ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐỖ THỊ AN
TÌM HIỂU CÁC BIỂU HIỆN RỐI LOẠN LO ÂU
Ở SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2013
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐỖ THỊ AN
TÌM HIỂU CÁC BIỂU HIỆN RỐI LOẠN LO ÂU
Ở SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nghĩa là
ASĐH
Ám sợ đặc hiệu
ASXH
Ám sợ xã hội
CBT
Cognitive Behavior Therapy – Trị liệu nhận thức hành vi
ĐHLĐXH
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Các mức độ triệu chứng biểu hiện RLLA theo test Zung ở
SV trường ĐHLĐXH ..................................................................................
Bảng 3.2. Các biểu hiện lâm sàng của RLLA ở SV trường ĐH LĐ- XH ........
Bảng 3.3: RLLA khi xét về đặc điểm tính cách của SV .............................
Bảng 3.4: RLLA khi xét về nơi ở của SV ...................................................
Bảng 3.5. Sự phân bố các biểu hiện của RLASĐH ở SV trường
ĐHLĐXH ....................................................................................................
Bảng 3.6. Sự khác biệt giữa nhóm sinh viên có triệu chứng của
ASĐH sống cùng gia đình với nhóm sinh viên có cùng biểu hiện
sống ở môi trường khác. .............................................................................
Bảng 3.7. ASĐH xét theo đặc điểm cá nhân ở sinh viên trường
ĐHLĐXH. ...................................................................................................
Bảng 3.8: Mức độ về triệu chứng biểu hiện ám sợ khoảng trống ở SV
trường ĐHLĐXH ........................................................................................
Bảng 3.9. Sự khác biệt mức độ biểu hiện ám sợ khoảng trống với các
yếu tố liên quan ...........................................................................................
Bảng 3.10. Tỷ lệ triệu chứng ám sợ xã hội ở SV trường Đại học LĐXH ...........
Bảng 3.11. Tỷ lệ triệu chứng cơn hoảng sợ của SV trường Đại học
LĐXH .......................................................................................................
Bảng 3.12. Phân bố các triệu chứng về rối loạn hoảng sợ ở SV
trường Đại học LĐXH ................................................................................
Bảng 3.13. So sánh về triệu chứng biểu hiện rối loạn hoảng sợ với
các yếu tố ở SV trường ĐHLĐXH .............................................................
Bảng 3.14. Mối tương quan giữa các dạng biểu hiện RLLA ở sinh
viên trường ĐHLĐXH ................................................................................
33
35
Biểu đồ 2.6: Cảm nhân về đặc điểm bản thân của khách thể nghiên cứu .......... 29
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn .................................................................................................. i
Danh mục viết tắt ........................................................................................ ii
Danh mục các bảng ..................................................................................... iii
Danh mục các biểu đồ ................................................................................. iv
Mục lục........................................................................................................ v
MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦ A VẤN ĐỀ NGHIÊN CƢ́U ............. 5
1.1. Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu.................................................... 5
1.2. Một số khái niệm.................................................................................. 12
1.2.1. Rối loạn lo âu .................................................................................... 12
1.2.2. Sinh viên ........................................................................................... 23
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............. 26
2.1. Tiến trình thực hiện đề tài .................................................................... 26
2.2. Vài nét về địa bàn nghiên cứu.............................................................. 26
2.3. Đặc điểm về khách thể nghiên cứu ...................................................... 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 63
PHỤ LỤC ................................................................................................... 68
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sức khỏe tâm thần (SKTT) được xem là một tình trạng sức khỏe mà
mỗi cá nhân nhận thức rõ khả năng của mình, có thể đối phó với những căng
thẳng bình thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả, thành công và có thể
đóng góp cho cộng đồng. SKTT là sự hòa hợp giữa trạng thái khỏe mạnh về
thể chất và tình cảm; là trạng thái tâm lý ổn định và vui khỏe của con người.
