Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
Khoa khoa học quản lý
*
Phạm Hồng Trang
Giải pháp đảm bảo các kết quả nghiên cứu khoa học
của giảng viên trường đại học lao động – xã hội
được ứng dụng vào thực tiễn
Luận văn thạc sỹ khoa học
Chuyên ngành: Quản lý khoa học và công nghệ
Mã số 60.34.72
Khoá 2005 - 2008
Hà Nội, 2009
- -
1
1.5. Kết luận Chƣơng 1 32
CHƢƠNG 2. Thực trạng ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên
vào thực tiễn ở trường đại học lao động – Xã hội 35
2.1. Khái quát về cơ cấu tổ chức và đội ngũ giảng viên của trƣờng 35
2.2. Tình hình ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên
trƣờng đại học Lao động – Xã hội 44
2.3. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên 50
2.4. Kết luận chƣơng 2 58
2.4.1. Về cơ cấu tổ chức 58
2.4.2. Về mức độ ứng dụng của các kết quả nghiên cứu 58
2.4.3. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng 59
CHƢƠNG 3. Đề xuất giải pháp đảm bảo các kết quả nghiên cứu khoa học của
giảng viên được ứng dụng vào thực tiễn 61
3.1. Các giải pháp đã thực hiện ở trƣờng 61
3.2. Đề xuất phƣơng án đảm bảo kết quả nghiên cứu khoa học của giảng
viên trƣờng đại học Lao động – Xã hội đƣợc ứng dụng vào thực tiễn 62
3.2.1. Nhóm giải pháp đảm bảo cầu về vấn đề nghiên cứu 63
3.2.2. Nhóm giải pháp đảm bảo chất lượng nghiên cứu 72
3.3. Kết luận chƣơng 3 86
KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Phụ lục 95
- -
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tên đề tài
Giải pháp đảm bảo các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên
Trường đại học Lao động – Xã hội được ứng dụng vào thực tiễn
2. Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong công cuộc công
tạo. Mặc dù vậy, từ trước tới nay số lượng các kết quả nghiên cứu khoa học của
cán bộ, giảng viên Trường đại học Lao động – Xã hội được ứng dụng vào thực
tiễn rất hạn chế. Nhiều nguyên nhân dẫn đến điều này cần được nghiên cứu và
phân tích, rút ra các bài học nhằm tránh những lãng phí rất lớn về tài lực và trí
lực.
Với các lý do trên đây cộng với tầm quan trọng của việc ứng dụng kết
quả nghiên cứu vào thực tiễn, căn cứ vào đặc điểm và nhu cầu của Trường đại
học Lao động – Xã hội, tôi đã chọn các “Giải pháp đảm bảo các kết quả
nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Lao động – Xã hội
được ứng dụng vào thực tiễn” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình.
3. Lịch sử nghiên cứu
Xét về bản chất, việc ứng dụng kết quả nghiên cứu của trường đại học
vào sản xuất và đời sống là vấn đề liên kết giữa đào tạo với nghiên cứu và sản
xuất. Do vậy, câu hỏi thường nhật của việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu,
vấn đề làm thế nào để đẩy mạnh việc sử dụng kết quả nghiên cứu phục vụ thực
tiễn luôn là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách.
Liên kết giữa nghiên cứu và triển khai với đào tạo sau đại học ở Việt
Nam [34] do TS. Lê Đình Tiến chủ biên là báo cáo kết quả của Dự án nghiên
- -
5
cứu và đào tạo sau đại học ở nước ta. Cuốn sách tập trung phân tích hiện trạng
của hệ thống nghiên cứu và triển khai và hệ thống đào tạo sau đại học của Việt
Nam trên các khía cạnh nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, kết quả hoạt
động, mối liên kết giữa hai hệ thống này với nhau và với khu vực sản xuất, kinh
doanh. Trên cơ sở phân tích hiện trạng, rút ra những điểm mạnh, yếu, các tác
giả đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm cải thiện, phát triển hệ thống nghiên
cứu và triển khai, hệ thống đào tạo sau đại học ở Việt Nam.
