Quản lý hoạt động dạy học trực tuyến tại Trung tâm đào tạo Viettel trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN VĂN VUI QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRỰC TUYẾN
TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VIETTEL
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGÔ QUANG SƠN
HÀ NỘI – 2012ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
CBNV : Cán bộ, nhân viên

pháp đề xuất

96
Bảng 3.2: Kết quả xếp hạng tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp đề xuất

99

iv
DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang
Hình 1.1: Mối quan hệ biện chứng giữa Dạy và Học
21
Hình 1.2: Mô hình kết hợp giữa Hệ thống quản lý học tập và Hệ

Danh mục viết tắt
ii
Danh mục các bảng
iii
Danh mục các hình
iv
Mục lục
v
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY
HỌC TRỰC TUYẾN TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO

6
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
6
1.1.1. Trên thế giới
6
1.1.2. Ở Việt Nam
10
1.2. Một số khái niệm cơ bản
16
1.2.1. Quản lý
16
1.2.2. Quản lý giáo dục
19
1.2.3. Quản lý nhà trường
20
1.2.4. Quản lý quá trình dạy học
20

46
2.1.2. Mô hình tổ chức
46
2.1.3. C hức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ
49
2.1.4. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên
50
2.1.5. Cơ sở vật chất
50
2.1.6. Tầm nhìn phát triển
51
2.2. Hoạt động dạy học trực tuyến tại Trung tâm đào tạo Viettel
52
2.2.1. Cơ sở pháp lý cho việc triển khai hoạt động DHTT tại TTĐTVT
52
2.2.2. Thực trạng triển khai dạy học trực tuyến
54
2.2.3. Yêu cầu triển khai dạy học trực tuyến
59
2.3. Quản lý hoạt động dạy học trực tuyến tại TTĐTVT
59
2.3.1. Thực trạng quản lý dạy học trực tuyến tại TTĐTVT
59
2.3.2. Điều tra, khảo sát về thực trạng công tác triển khai và quản lý
DHTT tại TTĐTVT

67
2.3.3. Phân tích kết quả điều tra, khảo sát về thực trạng công tác triển
khai và quản lý dạy học trực tuyến tại TTĐTVT


3.2.3. Biện pháp 3: Tăng cường xây dựng và triển khai quy trình đánh
giá kết quả DHTT

87
3.2.4. Biện pháp 4: Quản lý hồ sơ học tập trực tuyến của học viên
91
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
93
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp đề xuất
95
Tiểu kết chương 3
99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
101
1. Kết luận
101
2. Khuyến nghị
102
TÀI LIỆU THAM KHẢO
104
PHỤ LỤC
107 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của
nước ta hiện nay, công nghệ thông tin được xem như là một lĩnh vực mũi
nhọn thúc đẩy quá trình hội nhập ngày một nhanh hơn và sâu rộng hơn. Đây

điểm nhu cầu cần đào tạo đã lên đến hơn 26.000 người. Tuy nhiên quá trình
triển khai ứng dụng còn có nhiều bất cập về quy định, quy trình, hình thức tổ
chức dạy học, công tác kiểm tra, đánh giá và chưa đáp ứng được số lượng
CBNV cần bồi dưỡng thực tế. TTĐTVT mới chỉ tổ chức hoạt động dạy học
một số nội dung nghiệp vụ cơ bản và tổ chức thi trực tuyến cho một số đối
tượng chức danh với mục đích bồi dưỡng nghiệp vụ.
Trong quản lý dạy học nói chung và quản lý DHTT nói riêng, CNTT
được xem như là một công cụ quản lý rất hiệu quả, giúp xử lý nhanh chóng,
chính xác, kịp thời và đưa ra kết quả mong muốn cho nhà quản lý. Qua quá
trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy TTĐTVT đã ứng dụng công nghệ thông tin
vào quản lý hoạt động DHTT như một công cụ để quản lý chất lượng nguồn
nhân lực hơn 04 năm trở lại đây. CNTT giúp đội ngũ lãnh đạo của TTĐTVT
nói riêng và TĐVTQĐ nói chung đánh giá kịp thời chất lượng nguồn nhân
lực, qua đó đưa ra chiến lược quản lý nguồn nhân lực hiệu quả và nâng cao
chất lượng dạy học của mình. Bên cạnh những kết quả đạt được về tổ chức và
quản lý hoạt động DHTT, công tác quản lý hoạt động DHTT của TTĐTVT
vẫn còn có nhiều khó khăn, vướng mắc tập trung chủ yếu ở:
 Một số không ít cán bộ quản lý chưa nhận thức đầy đủ vai trò của hoạt
động DHTT để bồi dưỡng nguồn nhân lực nên thường coi nhẹ hoạt động này;
 Hiểu biết hoạt động DHTT của một số cán bộ, nhân viên còn hạn chế;
 Chưa lập kế hoạch sử dụng cơ sở vật chất và nhân lực tham gia;
 Chưa ban hành quy định DHTT: dạy học – đánh giá kết quả học tập –
cấp chứng chỉ. 3
 Số tài khoản kích hoạt và sử dụng thường xuyên trên hệ thống phục vụ
hoạt động DHTT bị hạn chế ở mức 5000 tài khoản. Đây là số tài khoản người
dùng chỉ bằng 1/5 nhu cầu hiện tại;
Xuất phát từ yêu cầu thực tế quản lý hoạt động DHTT nhằm khai thác