Nó được biểu hiện ở chỗ con người cảm thấy hài lòng, thỏa mãn, vui tươi, yêu
đời, tự tin từ đó mà quản lý được hành vi của mình, cư xử đúng mực và tôn
trọng mọi người xung quanh trên cơ sở ý thức đầy đủ về giá trị bản thân.
SKTT không chỉ ảnh hưởng lên cuộc sống cá nhân mỗi người mà còn làm cho
họ có khả năng ứng phó nhanh nhẹn và thích hợp với các khó nhăn của cuộc
sống. Các vấn đề SKTT đặc biệt là trầm cảm, lo âu nếu không được quan tâm
phòng ngừa và can thiệp phù hợp sẽ để lại hậu quả cho cả cá nhân và gia đình
(đối với trường hợp tự tử và thực hiện các hành vi tự tử); ảnh hưởng tới mối
quan hệ của cá nhân với các thành viên trong gia đình, với bạn bè; ảnh hưởng
đến kết quả học tập tại trường; năng suất lao động cũng như sự phát triển cá
suy giảm chất lượng cuộc sống ở các đối tượng trên 18 tuổi có các rối loạn lo
âu và cảm xúc trong các thử nghiệm lâm sàng của BS Lê Hiếu năm 2007 [11].
Nhiều nghiên cứu và các bài viêt về rối loạn lo âu cũng chỉ ra rằng, khi
con người bị rối loạn lo âu thì điều này cũng ảnh hưởng lớn đến đời sống
kinh tế xã hội. Người bệnh bị suy giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ
mất việc làm, giảm chất lượng cuộc sống. Theo nghiên cứu của Hoge
(2004), những bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa nghỉ việc trung bình 6
ngày/tháng, so với 3,1 - 3,5 ngày/tháng trên bệnh nhân hen, đái tháo đường,
viêm khớp. Chi phí xã hội đối với rối loạn lo âu lan tỏa và các vấn đề cộng
đồng kèm theo là rất đáng kể, tăng nhu cầu được trợ giúp ở các trung tâm y tế
và dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, có xu hướng lạm dụng chất, nghiện
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
chất. Năm 2004, chi phí điều trị nội trú rối loạn lo âu lan tỏa ở Châu Âu dao động
từ 2000-3000 EU/bệnh nhân/đợt điều trị, so với chi phí điều trị các rối loạn lo âu
khác chỉ từ 300-1000EU/bệnh nhân/đợt điều trị [6].
Như vậy, việc hiểu rõ học sinh sinh viên thường có các biểu hiện rối loạn
lo âu như thế nào để từ đó tuyên truyền giúp học sinh sớm nhận thức và phòng
ngừa sẽ làm giảm hậu quả của rồi loạn lo âu. Xuất phát từ những lý luận và
thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu các biểu hiện rối loạn lo
âu ở sinh viên trường Đại học Lao động Xã hội” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
biểu hiện RLLA và đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng đến lo âu trầm cảm ở
sinh viên. Bảng hỏi có sử dụng thang đo mức độ lo âu – Zung (Self Rating
Anxiety Scale).
5.3. Phương pháp thống kê
Để trình bày và phân tích số liệu, nghiên cứu sử dụng chương trình phần
mềm thống kê SPSS dùng trong môi trường Window, phiên bản 17.0.
Các thông số và phép toán thông kê được sử dụng trong nghiên cứu này là:
Phân tích sử dụng thống kê mô tả với các chỉ số:
Điểm trung bình cộng (mean).
Độ lệch chuẩn (standardizied devation).
Phép kiểm định giá trị trung bình so với các biến độc lập: t – test, oneway Anova.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và một số đề xuất
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
Đến DSM-IV, các tác giả đã phân biệt rạch ròi giữa hai khái niệm lo âu
và RLLA. Theo bảng phân loại này lo âu được định nghĩa như sau: lo âu là
một trạng thái cảm xúc thông thường, đó là một cảm xúc khó chịu không xác
định được. Còn RLLA thì không phải như vậy vì RLLA là một trạng thái bất
thường hay kết hợp với một số triệu chứng cơ thể và RLLA có ảnh hưởng đến
các chức năng nghề nghiệp, xã hội do lo âu gây ra.
