rối loạn hoảng sợ .................................................................................... 62
3.4.5. Rối loạn lo âu lan tỏa và rối loạn ám ảnh cưỡng bức(OCD) ................... 63



DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Giới tính của khách thể nghiên cứu ................................................. 36
Biểu đồ 2.2. Năm học của khách thể nghiên cứu ................................................ 36
Biểu đồ 2.3. Nơi ở của khách thể nghiên cứu ..................................................... 37
Biểu đồ 2.4. Tự đánh giá về điều kiện kinh tế của khách thể nghiên cứu .......... 37
Biểu đồ 2.5. Tự đánh giá về bản thân của khách thể nghiên cứu ....................... 38
Biểu đồ 3.1. Các mức độ biểu hiện RLLA theo test Zung ở SV ĐHĐDNĐ ...... 43
ở SV trường ĐHĐDNĐ....................................................................................... 43

vi


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội hiện nay con người phải đối mặt với nhiều mối nguy hiểm
tiềm ẩn đối với sức khỏe tâm thần, một trong số đó là tình trạng rối loạn lo
âu. Các nhà khoa học cho rằng mười phần trăm

(10%) lo âu , căng thẳ ng là

cần thiết cho một người bình thường, tuy nhiên lo âu, căng thẳng quá mức sẽ
ảnh hưởng đến chức năng sống , những người bị lo âu , căng thẳ ng khó có thể
tập trung vào công việc, học tập, bị giảm trí nhớ, lúc nào họ cũng cảm thấy
mệt mỏi, chán nản, viêm loét dạ dày, bệnh tim mạch…và có khả năng không
thể làm việc, hay tự sát .
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì ngày nay có ¼
nhân loại bị ảnh hưởng bởi sức khỏe tâm thần và tới năm 2020 trầm cảm – lo âu
chỉ đứng sau các bệnh tim mạch về gánh nặng bệnh tật. Đặc biệt là dạng trầm

Theo kinh nghiệm thực tế của bản thân khi công tác tại trường Đại học
Điều Dưỡng Nam Định tôi nhận thấy rằng, có rất nhiều em có các biểu hiện của
lo âu và mức độ biểu hiện lo âu khác nhau, nhiều sinh viên đã có những biểu
hiện rối loạn về các mặt: cảm xúc, hành vi cũng như các biểu hiện về mặt cơ thể,
các em lúng túng không biết kiểm soát cuộc sống, các hoạt động của mình và có
những cách ứng phó chưa phù hợp đã làm cho nỗi lo chồng nỗi lo và nguy cơ
các em rơi vào vòng lo âu là rất lớn. Lúc đó, không chỉ học tập mà cả các chức
năng xã hội khác của các em cũng bị suy giảm nghiêm trọng đó là các em có thể
sẽ phải nghỉ học để điều trị hoặc nặng hơn đó là các em sẽ phải kết thúc khóa
học sớm vì không thể theo kịp chương trình học.
Việc hiểu rõ nguy cơ, thực trạng rối loạn lo âu của sinh viên điều dưỡng để
từ đó có giải pháp phòng ngừa và làm giảm thiểu mức độ rối loạn lo âu, giúp cho
các em học tập tốt hơn và có cuộc sống tốt hơn là việc làm vô cùng cấp thiết.
Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn đề tài:
“Tìm hiểu thực trạng rối loạn lo âu của sinh viên trường Đại học Điều dưỡng
Nam Định” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu.
- Tìm ra những biểu hiện rối loạn lo âu mà sinh viên trường ĐHDDNĐ
gặp phải.
2


- Tỷ lệ sinh viên có biểu hiện RLLA nói chung và tỷ lệ rối loạn lo âu cụ thể.
- Tìm hiểu sự khác biệt mức độ RLLA của sinh viên với các biến số độc lập.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung vào giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu: Một số học thuyết bàn về
lo âu, một số dạng rối loạn lo âu phổ biến, tổng quan các công trình nghiên cứu
về rối loạn lo âu, rối loạn lo âu ở sinh viên y khoa. Trên cơ sở đó đưa ra khái
niệm công cụ của đề tài.

- Về nội dung: Chỉ tập trung nghiên cứu biểu hiện rối loạn lo âu theo các
dạng rối loạn lo âu cụ như sau: Rối loạn ám sợ khoảng trống ( F40.0), ám sợ xã
hội ( F40.1), rối loạn hoảng sợ ( F41.0), rối loạn lo âu lan tỏa ( F41.1), rối loạn ám
ảnh cưỡng bức ( F42), ám ảnh sợ đặc hiệu ( F40.2).