học và góp phần bồi dưỡng nguồn nhân lực cho TTĐTVT và các cơ quan,
đơn vị thuộc TĐVTQĐ trong giai đoạn hiện nay.
6. Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động DHTT của TTĐTVT rộng khắp các tỉnh/thành phố trong
nước. Do điều kiện về thời gian và năng lực còn hạn chế, nên tác giả chỉ tập
trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động DHTT tại các cơ sở đào tạo do
TTĐTVT quản lý trực tiếp.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã kết hợp các phương pháp
nghiên cứu sau:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
 Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước về định
hướng phát triển việc quản lý hoạt động DHTT;
 Nghiên cứu các văn bản pháp quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ
Thông tin và Truyền thông về ứng dụng CNTT vào quản lý hoạt động DHTT;
 Nghiên cứu các văn bản quy định quản lý hoạt động DHTT tại
TTĐTVT;
 Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu quản lý, báo cáo khoa học liên
quan đến vấn đề nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra: Thiết kế và sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến, tìm
hiểu nhận thức, nguyện vọng của đội ngũ quản lý, học viên v.v để thu thập
thông tin về hiện trạng quản lý hoạt động DHTT.
7.3. Những phương pháp hỗ trợ khác
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong việc xử lý các số liệu thu
thập được, tổng hợp, rút kinh nghiệm. 5
8. Cấu trúc luận văn

trong nhiều hoàn cảnh. Đó chính là hình thức dạy học từ xa. Với hình thức này,
người học và người dạy không nhất thiết phải có mặt trên lớp học nhưng vẫn chủ
động truyền đạt kinh nghiệm lịch sử cho nhau được. Từ những yêu cầu mới này
của người học mà hình thức dạy học từ xa (DHTX) đã ra đời.
Có thể nói mốc thời gian được ghi nhận đầu tiên về DHTX trên thế giới
đó là việc giảng dạy cho giáo sỹ nhà thờ bằng gửi thư từ những năm 50-60
sau công nguyên. Trong lịch sử hiện đại mốc thời gian được ghi nhận bởi
Isaac Pitman dạy phương pháp ghi tốc ký bằng gửi thư ở Anh năm 1840 [48].
Trải qua lịch sử phát triển, tên của lĩnh vực này được thay đổi: học tại
nhà, học qua thư từ, học ngoại khóa, học độc lập và học mở rộng. Tất cả các 7
hình thức này đều liên quan đến các hình thức giảng dạy và cách thức học
thích hợp về thời gian và nơi học. Hình thức DHTX được hình thành với sự
tham gia của các công nghệ như công nghệ in ấn (học qua thư từ), công nghệ
phát thanh, điện tín v.v tới truyền thông đa phương tiện và liên lạc điện tử
vào những năm 90 của thế kỷ trước. Tivi cũng là một lợi thế cơ bản đã được
sử dụng trong DHTX. Sự phát triển của một mạng lưới Tivi được phủ sóng
trên phạm vi rộng trở nên phù hợp với mô hình lớp học chỉ với một giáo viên
tại chỗ và người học ở nhiều địa điểm khác nhau. Trở ngại của phương thức
dạy học này là người học phải sẵn sàng học vào giờ phát sóng. Tiếp đó là
mạng Internet và công nghệ Web, và ngày nay là hệ thống học tập điện tử và
các công nghệ DHTT đang khẳng định vị trí trong môi trường học tập. DHTX
thực tế đã bắt đầu với sự xuất hiện của “Trung tâm học tập với sự trợ giúp của
máy tính” vào năm 1982 ở Rindge, New Hampshire, Mỹ - trường học trực
tuyến đầu tiên của quốc gia ở Tây bán cầu này. Từ 1994 - 1995, khi Internet
đã trở nên phổ biến chỉ từ một mô hình nhỏ ban đầu của các nhà cung cấp
Internet nội bộ, nhờ đó giáo dục trực tuyến đã thực sự bùng nổ. Các lợi ích
của giáo dục trực tuyến ngày càng trở nên rõ ràng hơn. Chính sự phát triển