Các khuyến nghị chủ yếu tập trung vào vấn đề tăng nguồn lực tài chính
cho các trường đại học nhằm phát triển cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu, kinh
phí nghiên cứu và đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, các tác
người tạo ra công nghệ tự chuyển giao ; chuyển giao công nghệ theo mô hình
khép kín từ nghiên cứu, triển khai, chuyển giao khoa học và công nghệ
(KH&CN) đến thị trường ; chuyển giao thông qua hội chợ, hội nghị ; chuyển
giao thông qua các tổ chức tư vấn, dịch vụ môi giới trung gian ; thông qua các
tổ chức chuyển giao công nghệ của viện, trường như xưởng thực nghiệm, doanh
nghiệp spin-off, trung tâm chuyển giao công nghệ v.v
Trong luận văn tốt nghiệp, tác giả Nguyễn Thanh Duy đã chọn hướng
nghiên cứu là Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và triển khai
trong đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ở Bình Định [10]. Trong nghiên
cứu của mình, tác giả đã phân tích vai trò của đổi mới công nghệ, nghiên cứu
triển khai với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tìm hiểu về các chính sách
khuyến khích phát triển nghiên cứu và triển khai của Nhà nước, mục tiêu phát
triển hoạt động khoa học và công nghệ ở Bình Định. Các giải pháp mà tác giả
đưa ra nhằm thúc đẩy việc ứng dụng kết quả nghiên cứu gồm :
- -
7
- Nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai của các tổ chức nghiên cứu
và triển khai theo hướng đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động nhằm đáp ứng
nhu cầu đổi mới công nghệ : Hỗ trợ các tổ chức nghiên cứu và triển khai
chuyển đổi sang cơ chế hoạt động tự chủ và định hướng phát triển liên kết với
các tổ chức của Trung ương ; hỗ trợ phát triển nhân lực, thông tin, tài chính cho
các tổ chức ; khuyến khích thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và triển khai ở
địa phương.
- Nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai và ứng dụng kết quả nghiê
cứu thông qua khuyến khích hoạt động trên một số lĩnh vực ưu tiên.
- Tăng cường gắn kết giữa nghiên cứu và triển khai với đổi mới công
nghệ thông qua đổi mới các chính sách và vai trò quản lý Nhà nước về lĩnh vực
này ở địa phương hướng vào hỗ trợ doanh nghiệp.
Như vậy, trong luận văn của mình tác giả chủ yếu tập trung vào các giải
pháp nhằm khuyến khích khả năng tự chủ của các tổ chức nghiên cứu và triển
hỏi) và phỏng vấn sâu 10 cán bộ quản lý khoa học, gồm có Ban giám hiệu, lãnh
đạo phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, trưởng các khoa, bộ môn trực thuộc
trường (khoa Quản lý lao động, khoa Công tác xã hội, Kế toán, Bảo hiểm, bộ
môn Luật, bộ môn Quản trị doanh nghiệp). Tất cả những người được phỏng vấn
sâu đều là thành viên của Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường.
7. Vấn đề nghiên cứu:
- -
9
Hiện nay hầu hết các đề tài nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên
Trường đại học Lao động – Xã hội sau khi nghiệm thu không được triển khai
hay áp dụng vào thực tế. Đây là một sự lãng phí cả về tài lực và trí lực. Vì thế,
vấn đề đặt ra là:
“Làm thế nào để các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên trường
đại học Lao động – Xã hội được ứng dụng vào thực tiễn (trong Nhà trường và
ngoài xã hội) ?”
8. Giả thuyết khoa học :
Các kết quả nghiên cứu của giảng viên có thể được ứng dụng vào thực
tiễn khi đảm bảo chất lượng nghiên cứu và nhu cầu về kết quả nghiên cứu.
Nhóm giải pháp đảm bảo cầu về vấn đề nghiên cứu gồm xây dựng định
hướng nghiên cứu, tìm đầu ra cho sản phẩm nghiên cứu và quảng bá kết quả
nghiên cứu khoa học của Nhà trường.
Nhóm giải pháp đảm bảo chất lượng nghiên cứu gồm nâng cao năng lực
nghiên cứu cho giảng viên, tạo quỹ thời gian nghiên cứu, tạo động cơ nghiên
cứu, hợp tác quốc tế và đổi mới công tác quản lý nghiên cứu khoa học.
Nhiệm vụ của luận văn là minh chứng giả thuyết khoa học trên và phân
tích các giải pháp một cách cụ thể.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Các giải pháp được xây dựng trên cơ sở tiếp cận hệ thống đổi mới quốc
gia và quan điểm về chính sách đổi mới. Đề tài đã vận dụng các phương pháp
sau để chứng minh giả thuyết nghiên cứu:
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1. Một số khái niệm đƣợc sử dụng trong luận văn
.1.1. Khái niệm giảng viên
Giảng viên là viên chức trực tiếp thực hiện công tác giảng dạy và đào tạo
tại các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng trên toàn quốc. Với tư cách là những
người giảng dạy trong nhà trường và các cơ sở giáo dục, giảng viên trước hết
phải hoàn thành những nhiệm vụ của nhà giáo được quy định tại điều 63 Luật
Giáo dục [30;đ63], cụ thể là:
- Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý, chương trình giáo dục;
- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và
điều lệ của nhà trường;
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách
người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền và lợi ích
chính đáng của người học;
- Không ngừng học tập rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, nêu gương tốt cho người học.
