ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐỖ THỊ AN
TÌM HIỂU CÁC BIỂU HIỆN RỐI LOẠN LO ÂU
Ở SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC HÀ NỘI - 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐỖ NGỌC KHANH
Đại học Lao động Xã hội đã tạo điều kiện cho tôi được học tập và hoàn thành
luận văn.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong
gia đình đã ủng hộ, tạo điều kiện và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành khóa học
thạc sỹ và thực hiện tốt luận văn của mình.
Kính chúc quý vị luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công!
Hà Nội, tháng 10 năm 2013.
Tác giả Đỗ Thị An DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa là
ASĐH Ám sợ đặc hiệu
ASXH Ám sợ xã hội
CBT Cognitive Behavior Therapy – Trị liệu nhận thức hành vi
ĐHLĐXH Đại học Lao động – Xã hội
DSM-IV Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders-
Fourth edition – Sổ tay chẩn đoán và phân loại bệnh tâm
thần (hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ), chỉnh sửa lần thứ 4.
ICD-10 International Statistical Classification of Diseases and
Related Health Problems 10th – Revision – Bảng phân loại
quốc tế về vấn đề Sức khỏe tâm thần, lần thứ 10.
RLLA Rối loạn lo âu
SKTT Sức khỏe tâm thần
48
Bảng 3.8: Mức độ về triệu chứng biểu hiện ám sợ khoảng trống ở SV
trường ĐHLĐXH
50
Bảng 3.9. Sự khác biệt mức độ biểu hiện ám sợ khoảng trống với các
yếu tố liên quan
51
Bảng 3.10. Tỷ lệ triệu chứng ám sợ xã hội ở SV trường Đại học LĐXH
53
Bảng 3.11. Tỷ lệ triệu chứng cơn hoảng sợ của SV trường Đại học
LĐXH
54
Bảng 3.12. Phân bố các triệu chứng về rối loạn hoảng sợ ở SV
trường Đại học LĐXH
55
Bảng 3.13. So sánh về triệu chứng biểu hiện rối loạn hoảng sợ với
các yếu tố ở SV trường ĐHLĐXH
56
Bảng 3.14. Mối tương quan giữa các dạng biểu hiện RLLA ở sinh
viên trường ĐHLĐXH
58
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
i
Danh mục viết tắt
12
1.2.1. Rối loạn lo âu
12
1.2.2. Sinh viên
23
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
26
2.1. Tiến trình thực hiện đề tài
26
2.2. Vài nét về địa bàn nghiên cứu
26
2.3. Đặc điểm về khách thể nghiên cứu
27
2.4. Các phương pháp nghiên cứu
30
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
30
2.4.2. Phương pháp điều tra qua bảng hỏi có sử dụng thang đo
30
2.4.3. Phương pháp chọn mẫu
32
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
33
3.1. Tỷ lệ SV có triệu chứng biểu hiện RLLA tại trường ĐHLĐXH
theo test Zung
33
3.2. Những đặc điểm lâm sàng của RLLA ở SV trường Đại học
LĐXH
35
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sức khỏe tâm thần (SKTT) được xem là một tình trạng sức khỏe mà
mỗi cá nhân nhận thức rõ khả năng của mình, có thể đối phó với những căng
thẳng bình thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả, thành công và có thể
đóng góp cho cộng đồng. SKTT là sự hòa hợp giữa trạng thái khỏe mạnh về
thể chất và tình cảm; là trạng thái tâm lý ổn định và vui khỏe của con người.
Nó được biểu hiện ở chỗ con người cảm thấy hài lòng, thỏa mãn, vui tươi, yêu
đời, tự tin từ đó mà quản lý được hành vi của mình, cư xử đúng mực và tôn
trọng mọi người xung quanh trên cơ sở ý thức đầy đủ về giá trị bản thân.