phương pháp phổ biến nhất trong các trường học. Nhà trường tập trung trách
nhiệm dạy học vào giáo viên, coi giáo viên là tâm điểm của hoạt động dạy
học, học viên tham gia vào hoạt động này qua lắng nghe, trao đổi tập trung
quanh giảng viên và các bạn học. Đặc điểm của phương pháp dạy học này là
chi phí tổ chức đào tạo thấp, giáo viên thì chủ động, học viên thì bị động.
+ Giai đoạn 1984-1993 - Kỷ nguyên đa phương tiện
Thời kỳ này chứng kiến sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin
trong các hoạt động của cuộc sống. Các lĩnh vực của công nghệ thông tin như
phần cứng, phần mềm được phát triển và được ứng dụng hầu khắp các nước
phát triển và lan dần sang các nước đang phát triển. Các công nghệ cơ bản
trong kỷ nguyên đa phương tiện này có thể kể đến là máy tính Macintosh, hệ
điều hành Windows 3.1, phần mềm ứng dụng văn phòng PowerPoint v.v Sự 9
kết hợp các công nghệ cơ bản này trên máy tính cho phép tạo ra bài giảng có
hình ảnh và âm thanh đầy sinh động. Đây được xem như là biểu hiện sơ khai
của dạy học có sự trợ giúp của máy tính, hay cụ thể hơn là dựa trên máy tính.
Các bài giảng được soạn thảo và phân phối qua các thiết bị lưu trữ như đĩa
CD-ROM hoặc đĩa mềm để người học có thể lựa chọn và sử dụng cho quá
trình học tập của mình vào bất cứ thời gian, địa điểm nào khi thao tác với máy
tính. Đặc điểm của hình thức dạy học này là giáo viên có thể biết hoặc không
biết người học, hạn chế sự trao đổi, hướng dẫn của giáo viên, người học phải
tự nghiên cứu nhiều hơn và phải có máy tính.
+ Giai đoạn 1994-1999 - Làn sóng E-learning thứ nhất
Khi công nghệ Web được Tim Berners Lee (người Anh) phát minh, các
nhà cung cấp dịch vụ giáo dục, đào tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiến
phương pháp dạy học (PPDH) dựa trên nền tảng Web. Sự kỳ vọng vào E-
mail, Website, trình duyệt (Browser), ngôn ngữ HTML, truyền thông đa
phương tiện tốc độ thấp bắt đầu thâm nhập sâu rộng vào lĩnh vực giáo dục.

đủ. Tuy nhiên, khái niệm E-learning đang dần dần chiếm vị thế trong môi
trường giáo dục như một PPDH hiệu quả.
1.1.2. Ở Việt Nam
Dạy học trực tuyến ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện rõ nét cách đây gần 20
năm. Tiền thân của nó là đào tạo từ xa được Đài tiếng nói Việt Nam thực hiện
qua các chương trình phát thanh dạy tiếng Việt, tiếng nước ngoài v.v Hình
thức dạy học này mới nghe chỉ là chương trình của đài phát thanh, nhưng nhìn
nhận dưới góc độ giáo dục và đào tạo thì đây là hình thức dạy học mới được
thực hiện trên môi trường công nghệ truyền thông. Vô hình chung nó trở
thành một hình thức dạy học đã giúp hàng triệu người dân Việt Nam nâng cao
dân trí.
Thuật ngữ “Giáo dục từ xa” được biết đến từ những năm đầu thập kỷ 60
của thế kỷ XX dưới những khoá học hàm thụ (vừa học vừa thực hành) theo
hình thức gửi thư của Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 1. Tuy nhiên hình 11
thức học hàm thụ này vấp phải thời kỳ nước ta rất khó khăn về kinh tế do
chiến tranh nên không được tiếp tục phát triển. Bên cạnh đó, các công trình
nghiên cứu về giáo dục từ xa không được thực hiện liên tục và kết quả học tập
bằng hình thức này còn chưa được xã hội coi trọng nên hình thức giáo dục,
đào tạo này đã bị bỏ ngỏ một thời gian rất dài.
Thuật ngữ “Đào tạo từ xa” được biết đến trong công cuộc đổi mới sự
nghiệp giáo dục và đào tạo của nước ta từ những năm 90 của thế kỷ trước.
Thuật ngữ này được văn bản hoá trên các quyết định của Chính phủ về việc
thành lập cơ sở đào tạo có chức năng đào tạo từ xa. Cụ thể: ngày 26/7/1993,
Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 389/QĐ-TTg về việc thành lập Đại học
mở bán công thành phố Hồ Chí Minh trong đó tại điều 2 có nêu “Đại học mở
bán công thành phố Hồ Chí Minh là cơ sở đào tạo đại học có các loại hình
đào tạo từ xa, đào tạo tại chỗ, đào tạo tại các điểm vệ tinh, nhằm đáp ứng