Bên cạnh đó, với tư cách là chuyên môn đảm nhận công tác giảng dạy ở
bậc đại học, cao đẳng, giảng viên phải hoàn thành các nhiệm vụ chính sau:
- Giảng dạy đại học, bồi dưỡng sau đại học, hướng dẫn nghiên cứu sinh,
thực tập sinh và bồi dưỡng cán bộ giảng dạy;
- Nghiên cứu và thực nghiệm khoa học kỹ thuật;
- Học tập bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ và chuyên môn;
- Tham gia quản lý công tác đào tạo của nhà trường;
- Thực hiện những công tác chung của xã hội theo chức trách của một cán
bộ nhà nước (lao động nghĩa vụ, luyện tập quân sự)
- -
12
Ngày 28 tháng 11 năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết định
số 64/2008 quy định về chế độ làm việc đối với giảng viên. Theo đó, nhiệm vụ
Theo quy định mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổng quỹ thời gian làm
việc của giảng viên bình quân trong một năm học là 1760 giờ sau khi trừ các
ngày được nghỉ Tết, nghỉ học kỳ. Tổng quỹ thời gian này được phân chia theo
chức danh giảng viên cho từng nhiệm vụ cụ thể như sau:
Bảng 1.1. Bảng định mức giờ làm việc của giảng viên trong một năm học
Nhiệm vụ
Giảng viên
Phó giáo sƣ và
giảng viên chính
Giáo sƣ và giảng
viên cao cấp
Giảng dạy
900 giờ
900 giờ
900 giờ
Nghiên cứu khoa học
500 giờ
600 giờ
700 giờ
Hoạt động chuyên
môn và các nhiệm vụ
khác
360 giờ
260 giờ
160 giờ
Nguồn: Trường Đại học Lao động – Xó hội: Quy định tạm thời về chế độ
cụng tỏc của giảng viờn ngày 7/4/2006
Quỹ thời gian làm việc trên được quy đổi ra mức giờ chuẩn. Giờ chuẩn
theo thâm niên công tác như sau:
Bảng 1.3. Định mức giờ giảng tính theo giờ chuẩn trong một năm học áp
dụng cho giảng viên Trƣờng đại học Lao động – Xã hội ST
T Các loại công việc
Giáo sƣ,
giảng
viên cao
cấp
Giản
g
viên
chính
Giảng
viên từ
5 năm
trở lên
Giảng
viên
dƣới 5
năm
Giản
g
viên
tập
- Giáo viên Giáo dục thể
chất
357
332
320
250
150
2
Tự bồi dưỡng kiến thức 3
Nghiên cứu khoa học
89
80
57
18
18
4
Sinh hoạt chuyên môn và
hội nghị khoa học
- -
16
luyện tập quân sự) được tính theo thời gian làm việc còn lại trong 46 tuần lễ của
năm học.
Với quy định về chế độ công tác của giảng viên như trên chắc chắn có
ảnh hưởng tới qũy thời gian và khả năng nghiên cứu khoa học của giảng viên.
Đây cũng là vấn đề cần xem xét khi tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hạn chế việc
ứng dụng các kết quả nghiên cứu của giảng viên vào thực tiễn.
.1.2. Khái niệm kết quả nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết;
hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới;
hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi
sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người.
Kết quả nghiên cứu khoa học là những sản phẩm thu được sau một quá
trình nghiên cứu. Đó có thể là một bài báo khoa học, một báo cáo khoa học,
một sản phẩm mẫu thu được sau quá trình thực nghiệm, cũng có thể là một mô
hình tổ chức và quản lý, mô hình phương pháp giảng dạy hoặc một giải pháp
xã hội nào đó [16;tr.8]. Nói cách khác, kết quả nghiên cứu khoa học là những
thông tin – tri thức. Có thể đó là tri thức mới về các quy luật của sự vật hoặc
hiện tượng; có thể đó là tri thức mới về các giải pháp mới, công nghệ mới hoặc
vật liệu mới, vv.
Có nhiều cách phân loại khoa học, ở đây chúng tôi đề cập đến cách phân
loại nghiên cứu khoa học theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu. Theo đó,
nghiên cứu khoa học có ba hình thức cơ bản là: Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu
ứng dụng và nghiên cứu triển khai.
Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu
trúc, động thái của các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa
sự vật với các sự vật khác. Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản có thể dẫn đến việc
- -
17
1.2.1. Hệ thống đổi mới quốc gia
Khái niệm “hệ thống đổi mới quốc gia” trong một vài năm gần đây đã trở
nên phổ biến tại một số quốc gia tiên tiến và tổ chức OECD (tổ chức hợp tác và
phát triển kinh tế) thay cho khái niệm lâu nay vẫn hay dùng là “hệ thống
KH&CN quốc gia” hay “hệ thống nghiên cứu và phát triển”. Theo OECD, khái
niệm “hệ thống đổi mới quốc gia” đã và đang thu hút một số lượng lớn các
nghiên cứu trong giới nghiên cứu về cách tiếp cận hệ thống đổi mới.
Xét về mặt lịch sử, theo C.Freeman, B-A, Lundvall là người đầu tiên sử
dụng khái niệm hệ thống đổi mới quốc gia vào cuối thập kỷ 80. Tuy nhiên, dưới
dạng sách được xuất bản thì chính C.Freeman là người đầu tiên sử dụng thuật
ngữ này khi ông mô tả về chính sách công nghệ và phát triển kinh tế của Nhật
Bản. Năm 1991, lần đầu tiên các cách tiếp cận khác nhau về hệ thống đổi mới
quốc gia đã được Mc Kelvey so sánh. Năm 1993, R.Nelson xuất bản cuốn sách
nổi tiếng của mình trong đó so sánh các hệ thống quốc gia về đổi mới của 14
nước.
Trên thực tế đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau để khảo sát và làm rõ
quan hệ tương tác giữa các hoạt động KH&CN và các hoạt động kinh tế – xã
hội trong một quốc gia. Tuy nhiên, không một cách tiếp cận nào cho phép quan
sát các tương tác này trong khuôn khổ vừa bao quát vừa tiếp cận đến mục đích
cuối cùng của các hoạt động KH&CN là đưa ra sản phẩm mới.
Xét về bản chất, nhiều nghiên cứu nhấn mạnh hệ thống đổi mới quốc gia
bao gồm mạng lưới hoặc là hệ thống hoặc là tập hợp các yếu tố và tương tác
giữa các yếu tố, các hoạt động, tổ chức và thiết chế liên quan trong quá trình
tạo ra, áp dụng và phổ biến các tri thức mới trong một quốc gia [44;tr.102].
Tóm lại, có thể hình dung hệ thống đổi mới quốc gia bao gồm các yếu tố sau:
- -
19
- Các loại hoạt động: Gồm có nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ,
thương mại hoá sản phẩm mới, các hoạt động đào tạo nhân lực KH&CN, các
yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng KH&CN…
sản phẩm, dịch vụ, công nghệ, quản lý, tổ chức… Các chính sách này được
nghiên cứu và xây dựng trên cơ sở gắn với yếu tố cạnh tranh trên thị trường sao
cho cả một hệ thống của quốc gia bao gồm hệ thống nghiên cứu và triển khai,
các doanh nghiệp, các trường đào tạo, chính phủ và các yếu tố thị trường được
kết hợp với nhau để hướng tới mục tiêu chung. Mục tiêu chung đó là tạo ra
những sản phẩm, quy trình và dịch vụ mới được thị trường và xã hội chấp nhận.
1.2.2. Chính sách đổi mới
Khái niệm về chính sách đổi mới cho đến nay có khá nhiều cách nhìn
nhận khác nhau.
Stoneman (1987) miờu tả chính sách đổi mới là cỏc chính sách liên quan
đến những can thiệp của chớnh phủ trong nền kinh tế với mục đích tác động
đến quỏ trỡnh đổi mới cụng nghệ. Mowery (1992) thỡ định nghĩa chính sách
đổi mới là những chớnh sỏch ảnh hưởng đến những quyết định của doanh
nghiệp để phỏt triển, thương mại hoỏ và thực hiện cỏc cụng nghệ mới.
Trong một nghiờn cứu về chính sách đổi mới và cỏch tiếp cận hệ thống
đổi m, Edquist (2001) cho rằng chính sách đổi mới là những can thiệp của nhà
nước nhằm đến sự thay đổi kỹ thuật và cỏc hỡnh thức đổi mới khỏc, bao gồm:
Chớnh sỏch nghiờn cứu và triển khai, chớnh sỏch cụng nghệ, chính sách cơ sở
hạ tầng, chớnh sỏch vựng và chớnh sỏch giỏo dục. Điều này cú nghĩa rằng
chính sách đổi mới vượt ra khỏi phạm vi của chớnh sỏch KH&CN (ảnh hưởng
đến đổi mới từ bên cung) và như vậy chính sách đổi mới bao gồm cả hoạt động
cụng ảnh hưởng đến đổi mới từ bờn cầu (Edquist, 2001).