7. Phƣơng pháp nghiên cứu
a. Phương pháp nghiên cứu lý luận.
Bao gồm các công việc như: Đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và
khái quát hóa những quan điểm cũng như những công trình nghiên cứu của các
tác giả trong và ngoài nước liên quan đến rối loạn lo âu nói chung và rối loạn lo
âu của sinh viên nói riêng…để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
b. Phương pháp điều tra qua bảng hỏi, trắc nghiệm tâm lý (test) và
thang đo
Đây là phương pháp chính của đề tài nhằm mục đích tìm hiểu những biểu
hiện RLLA và đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng đến lo âu ở sinh viên. Bảng hỏi
có sử dụng thang đo mức độ lo âu – Zung(Self Rating Anxiety Scale).
c. Phương pháp phỏng vấn sâu
Tiến hành phỏng vấn sinh viên để làm rõ hơn những kết quả định lượng
thu được từ phương pháp sử dụng thang đo và các test tâm lý.
d. Phương pháp toán thống kê
Sử dụng phần mềm SPSS và Excel để xử lý những kết quả thu được.
8. Đóng góp của đề tài
Xác định được thực trạng RLLA, mức độ biểu hiện RLLA và các yếu tố
ảnh hưởng đến RLLA ở sinh viên Đại học Điều Dưỡng Nam Định. Trên cơ sở
4


đó đưa ra những biện pháp khắc phục giảm thiểu RLLA ở sinh viên Đại học
Điều Dưỡng Nam Định.
9.

RLLA trẻ em và thanh thiếu niên Mỹ là khoảng 9%. Còn tại Hoa Kỳ hiện nay,
mỗi năm có hàng triệu dân mắc bệnh này" [15, 490].
Theo Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ, RLLA là rối loạn thường
gặp nhất, hàng năm có 19 triệu người Mỹ mắc các rối loạn lo âu. Richard C.
Shelton cũng khẳng định các RLLA là dạng thường gặp nhất trong các bệnh lý
tâm thần, có thể ảnh hưởng đến 15% dân số ở bất kỳ thời điểm nào. Rối loạn lo
âu ám sợ có tỷ lệ là 8 - 10%, RLLA lan tỏa chiếm 5%, rối loạn hoảng sợ chiếm 1
- 3% trong dân số [57].
Trong nghiên cứu thống kê dịch tễ học của tác giả Anderson (1994) cho
rằng RLLA là một trong những dạng thường gặp nhất trong các bệnh về tâm
thần ở trẻ em với tỉ lệ mắc bệnh là 2,5% - 9,0% trong dân số chung, trong khi đó
tỉ lệ ở trẻ em chiếm từ 20% - 30% [62, tr.127].
Tác giả Bayram, Bilgel.N mô tả cắt ngang trên 1.617 sinh viên, trầm cảm,
lo âu và stress mức độ nặng vừa phải hoặc cao hơn là 27%, 47% và 27% % trên
6


tổng số khách thể nghiên cứu.. Sinh viên năm thứ hai tỉ lệ trầm cảm, lo âu và
stress cao hơn năm khác. Tỉ lệ trầm cảm, lo âu và stress cao giữa các sinh viên là
đáng báo động [40].
Theo Wong.J.G thì trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên năm thứ nhất
trong hệ thống giáo dục Đại học ở Hồng Kông là cao. Thiết kế trên web (khuyết
danh) về trầm cảm, lo âu và stress đã được đo bằng thang DASS 42 với 7915
sinh viên tham gia, kết quả cho thấy tỉ lệ rối loạn lo âu và stress mức độ nặng là
27,5% và 41 % trên tổng số sinh viên tham gia [60].
Kết quả nghiên cứu của Niemi chỉ ra lo lắng, căng thẳng và khó chịu rất
phổ biến trong suốt 6 năm học ở trường y khoa. Lo âu, trầm cảm thường gặp ở
thời điểm tốt nghiệp hơn so với lúc bắt đầu đi lâm sàng ,theo kết quả nghiên cứu
có 36% Sinh viên tham gia nghiên cứu cảm thấy rất căng thẳng vào đầu thời
gian đào tạo lâm sàng và 40% sinh viên tham gia nghiên cứu cảm thấy rất căng