SKTT không chỉ ảnh hưởng lên cuộc sống cá nhân mỗi người mà còn làm cho
họ có khả năng ứng phó nhanh nhẹn và thích hợp với các khó nhăn của cuộc
sống. Các vấn đề SKTT đặc biệt là trầm cảm, lo âu nếu không được quan tâm
phòng ngừa và can thiệp phù hợp sẽ để lại hậu quả cho cả cá nhân và gia đình
(đối với trường hợp tự tử và thực hiện các hành vi tự tử); ảnh hưởng tới mối
quan hệ của cá nhân với các thành viên trong gia đình, với bạn bè; ảnh hưởng
đến kết quả học tập tại trường; năng suất lao động cũng như sự phát triển cá
nhân nói chung. Chúng ta đang đứng trước một thách thức lớn về vấn đề
SKTT. Các báo cáo nghiên cứu gần đây cho thấy vấn đề SKTT có xu hướng
gia tăng. Năm 1996, nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật của thế giới của Đại
con người bị rối loạn lo âu thì điều này cũng ảnh hưởng lớn đến đời sống
kinh tế xã hội. Người bệnh bị suy giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ
mất việc làm, giảm chất lượng cuộc sống. Theo nghiên cứu của Hoge
(2004), những bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa nghỉ việc trung bình 6
ngày/tháng, so với 3,1 - 3,5 ngày/tháng trên bệnh nhân hen, đái tháo đường,
viêm khớp. Chi phí xã hội đối với rối loạn lo âu lan tỏa và các vấn đề cộng
đồng kèm theo là rất đáng kể, tăng nhu cầu được trợ giúp ở các trung tâm y tế
và dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, có xu hướng lạm dụng chất, nghiện chất. Năm 2004, chi phí điều trị nội trú rối loạn lo âu lan tỏa ở Châu Âu dao động
từ 2000-3000 EU/bệnh nhân/đợt điều trị, so với chi phí điều trị các rối loạn lo âu
khác chỉ từ 300-1000EU/bệnh nhân/đợt điều trị [6].
Như vậy, việc hiểu rõ học sinh sinh viên thường có các biểu hiện rối loạn
lo âu như thế nào để từ đó tuyên truyền giúp học sinh sớm nhận thức và phòng
ngừa sẽ làm giảm hậu quả của rồi loạn lo âu. Xuất phát từ những lý luận và
thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu các biểu hiện rối loạn lo
âu ở sinh viên trường Đại học Lao động Xã hội” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Việc tiến hành đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu các biểu hiện rối loạn lo
âu ở sinh viên trường Đại học Lao động Xã hội” hướng tới việc:
- Tìm ra những biểu hiện lo âu mà sinh viên trường ĐHLĐXH gặp phải.
- Tỷ lệ sinh viên có biểu hiện RLLA nói chung và tỷ lệ rối loạn lo âu
được phân chia theo các dạng rối loạn lo âu cụ thể.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong khuôn khổ thời gian có hạn, đề tài chỉ tập trung vào giải quyết
một số nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu: các khái niệm có liên
quan, một số học thuyết bàn về lo âu, một số RLLA phổ biến và giới thiệu một
mô hình trị liệu cho RLLA được cho là có hiệu quả. Tổng quan cơ sở sữ liệu
way Anova.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và một số đề xuất
CHƢƠNG 1
CƠ SƠ
̉
LÝ LUÂ
̣
N CU
̉
A VÂ
́
N ĐÊ
̀
NGHIÊN CƢ
́
U
1.1. Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cƣ
́
u
Lo âu là cảm xúc thường gặp nhất của con người với nhiều mức độ
khác nhau. Sự trải nghiệm cảm xúc này hầu hết là do đáp ứng với các kích
xếp vào mục 300.0. Năm 1978, ICD-9 đổi tâm căn lo âu thành trạng thái lo âu
và cũng xếp ở mục 300.0. Vì chưa thống nhất được các quan điểm trong bệnh
nguyên, bệnh sinh của rối loạn lo âu nên các mục này đều không có tiêu
chuẩn chẩn đoán cụ thể.
Năm 1988, ICD-10 được soạn thảo với nội dung có nhiều điểm tương
đồng với DSM III. Năm 1992, ICD-10 được WHO công bố và áp dụng chính
thức trên toàn thế giới đến nay. Trong Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10
(ICD 10), các rối loạn lo âu được mô tả ở chương F4: “Các rối loạn tâm căn
có liên quan đến stress và dạng cơ thể” từ F40 - F41. Trong tài liệu này, các
nhà khoa học không đưa ra một khái niệm cụ thể về RLLA mà trực tiếp đưa ra
các biểu hiện của các dạng RLLA và các nguyên tắc chỉ đạo trong chẩn đoán.
* Các nghiên cứu về nguyên nhân của RLLA theo các trường phái tâm lý học.
Việc tìm ra gốc rễ của các RLLA cũng sẽ giúp cho việc trị liệu của các nhà
tâm lý học đạt hiệu quả cao. Chính vì thế, một số các nhà tâm lý học theo các
trường phái tâm lý học khác nhau cũng tiến hành nghiên cứu tìm hiểu những
nguyên nhân của các RLLA để từ đó xây dựng mô hình trị liệu phù hợp.
Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi trình bày một số học thuyết nổi
tiếng và phổ biến bàn về nguyên nhân của các RLLA:
+ Thuyết phân tâm: Lo âu là một tín hiệu khuấy động bản ngã thực hiện hành
động phòng vệ chống lại những áp lực từ bên trong. Một cách lý tưởng, sự dồn
nén thành công tạo nên sự cân bằng tâm lý mà không có triệu chứng. Học
thuyết phân tâm học kinh điển mô tả RLLA như là kết quả của những xung đột trong vô thức. Đầu tiên, Freud đã dùng thuật ngữ “Angst“ có nghĩa là sợ
hãi để mô tả những phản ứng nội tâm đơn giản đối với những mối đe dọa bên
trong và bên ngoài. Trong thuyết đầu tiên về lo âu, Freud đã cho rằng những
xung đột và những ức chế tạo ra sự thất bại trong việc kiểm soát các xung
động tình dục. Việc kìm hãm các xung động cùng với việc sợ mất kiểm soát
xung động sẽ gây ra lo âu. Sau đó, chính Freud đã sớm nhận ra hạn chế trong
nhất của lo âu đó là cảm giác không thể kiểm soát được, nó biểu hiện bằng
mọi cảm giác không được giúp đỡ, không nơi nương tựa do mất khả năng tiên
đoán, kiểm soát và đạt được những kết quả mong muốn [10,12].
+ Thuyết về nhân cách: Một số RLLA liên quan đến nhân cách lo âu, tránh né.
Đó là nhân cách có các đặc điểm: lo lắng trước đám đông, sợ không được chấp
nhận, bi quan lo lắng, bị bối rối, thận trọng trước những trải nghiệm mới, rụt
rè, thiếu tự tin, ít bạn bè, né tránh các tình huống xã hội.
* Tiếp cận về rối loạn lo âu theo hướng nghiên cứu dịch tễ học: Lo âu là một
vấn đề sức khỏe mang tính dịch tễ, vì thế nhiều nhà tâm lý học cũng đi vào
nghiên cứu về nó theo hướng dịch tễ học. Theo Richard C. Shelton các RLLA
thường gặp nhất trong các bệnh lý tâm thần, có thể ảnh hưởng đến 15% dân số
ở bất kỳ thời điểm nào. Rối loạn lo âu ám sợ có tỷ lệ là 8 - 10%, RLLA lan tỏa
chiếm 5%, rối loạn hoảng sợ chiếm 1 - 3% trong dân số [42]. Theo nghiên cứu
của Rieger và cộng sự (1990) có khoảng 15% dân số nói chung, trong cuộc
đời đã trải nghiệm các triệu chứng mang đặc trưng đủ của RLLA và 2,3 -
8,1% có RLLA hiện hữu. Tác giả Okley. M.A Brown cho biết cộng đồng
Newzealand rối loạn lo âu lan tỏa rất thường gặp, chiếm 75% các trường hợp
đến khám bệnh tại các phòng khám tâm thần, lứa tuổi khởi phát là từ 20 - 40
tuổi, tỷ lệ RLLA giữa nam và nữ là tương đương. Theo Viện Sức khỏe tâm
thần Quốc gia Hoa Kỳ, RLLA là rối loạn thường gặp nhất, hàng năm có 19
triệu người Mỹ mắc các rối loạn lo âu [21]. Ở Việt Nam, số liệu về các RLLA trong cộng đồng và trong các rối loạn
sức khỏe tâm thần với quy mô rộng lớn còn rất hạn chế, đặc biệt trong tâm lý
học thì rất ít các nghiên cứu chuyên sâu về RLLA. Lo âu vẫn chỉ nhắc đến
trong các rối loạn tâm lý khác như là một biểu hiện của rối loạn cảm xúc. Từ
năm 1964 đến nay, ở Việt Nam đã có một số công trình điều tra cơ bản về
bệnh tâm thần và thu được một số kết quả. Song do phương pháp, công cụ và
đặc biệt là tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tâm thần ở mỗi thời kỳ có khác nhau
̉
u hiê
̣
n lo âu xuất hiê
̣
n ở nữ sinh viên nhiều hơn so với
nam sinh viên [3] Nghiên cứu: Bước đầu nhận dạng và phân loại các biểu hiện tâm bệnh
lý thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên Việt Nam của trung tâm nghiên
cứu trẻ em (1995) cho thấy trong 352 hồ sơ tâm lý, tỷ lệ trẻ em được chẩn
đoán là rối nhiễu tâm căn là 31,53%) [20]
Theo Nguyễn Viết Thiêm, 20% người trưởng thành có trải nghiệm ít
nhất một sơn hoảng sợ tại một thời điểm nào đó. Khoảng 2% dân số có cơn
hoảng sợ đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của rối loạn hoảng sợ. Rối loạn này
thường hay xảy ra ở lứa tuổi 20 và không có sự khác biệt giữa nam và nữ.