- -
21
Khi nghiờn cứu về chính sách đổi mới trong nền kinh tế tri thức (Cowan
and van de Paal, 2000) cỏc tỏc giả đó đưa ra cách xác định chính sách đổi mới
như một tập hợp cỏc hoạt động chớnh sỏch nhằm gia tăng số lượng và hiệu quả
của cỏc hoạt động đổi mới. Cỏc hoạt động đổi mới ở đây đề cập đến sự sỏng
tạo, sự thớch nghi và chấp nhận cỏc sản phẩm, qui trỡnh hoặc dịch vụ mới
điểm này, trường đại học cần tạo lập được một hệ thống giải pháp thúc đẩy hoạt
động nghiên cứu khoa học, tạo ra được những sản phẩm khoa học có chất
lượng, đến được tay “người tiêu dùng”. Muốn vậy, hệ thống giải pháp đổi mới
đó phải bao gồm các giải pháp tạo ra năng lực nghiên cứu cho tập thể giảng
viên, sinh viên, đảm bảo chất lượng nghiên cứu, thu hút nhu cầu của xã hội.
Đây là vấn đề được tập trung nghiên cứu và phân tích trong chương 3 của luận
văn theo quan điểm của chính sách đổi mới.
1.3. Lý thuyết liên kết
1.3.1. Tam giác liên kết
Khái niệm tam giác liên kết được sử dụng khi xem xét mối quan hệ giữa
nghiên cứu lý thuyết với sản xuất, ứng dụng được thực hiện chủ yếu tại các
trường đại học hoặc tại các viện hàn lâm. Mối quan hệ này có thể hình dung qua
tam giác liên kết dưới đây:
SX NC ĐT
Hình 1.1. Tam giác liên kết NC - ĐT - SX
Hầu hết các xí nghiệp công nghiệp tại các nước công nghiệp mới và đang
phát triển hiện nay đều có quy mô vừa và nhỏ. Năng lực công nghệ của họ (tự
- -
23
tạo hoặc thích nghi) trên thực tế phụ thuộc vào sự hỗ trợ của hạ tầng công nghệ
quốc gia. Công nghệ nào cần mua, công nghệ nào có thể tự tạo cũng phụ thuộc
vào thiết chế của hạ tầng cơ sở đó. Hạ tầng cơ sở này được thiết lập nhằm tạo ra
sự đổi mới thông qua tam giác liên kết giữa các viện nghiên cứu hàn lâm (đào
tạo công nghệ và nghiên cứu lý thuyết), các tổ chức KH&CN và các xí nghiệp
công nghiệp. Sự kết hợp này được gọi là tam giác nghiên cứu công nghiệp và
bản thân nó có vai trò cực kỳ to lớn trong sự nghiệp thúc đẩy KH&CN.
khoa học – science park).
Thể loại liên kết có thể được phân chia tương ứng với mức độ phức tạp
của các quan hệ trong tập hợp hoặc quan hệ theo cặp. Tuy nhiên, các mối liên
kết có thể là chính thức và phi chính thức. Liên kết chính thức thường là các
liên kết dẫn đến xây dựng tổ chức. Mọi hành động sau đó thường được thực
hiện trên cơ sở "hợp đồng hoặc thoả thuận chung". Liên kết phi hình thức thư-
ờng là các liên kết cá nhân, đơn hành dựa trên cơ sở lòng tin lẫn nhau và tiếp
cận cá nhân.
1.3.2. Lợi ích của việc áp dụng tam giác liên kết trong hoạt động
nghiên cứu khoa học ở trường đại học
Trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức sản xuất, kinh doanh là ba
khu vực trong tam giác liên kết. Tuy nhiên, mỗi khu vực này lại có đặc thù
riêng.
Trường đại học có chức năng chính là đào tạo, nghiên cứu và phục vụ xã
hội. Hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đào
tạo và phục vụ xã hội, đồng thời đem lại nguồn thu cho trường. Nhân lực
KH&CN với những tập thể nghiên cứu mạnh là hạt nhân tích cực trong việc
thúc đẩy hoạt động KH&CN và góp phần hoàn thành tốt chức năng trên của
trường.