Năm 1968, Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization - WHO)
đã soạn thảo Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 8, (International
Classification of Diseases, 8th edition - ICD-8), theo đó tâm căn lo âu được
xếp vào mục 300.0. Năm 1978, ICD-9 đổi tâm căn lo âu thành trạng thái lo âu
và cũng xếp ở mục 300.0. Vì chưa thống nhất được các quan điểm trong bệnh
nguyên, bệnh sinh của rối loạn lo âu nên các mục này đều không có tiêu
chuẩn chẩn đoán cụ thể.
Năm 1988, ICD-10 được soạn thảo với nội dung có nhiều điểm tương
đồng với DSM III. Năm 1992, ICD-10 được WHO công bố và áp dụng chính
thức trên toàn thế giới đến nay. Trong Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10
(ICD 10), các rối loạn lo âu được mô tả ở chương F4: “Các rối loạn tâm căn
có liên quan đến stress và dạng cơ thể” từ F40 - F41. Trong tài liệu này, các
nhà khoa học không đưa ra một khái niệm cụ thể về RLLA mà trực tiếp đưa ra
các biểu hiện của các dạng RLLA và các nguyên tắc chỉ đạo trong chẩn đoán.
* Các nghiên cứu về nguyên nhân của RLLA theo các trường phái tâm lý học.
Việc tìm ra gốc rễ của các RLLA cũng sẽ giúp cho việc trị liệu của các nhà
tâm lý học đạt hiệu quả cao. Chính vì thế, một số các nhà tâm lý học theo các
trường phái tâm lý học khác nhau cũng tiến hành nghiên cứu tìm hiểu những
nguyên nhân của các RLLA để từ đó xây dựng mô hình trị liệu phù hợp.
Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi trình bày một số học thuyết nổi
tiếng và phổ biến bàn về nguyên nhân của các RLLA:
+ Thuyết phân tâm: Lo âu là một tín hiệu khuấy động bản ngã thực hiện hành
các sự kiện...). Như vậy, hành vi của cha mẹ là yếu tố quan trọng hình thành
và phát triển lo âu ở trẻ.
+ Thuyết nhận thức: Những yếu tố nhận thức, đặc biệt là cách mà một người
giải thích hoặc suy nghĩ về các sự kiện stress đóng một vai trò quan trọng
trọng bệnh nguyên của RLLA. Theo quan điểm của Beck thì những trạng thái
cảm xúc bất thường như trầm cảm, lo âu là Khi có một kích thích tác động lên
nhận thức thì dẫn đến một đáp ứng. Thông thường khi gặp phải một tình
huống gây lo sợ thì nhận thức bị bóp méo sự ước lượng của chúng về những
kích thích gây lo âu. Sự ước lượng này chứa đựng những kinh nghiệm, niềm
tin sai lệch về chính bản thân mình, về thế giới và về tương lai. Khi gặp phải
một kích thích tương tự sẽ so sánh nó với những tình huống xảy ra trong quá
khứ và cho ra phản ứng. Vì vậy, RLLA là do những niềm tin sai lệch mà bệnh
nhân suy diễn những sự kiện xảy ra thành những sự kiện đe dọa hoặc nguy
hiểm quá mức. Những hệ thống niềm tin cơ bản này, hoặc những sơ đồ tạo ra
những suy nghĩ tự động để phản ứng lại với những tín hiệu bên ngoài hoặc bên
trong từ đó gây ra lo âu. Như vậy, RLLA là do xử lý thông tin không đúng.
Theo Barlow và cộng sự (1996), một trong những biểu hiện nhận thức rõ ràng
nhất của lo âu đó là cảm giác không thể kiểm soát được, nó biểu hiện bằng
mọi cảm giác không được giúp đỡ, không nơi nương tựa do mất khả năng tiên
đoán, kiểm soát và đạt được những kết quả mong muốn [10,12].