tưởng, sự dồn nén thành công tạo nên sự cân bằng tâm lý mà không có triệu
chứng. Học thuyết phân tâm học kinh điển mô tả RLLA như là kết quả của
những xung đột trong vô thức. Đầu tiên, Freud đã dùng thuật ngữ “Angst” có
nghĩa là sự sợ hãi để mô tả những phản ứng nội tâm đơn giản đối với những mối
đe dọa bên trong và bê ngoài. Trong thuyết đầu tiên về lo âu, Freud đã cho rằng
những xung đột và những ức chế tạo ra sự thất bại trong việc kiểm soát các xung
động tình dục. Việc kìm hãm các xung động cùng với việc sợ mất kiểm soát
xung động sẽ gây ra lo âu. Sau đó chính Freud đã sớm nhận ra hạn chế trong học
thuyết ban đầu của mình, ông đã gợi ý rằng lo âu là triệu chứng chính, đóng vai
trò trung tâm trong các bệnh tâm căn. Ông thừa nhận rằng lo âu là kết quả của sự
đe dọa.
Theo học thuyết tập nhiễm xã hội thì gia đình là môi trường xây dựng nên
các cảm xúc, sự hiểu biết và sự an toàn cho trẻ. Môi trường này có ảnh hưởng
sâu sắc đến thế giới quan và khả năng đương đầu với những vấn đề trong cuộc
sống của con người. Thuyết tập nhiễm xã hội của Bandura năm 1969 cho thấy
vai trò quan trọng của nhận thức trong việc hình thành lo âu. Lo âu có thể được
tập nhiễm từ người chăm sóc hoặc từ những người khác trong gia đình hoặc môi
trường sống của đứa trẻ (thông qua bắt chước, lây lan, cách giải thích, lý giải các
sự kiện). Như vậy, hành vi của cha mẹ là yếu tố quan trọng hình thành và phát
triển lo âu ở trẻ.
8


Theo học thuyết nhận thức thì những yếu tố về nhận thức, đặc biệt là cách
suy nghĩ, giải thích về các sự kiện căng thẳng đóng vai trò quan trọng trong bệnh
nguyên của RLLA. Theo quan điểm của Beck thì những trạng thái cảm xúc bất
thường như trầm cảm, lo âu là khi có một kích thích tác động lên nhận thức thì
dẫn đến một đáp ứng. Thông thường khi gặp phải một tình huống gây lo sợ thì
nhận thức bị bóp méo sự ước lượng của chúng về những kích thích gây lo âu. Sự
ước lượng này chứa đựng những kinh nghiệm, niềm tin sai lệch về chính bản

rè, thiếu tự tin, ít bạn bè, né tránh các tình huống xã hội cũng là những người
dễ rơi vào trạng thái RLLA
- Các nghiên cứu về các mặt biểu hiện của RLLA
Nghiên cứu của nhóm tác giả Sibnath Deb, Pooja Chatterjee, Kerryann
Walsh (2010), ở thành phố Kolkata, Ấn Độ, với mẫu nghiên cứu 460 thanh thiếu
niên (gồm 220 nam và 240 nữ) từ 13 tuổi đến 17 tuổi (lớp 9 đến lớp 12) được
chọn để tham gia nghiên cứu và sử dụng thang lượng giá STAI (State trait
anxiety inventory Spieberger, Gorsuch và Lushene 1970), kết quả cho thấy tỉ lệ
RLLA chiếm khoảng 20,1% đối với học sinh nam (45/220) và 17,9% nữ
(43/240) [65].
Trong công trình của Robert Burton năm 1621, trong cuốn sách The
Anatomy of Melancholy đã cho rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa cảm giác lo
lắng, sợ hãi với các biểu hiện cơ thể như khó thở, mạch nhanh, đau tức ngực,
chóng mặt [35].
Năm 1871 Jacob DaCosta đã mô tả các triệu chứng tim mạch mạn tính mà
không có tổn thương thực thể và có liên quan đến những than phiền về mệt mỏi,
lo lắng và buồn phiền. DaCosta đã mô tả các triệu chứng lo âu gọi là trạng thái
tim bị kích thích [17].
Vào nửa sau của thế kỷ 19, các nhà tâm thần học Pháp và Đức bắt đầu
quan tâm đến yếu tố sinh học trong các rối loạn tâm thần. Khi nghiên cứu về
các biểu hiện của lo âu, Benedict Morel (1809 –1873) đã khẳng định rằng có
mối liên quan chặt chẽ giữa lo âu với các triệu chứng cơ thể và sự thay đổi ở
hệ thần kinh tự trị [46].
Một nghiên cứu khác về thực trạng lo âu ở trẻ em của M.Prior và cộng sự
(1983 – 2001) trên 2443 trẻ theo chiều dọc từ lúc sinh cho đến 18 tuổi. Kết quả
10


cho thấy 42% những em có tính cách hay xấu hổ, nhút nhát, thu mình trước 9
tuổi thường có RLLA vào giai đoạn tuổi thanh thiếu niên [15, tr.206].


phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên, nhóm tác giả C.Ni, X.Liu và cộng sự 2010, họ
đã sử dụng thang đo tự đánh giá SCL-90. Trên cơ sở tổng số điểm của thang đo
SCL-90 đạt được trong cuộc khảo sát, gồm điểm nhóm thấp (100 SV) và nhóm
điểm cao (100 SV). Sau đó thiết kế nghiên cứu trường hợp bắt cặp có kiểm soát
được thực hiện để xác định những mối quan hệ giữa cách đối phó, lòng tự trọng,
các yếu tố cá nhân và sức khỏe tâm thần. Ngoài ra thống kê mô tả, phân tích
Chi bình phương, t-test và phân tích hồi quy logistic đa biến cũng được sử dụng.
Các hoạt động đối phó và lòng tự trọng của các nhóm điểm số cao đã được tìm
thấy là thấp hơn nhiều so với những người trong nhóm điểm thấp (p
tìm hiểu thực trạng lo âu ở học sinh THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội” cho
ra kết quả như sau: So sánh về giới thì các em nam (7,72%) có biển hiện lo âu
nhiều hơn nữ (5,45%). So sánh giữa các lớp thì ở lớp có học lực khá hơn
13


(7,72%) có lo âu nhiều hơn lớp có học lực trung bình (5,09%). Tình hình lo âu ở
học sinh THPT trên địa bàn thành phố Hà nội qua điều tra dịch tễ trên 220 em,
có 13,14% các em có biểu hiện lo âu. Cụ thể là: 17 em (7,72%) có lo âu nhẹ. 9
em có lo âu trung bình( 4,09%). Một em có lo âu trên trung bình và 2 em (0,9%)
có biểu hiện lo âu bệnh lý [21].
Tác giả Lê Minh Thuận năm 2011 đã tiến hành khảo sát trên 252 sinh
viên, kết quả thu được như sau: tỉ lệ mức độ rất nặng-lo âu khoảng 7% là nữ và
4% là nam (chung là 11%). Mức độ nặng - lo âu là 12%, stress là 2% và trầm
cảm 2%. Rối nhiễu tâm lý trong sinh viên là đáng quan tâm. Giảm tỉ lệ rối nhiễu
tâm lý trong sinh viên, bằng cách tăng cường tính hy vọng cho sinh viên. Sức
khỏe Tâm lý cần được quan tâm và xem trọng trong chính sách và các vấn đề
liên quan đến sinh viên [24].
Tác giả Trần Thị Thu Mai và Nguyễn Ngọc Duy trong đề tài “Rối loạn lo
âu của sinh viên một số trường sư phạm tại thành phố Hồ Chí Minh” đã chỉ ra
con số thực trạng đáng báo động về tình trạng này. Kết quả nghiên cứu thực
trạng RLLA của SV Trường ĐHSP TPHCM vàTrường CĐSPTW TPHCM như
sau:khảo sát 650 SV bằng hai thang lượng giá BAI và SAS, kết quả có 110 SV
có dấu hiệu RLLA từ nhẹ đến nặng,trong đó mức độ trung bình chiếm khoảng
50% [16]..Nghiên cứu của Hoàng Cẩm Tú ở khoa Tâm bệnh - Bệnh viện Nhi
quốc gia cho thấy tỷ lệ RLLA chiếm khoảng 30% bệnh nhân có vấn đề về tâm
bệnh [27]. Theo Nguyễn Viết Thiêm, 20% người trưởng thành có trải nghiệm ít
nhất một cơn hoảng sợ tại một thời điểm nào đó. Khoảng 2% dân số có cơn
hoảng sợ đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của rối loạn hoảng sợ. Rối loạn này thường
hay xảy ra ở lứa tuổi 20 và không có sự khác biệt giữa nam và nữ [23].