Nghiên cứu của Hoàng Cẩm Tú ở khoa Tâm bệnh - Bệnh viện Nhi quốc gia
cho thấy tỷ lệ RLLA chiếm khoảng 30% bệnh nhân có vấn đề về tâm bệnh [20].
Nghiên cứu của Nguyễn Công Khanh (2000) đã sử dụng thang đánh giá
lo âu của Spiebeger trên 503 học sinh trung học cơ sở thấy có 17,65% - 19,2%
học sinh đã trải qua biểu hiện của RLLA [20].
Những nghiên cứu này giúp chúng ta thấy được các nguy cơ và thách
thức đối với các nhà tâm lý trong việc chăm sóc SKTT cho cộng đồng đặc biệt
là chăm sóc sức khỏe tâm thần cho đối tượng đã đang và sắp trở thành lực
lượng lao động chính cho đất nước. Điều này cho thấy việc tiếp tục có các
nghiên cứu sâu hơn về các rối loạn cụ thể trong vấn đề sức khỏe tâm thần là
cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng của lực lượng lao động cho xã hội.
Những nghiên cứu về dịch tễ học ở trên thế giới và ở Việt Nam đi sâu vào rối
loạn lo âu cũng chỉ ra rằng: Rối loạn lo âu là một trong những rối loạn tâm lý
nhóm tác giả đã khẳng định mô hình nhận thức hành vi được coi là mô hình trị
liệu có hiệu quả đối với trẻ có RLLA và chứng minh rằng nếu trị liệu đầy đủ
phiên trị liệu thì vấn đề lo âu ở trẻ dẽ giảm dần và có thể hết hẳn [21].
Năm 2012, Huỳnh Hồ Ngọc Anh - tác giả của luận văn thạc sỹ tâm lý
học lâm sàng, với đề tài "Tác động của trị liệu nhận thức hành vi đến học sinh
trung học phổ thông có rối loạn lo âu dựa trên định hình trường hợp". Trên cơ
sở nghiên cứu, tác giả đã có những đánh giá tổng hợp lý luận về rối loạn lo âu và phương thức trị liệu. Quá trình trị liệu cho thấy việc áp dụng mô hình hành
vi nhận thức theo từng bước cụ thể thân chủ có khả năng nắm bắt được khi lo
âu đến và tự điều chỉnh cảm xúc của mình. Đồng thời từ mô hình định hình
trường hợp nhà tâm lý lâm sàng có công cụ để xây dựng kế hoạch và chọn lựa
cách thức trị liệu phù hợp nhất đối với từng thân chủ của mình[2].
Như vậy, nhận thức được ảnh hưởng nghiêm trọng của vấn đề lo âu đến
sức khỏe tâm thần con người có thể thấy rằng có khá nhiều các nghiên cứu về
các rối loạn lo âu. Những nghiên cứu này được tiếp cận cả về phía nghiên cứu
lý luận cho đến những nghiên cứu mang tính chất ứng dụng thực tế trên những
nhóm đối tượng nhất định. Trong số các nghiên cứu đó không có nhiều nghiên
cứu tập trung vào tìm hiểu về mức độ biểu hiện và các dạng RLLA cụ thể ở
sinh viên. Điều đó cho thấy đây là một hướng nghiên cứu cần tiếp tục được đi
sâu tìm hiểu hơn nữa.
1.2. Một số khái niệm
1.2.1. Rối loạn lo âu
1.2.1.1. Khái niệm về RLLA
Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên của con người trước những khó
khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt
qua, tồn tại và vươn tới. Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy
hiểm sắp xảy đến, để con người sử dụng mọi biện pháp đương đầu với sự đe
dọa. Bàn về khái niệm lo âu, hiện nay có nhiều tác giả tìm hiểu và mỗi tác giả
cao, thiếu cơ sở đạo đức cho động cơ có thể dẫn tới tin tưởng một cách bất
hợp lý về mối đe dọa từ những người khác, của chính cơ thể mình, kết quả từ
chính hành động của mình Trong nghiên cứu thực nghiệm, người ta phân ra:
Lo âu tình huống - biểu hiện đặc điểm trạng thái hiện thời của cá nhân; lo âu
như một nét nhân cách - tính lo âu thiên hướng trải nghiệm lo âu cao từ những
nguy hiểm thực tế hoặc tưởng tượng. Có thể giảm lo âu với sự trợ giúp của các
cơ chế bảo vệ như loại trừ, thay thế, hợp lý hóa, phóng chiếu [8]. Theo Nguyễn Minh Tuấn, lo âu là một rối loạn biểu hiện ra bên ngoài
bằng một cảm giác lo lắng không đối tượng, lan tỏa và dai dẳng [10]. Tuy có
nhiều cách phát biểu khác nhau về thuật ngữ lo âu nhưng ở các khái niệm đưa
ra thì chúng đều đề cập đến những đặc điểm sau:
- Liên quan đến nỗi lo lắng về một việc gì đó rất khó chịu và khó đối
phó sẽ xảy ra.