+ Thuyết về nhân cách: Một số RLLA liên quan đến nhân cách lo âu, tránh né.
Đó là nhân cách có các đặc điểm: lo lắng trước đám đông, sợ không được chấp
nhận, bi quan lo lắng, bị bối rối, thận trọng trước những trải nghiệm mới, rụt
rè, thiếu tự tin, ít bạn bè, né tránh các tình huống xã hội.
* Tiếp cận về rối loạn lo âu theo hướng nghiên cứu dịch tễ học: Lo âu là một
vấn đề sức khỏe mang tính dịch tễ, vì thế nhiều nhà tâm lý học cũng đi vào
nghiên cứu về nó theo hướng dịch tễ học. Theo Richard C. Shelton các RLLA
thường gặp nhất trong các bệnh lý tâm thần, có thể ảnh hưởng đến 15% dân số
rối loạn tâm thần trong cả nước và xây dựng kế hoạch Bảo vệ sức khoẻ tâm
thần cho nhân dân, ngành tâm thần chọn 10 bệnh tâm thần ưu tiên để tiến hành
điều tra dịch tễ tại các vùng khác nhau. Trên cơ sở những kết qủa thu được sẽ
giúp cho ngành tâm thần đề ra được các biện pháp chăm sóc, giúp đỡ, điều trị
thích hợp, phòng bệnh cho các bệnh nhân có rối loạn tâm thần nặng tại cộng
đồng. Kết quả của Điều tra dịch tễ học 10 rối loạn tâm thần thường gặp tại
cộng đồng từ năm 2000 - 2002 cho thấy tỷ số người mắc rối loạn lo âu chiếm
2,7% số người có các rối loạn tâm thần [40]; trong khi đó theo bảng phân loại
Bệnh tâm thần quốc tế của WHO (ICD-10-1992) thì có đến 300 mã các rối
loạn tâm thần. Qua đó cho thấy ngành tâm thần sẽ gặp rất nhiều khó khăn
trong việc tổ chức chăm sóc sức khỏe tâm thần cho cộng động người dân.
Với đề tài nghiên cứu: tìm hiểu mức độ biểu hiện của stress ở sinh viên
của sinh viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng tác giả Ngô Hoàng
Anh, Vũ Ngọc Duy và Nguyễn Thị Mỹ Trang trên 200 sinh viên đã đưa ra
kết quả: 100% sinh viên có những biể u hiê ̣n lo âu . Kết quả nghiên cứu cũng
chỉ ra rằng những biể u hiê ̣n lo âu xuấ t hiê ̣n
nam sinh viên [3]
ở nữ sinh viên nhiều hơn so với
Nghiên cứu: Bước đầu nhận dạng và phân loại các biểu hiện tâm bệnh
lý thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên Việt Nam của trung tâm nghiên
cứu trẻ em (1995) cho thấy trong 352 hồ sơ tâm lý, tỷ lệ trẻ em được chẩn
đoán là rối nhiễu tâm căn là 31,53%) [20]
Theo Nguyễn Viết Thiêm, 20% người trưởng thành có trải nghiệm ít
nhất một sơn hoảng sợ tại một thời điểm nào đó. Khoảng 2% dân số có cơn
hoảng sợ đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của rối loạn hoảng sợ. Rối loạn này
thường hay xảy ra ở lứa tuổi 20 và không có sự khác biệt giữa nam và nữ.
Nghiên cứu của Hoàng Cẩm Tú ở khoa Tâm bệnh - Bệnh viện Nhi quốc gia
rằng: tác động sâu sắc nhất tới mức độ lo âu của các em (trẻ lang thang kiếm
sống trên đường phố) chính là bạn bè. Những ai có bạn là chỗ dựa và đặc biệt
những em nữ có bạn trai thân thường có mức độ lo âu thấp hơn một cách có ý
nghĩa so với những em khác. Mức độ lo âu ảnh hưởng lớn đến sự đánh giá bản
thân của các em, đặc biệt là cái tôi tương lai và cái tôi cảm xúc. Càng lo âu các
em càng tự đánh giá thấp về bản thân mình [14].