“Rối loạn lo âu của sinh viên một số trường sư phạm tại thành phố Hồ
Chí Minh” của Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Ngọc Duy (2015) [14], nghiên cứu
mức độ và biểu hiện của RLLA ở SV Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh và Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu
lên một số biểu hiện về nhận thức (bi quan, muốn tự sát, bất cần,…), cảm xúc
(căng thẳng, buồn bã, sợ sệt, bối rối,…), hành vi (không tập trung, ngồi nhìn xa
xăm, tìm người tâm sự,…). …

15


- Các nghiên cứu về một số yếu tố ảnh hưởng:
Theo tác giả Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh và Michael Dunne [22] trong đề tài:
“Sức khỏe tâm thần của sinh viên y tế công cộng và sinh viên điều dưỡng tại Đại
học Y Dược TP.Hồ Chí Minh” đã xác định các vấn đề về sức khỏe tâm thần và
các yếu tố liên quan (bao gồm cả yếu tố bảo vệ và yếu tố nguy cơ) có tác động
đến sức khỏe tâm thần của sinh viên. Nghiên cứu cho thấy sinh viên nữ có
khuynh hướng lo âu nhiều hơn nhưng lại ít trầm cảm hơn sinh viên nam. Đối với
nữ, tất cả các yếu tố bao gồm các đặc điểm về gia đình, nhà trường và xã hội,
đều có tác động đến cảm nhận về hạnh phúc và hy vọng của họ.
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy trong luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của
một số yếu tố tâm lý đến rối loạn lo âu của trẻ em”, đã chẩn đoán và trị
liệu cho 42 trẻ em từ 7 – 15 tuổi có RLLA đến khám tại khoa Tâm bệnh - viện
nhi Quốc Gia từ tháng 8/2001 đến tháng 8/2002. Tác giả đã đưa ra rất nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến RLLA của các em như: RLLA có liên quan đến gia đình,
RLLA có liên quan đến học tập, RLLA có liên quan đến môi trường xã hội [25].
Trong luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu một số nguyên nhân gây ra rối loạn
lo âu ở học sinh trung học phổ thông” , tác giả Nguyễn Hằng Phương cho biết:
trong số 600 khách thể nghiên cứu thì có 130 em RLLA, chiếm 21,66%. Và
cũng đưa ra bốn nhóm nguyên nhân chính gây ra RLLA của học sinh là nhóm

Trên thế giới và ở Việt Nam đã có không ít những nghiên cứu khác nhau
về vấn đề rối loạn lo âu, tuy nhiên ở mỗi đối tượng, môi trường thì mức độ biểu
hiện cũng như những nhân tố tác động lại khác nhau và mang đặc thù riêng biệt.
Đặc biệt, những nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ tâm lý học vẫn còn là một
hướng nghiên cứu mới mẻ, đối với RLLA hiện nay chủ yếu mới chỉ có một số
nghiên cứu ở sinh viên ngành y nói chung, còn đối tượng sinh viên điều dưỡng
thì chưa có một nghiên cứu cụ thể nào. Trong khi đó RLLA là một trong những
rối loạn tâm lý khá phổ biến ở cộng đồng nói chung và sinh viên nói riêng.
Chính vì thế, việc tìm hiểu mức độ biểu hiện của rối loạn lo âu, các nhân tố ảnh
hưởng cũng như các thể rối loạn lo âu ở sinh viên điều dưỡng là một hướng đi
cần thiết, mang giá trị ý nghĩa thực tiễn cao đối với đời sống, hiệu quả học tập,
làm việc của các bạn sinh viên.

17


1.2. Một số vấn đề lí luận của đề tài
1.2.1. Rối loạn lo âu
1.2.1.1. Khái niệm lo âu và Rối loạn lo âu
 Lo âu:
Lo âu (anxiety) là một rối loạn cảm xúc đặc trưng bởi cảm giác lo sợ lan
tỏa, khó chịu, mơ hồ kèm theo các triệu chứng thần kinh tự chủ như đau đầu, vã
mồ hôi, siết chặt ở ngực, khô miệng, khó chịu ở thượng vị, bức rức, không thể
ngồi yên hoặc đứng yên một chỗ [20].
Từ năm 1980, theo bảng phân loại tâm thần của Hoa Kỳ thì lo âu được
định nghĩa như sau:lo âu là một trạng thái cảm xúc thông thường, đó là một cảm
xúc khó chịu không xác định được.
Theo tác giả Nguyễn Minh Tuấn, lo âu là một rối loạn có cấu trúc
đơn sơ thể hiện ra ngoài bằng một mối lo âu không đối tượng, lan tỏa và
dai dẳng [31].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status