- Là một rối loạn thể hiện những lo lắng, sợ hãi quá mức so với tình
huống.
- Những lo lắng này chỉ tập trung vào những tình huống không thực sự
nguy hiểm.
Như vậy, trên cơ sở tổng hợp các khái niệm của các tác giả, chúng tôi
đưa ra một khái niệm về rối loạn lo âu như sau: Rối loạn lo âu là một rối loạn
cảm xúc được đặc trưng bởi sự lo lắng quá mức , dai dẳng và kéo dài nhiều
ngày về một tình huống có tính chất vô lý, lặp đi lặp lại và kéo dài ảnh
hưởng đến sự thích nghi trong cuộc sống. Lo âu cũng là sự lặp đi lặp lại
những suy nghĩ vô lý, những hành vi mang tính chất nghi thức, đồng thời
đi kèm với những trạng thái về thể chất: khó thở, mệt mỏi, không ngủ được,
ra mồ hôi tay, tim đập nhanh
1.2.1.2. Các biểu hiện của RLLA
Từ cách hiểu về rối loạn lo âu như trên, chúng ta có thể hiểu lo âu là
một trong những cảm xúc cơ bản của con người. Lo âu thường liên quan đến
thắt dạ dày, ăn không tiêu, nôn nào, táo bón
- Hệ tiết niệu: Đái dắt, đái són, đái nhiều, đái dầm
- Hệ thần kinh: đau đầu, chóng mặt, nhìn mờ, tê tay chân, khó ngủ, ác
mộng, cáu bẳn, dễ bị kích thích
- Hệ xương: Mỏi nhức xương khớp, căng cơ bắp 1.2.1.3. Một số RLLA phổ biến [5], [9],[45].[47].
RLLA xuất hiện do những hoàn cảnh hay đối tượng nào đó và thực tế
không gây nguy hiểm. Kết quả đặc trưng là người có RLLA né tránh các hoàn
cảnh và đối tượng đó hoặc là chịu đựng với khiếp sợ. Lo âu ám ảnh sợ không
phân biệt được với các loại lo âu khác về mặt chủ quan, sinh lý hay tác phong
và mức độ trầm trọng của nó có thể tập trung vào các triệu chứng cá nhân như
đánh trống ngực hoặc cảm giác ngất xỉu và thường hay kết hợp với các hiện
tượng thứ phát như sợ chết, sợ mất tự chủ hay sợ điên. Lo âu không nhẹ đi khi
biết rằng người khác không coi hoàn cảnh đó là nguy hiểm hay đe dọa. Chỉ
suy nghĩ về một hoàn cảnh gây ám ảnh sợ thường cũng đủ để gây ra một trạng
thái lo âu đi trước.
Lo âu ám ảnh sợ thường kết hợp với trầm cảm. Lo âu ám ảnh sợ có
trước hầu như luôn bị nặng lên khi có một giai đoạn trầm cảm xen vào. Một số
giai đoạn trầm cảm là cần thiết hoặc chỉ một chẩn đoán được xác định nếu một
rối loạn phát triển rõ rệt trước một rối loạn khác hoặc là một rối loạn phát triển
rõ rệt ở một thời điểm làm chẩn đoán.
* Ám sợ khoảng trống
Thuật ngữ “ám sợ khoảng trống” ở đây được dùng với nghĩa rộng,
không chỉ bao gồm sợ khoảng trống mà sợ cả những khía cạnh liên quan như
sự có mặt một đám đông và việc khó rút lui đến một nơi an toàn. Bởi vậy,
thuật ngữ này kể đến một cụm những ám ảnh sợ liên hệ qua lại và thường gối
lên nhau bao gồm: sợ đi vào cửa hàng, sợ đám đông và các nơi công cộng
hoặc sợ đi một mình trong tàu hỏa, xe ô tô hoặc máy bay. Tuy nhiên mức độ