Trong Luận văn thạc sỹ tâm lý học của mình (2003): Ảnh hưởng của
một số yếu tố tâm lý đến RLLA của trẻ em, tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy
tiến hành trị liệu trên hai trường hợp điển hình có RLLA có sử dụng phối hợp
liệu pháp nhận thức - hành vi, thư giãn, khen thưởng kết hợp với liệu pháp gia
đình. Thời gian trị liệu cho cả hai trường hợp này đều kéo dài trên 4 tháng và
đều đem lại kết quả khả quan: trẻ giảm lo âu, các triệu chứng cơ thể giảm và
có thể hòa nhập vào môi trường học tập mới [20].
Trên cơ sở nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RLLA, hiện nay đã có
một số nghiên cứu ở Việt Nam nghiên cứu và áp dụng mô hình trị liệu CBT mô hình trị liệu nhân thức hành vi hiện nay được các nhà khoa học tâm lý cho
rằng có hiệu quả cao trong trị liệu về rối loạn lo âu. Nghiên cứu: Bước đầu áp
dụng mô hình trị liệu nhận thức hành vi cho trẻ em có RLLA của các tác giả
Nguyễn Thị Hồng Thúy, Trần Thành Nam, Cao Vũ Hùng, Đặng Hoàng Minh
(2004) được tiến hành thử nghiệm trên 20 trẻ có RLLA. Với nghiên cứu này,
nhóm tác giả đã khẳng định mô hình nhận thức hành vi được coi là mô hình trị
liệu có hiệu quả đối với trẻ có RLLA và chứng minh rằng nếu trị liệu đầy đủ
phiên trị liệu thì vấn đề lo âu ở trẻ dẽ giảm dần và có thể hết hẳn [21].
Năm 2012, Huỳnh Hồ Ngọc Anh - tác giả của luận văn thạc sỹ tâm lý
học lâm sàng, với đề tài "Tác động của trị liệu nhận thức hành vi đến học sinh
trung học phổ thông có rối loạn lo âu dựa trên định hình trường hợp". Trên cơ
sở nghiên cứu, tác giả đã có những đánh giá tổng hợp lý luận về rối loạn lo âu
và phương thức trị liệu. Quá trình trị liệu cho thấy việc áp dụng mô hình hành
vi nhận thức theo từng bước cụ thể thân chủ có khả năng nắm bắt được khi lo
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Trong cuốn từ điển Tâm Lý học, tác giả Vũ Dũng đã viết: Lo âu là
những trải nghiệm cảm xúc tiêu cực được quy định bởi sự chờ đợi điều gì đó
nguy hiểm, có tính chất khuếch tán, không liên quan đến các sự kiện cụ thể.
Trạng thái cảm xúc xuất hiện trong các tình huống nguy hiểm không xác định
và được thể hiện trong việc chờ đợi sợ tiến triển không thuận lợi của sự kiện.
Khác với hoảng sợ, lo âu được coi là phản ứng đối với một đe dọa cụ thể nào
đó, lo âu thể hiện sự sợ hãi chung chung, mang tính lan truyền và không có
đối tượng, thường có liên hệ với việc chờ đợi điều không may trong tương tác
xã hội và thường được tạo bởi sự không ý thức được nguồn gốc của nỗi nguy
hiểm. Khi lo âu ở cấp độ sinh lý, nhịp thở tăng, nhịp tim đập nhanh hơn, huyết
áp cao hơn, hưng phấn tăng, ngưỡng tri giác giảm. Về mặt chức năng, lo âu
không chỉ cảnh báo về sự nguy hiểm có thể xảy ra mà còn kích thích tìm kiếm
và cụ thể hóa mối nguy hiểm đó, tích cực tìm hiểu thực tế với mục đích xác
định đối tượng đe dọa. Lo âu có thể biểu hiện như cảm giác về sự bất lực,
thiếu tự tin vào bản thân, bất lực trước các yếu tố bên ngoài, phóng đại sức
mạnh và tính đe dọa của chúng. Biểu hiện về hành vi của lo âu nằm ở chỗ hóa
giải các hoạt động làm ảnh hưởng đến xu hướng và hiệu quả của hoạt động.
Lo âu như một cơ chế phát triển loại thần kinh chức năng - lo âu loạn tâm hình
thành trên cơ sở của các mâu thuẫn bên trong trong quá trình phát triển và cấu
thành tâm lý. Ví dụ: từ mức độ gắn bó (như phụ thuộc giữa con và cha mẹ)
cao, thiếu cơ sở đạo đức cho động cơ có thể dẫn tới tin tưởng một cách bất
hợp lý về mối đe dọa từ những người khác, của chính cơ thể mình, kết quả từ
chính hành động của mình...Trong nghiên cứu thực nghiệm, người ta phân ra:
Lo âu tình huống - biểu hiện đặc điểm trạng thái hiện thời của cá nhân; lo âu
Ở góc độ sinh lý, phản ứng lo âu biểu hiện ở sự tăng nhịp tim, hô hấp,
tăng huyết áp, hưng phấn, giảm ngưỡng cảm giác. Ở góc độ tâm lý, rối loạn lo
âu được thể hiện như một sự căng thẳng, dễ bị kích động, cảm xúc thất bại,
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
không có khă năng đưa ra quyết định. Các triệu chứng lo âu được biểu hiện
theo các khía cạnh sau:
* Về hành vi:
- Thể hiện sự căng thẳng, run hoặc bồn chồn, bất an, không tập trung tư
tưởng được, có khi cáu kỉnh, có khi như sắp khóc, ấp úng không nói lên lời.
- Né tránh tiếp xúc ( thu mình, trốn tránh người lạ, chỗ lạ...)
- Luôn bám chặt hoặc phụ thuộc vào người thân
* Về nhận thức:
- Cảm giác, tri giác: Cảm giác không thật, lệch lạc âm thanh, ánh sáng,
cảm giác mơ hồ, hoặc tri giác sai thực tại...
- Tư duy tưởng tượng:
- Tập trung vào các biểu hiện của bản thân một cách quá mức.
- Luôn sợ hãi, lo lắng, tưởng tượng một cách quá mức cái gì đó đe dọa
suộc sống: sợ bị điên, sợ ốm đau, bệnh tật, tai nạn hoặc người thân chết, đói
kém, cư xử ngốc nghếch trước mặt người khác...
- Đánh giá tương lai một cách bi quan, bất hạnh...
* Các biểu hiện cơ thể (do rối loạn hệ thần kinh thực vật gây ra)
sự có mặt một đám đông và việc khó rút lui đến một nơi an toàn. Bởi vậy,
thuật ngữ này kể đến một cụm những ám ảnh sợ liên hệ qua lại và thường gối
lên nhau bao gồm: sợ đi vào cửa hàng, sợ đám đông và các nơi công cộng
hoặc sợ đi một mình trong tàu hỏa, xe ô tô hoặc máy bay. Tuy nhiên mức độ
trầm trọng của lo âu và phạm vi của tác phong né tránh có khác nhau. Đây là
những ám ảnh sợ làm mất năng lực hơn cả và một số người phải hoàn toàn ở
trong nhà, nhiều người hoảng sợ bởi ý nghĩ bị xỉu đi và bị bỏ rơi ở chỗ công
cộng. Không dễ dàng tìm ra một lối thoát là nét chủ yếu của nhiều hoàn cảnh
sợ khoảng trống. Người bị ám ảnh sợ khoảng trống có thể thấy dễ chịu khi ở