Cổng đào tạo tiếng Anh của Công ty Global Education Việt Nam.
2)
Cổng đào tạo tiếng Anh của Công ty Cleverlearn tại Việt Nam.
3)
Cổng đào tạo trực tuyến Việt Nam.
4)
Cổng đào tạo trực tuyến của Cục Công nghệ thông tin - Bộ GD&ĐTT.
5)
Cộng đồng Moodle Việt Nam.
6)
Thư viện giáo trình điện tử - Bộ GD&ĐT.
Ngoài ra, các cơ quan hành chính nhà nước, doanh nghiệp nhà nước v.v
còn triển khai hệ thống hội nghị truyền hình (Video Conferencing) để tổ chức
chỉ đạo ngành dọc, đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ.
Ngày nay song song với hình thức dạy học truyền thống, DHTT đã và
đang khẳng định vị trí trong hệ thống giáo dục bởi những ưu điểm vượt trội 13
như tiết kiệm thời gian, chi phí đào tạo, người học không phải tập trung đến
lớp nhưng vẫn có thể tham gia học. Để có được ưu thế này, công nghệ
Internet đóng vai trò vô cùng quan trọng. Internet đang được phổ cập rộng rãi
tới các trường học ở vùng sâu, vùng xa. Mặt khác tốc độ truyền dữ liệu không
ngừng tăng lên trên các công nghệ ADSL, LeasedLine, Wireless, WiMax, 3G
v.v đang góp phần đáng kể thúc đẩy sự phát triển của DHTT.
Có thể nói dạy học qua mạng thông tin, truyền thông đã dần không còn xa
lạ trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên, DHTT là hình thức đào tạo
mới được đưa vào và phát triển tại các cơ sở đào tạo trong vài năm trở lại đây.
Đặc biệt, công tác quản lý hoạt động DHTT còn nhiều vướng mắc, chưa có chế
tài cụ thể phù hợp với thực tiễn. Cho đến nay chỉ có một vài công trình nghiên

(2) Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực.
(3) Hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý dạy học trực tuyến.
(4) Xây dựng kế hoạch dạy học trực tuyến.
(5) Tăng cường hệ thống thiết bị, phần mềm hỗ trợ dạy học trực tuyến.
(6) Kiểm tra, đánh giá việc tổ chức dạy học trực tuyến.
Năm 2011, học viên Phạm Minh Cường đã bảo vệ thành công đồ án
“Nghiên cứu hệ thống elearning, xây dựng Trung tâm đào tạo và giáo trình
điện tử trên nền chuẩn SCORM” tại Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin -
Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã nghiên cứu chuẩn
SCORM dùng để biên soạn bài giảng, giáo trình trực tuyến mã nguồn mở.
Về mặt quản lý, có thể phân loại các cơ sở ĐTTT thành Hệ thống các cơ
sở đào tạo chính quy có cấp bằng theo hệ thống giáo dục quốc dân và Hệ
thống các cơ sở đào tạo không chính quy. Có nhiều cơ sở đào tạo không chính
quy đã thành công với các mô hình đào tạo ngoại ngữ, luyện thi đại học, đào
tạo bồi dưỡng kiến thức, v.v qua mạng Internet. Cơ sở ĐTTT chính quy có
cấp bằng theo hệ thống giáo dục quốc dân phải kể đến Trường Đại học Công
nghệ thông tin – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Đây là trường đại
học công lập chuyên ngành công nghệ thông tin được thành lập theo quyết 15
định số 134/2006/QĐ-TTg ngày 08/06/2006 của Thủ tướng Chính phủ. Hiện
nay, nhà trường đang tổ chức ĐTTT và cấp bằng theo quy định của Bộ GD&ĐT
đối với hệ cử nhân chuyên ngành công nghệ thông tin (mạng, ứng dụng) [41].
Ngoài ra, Viện Công nghệ thông tin – Đại học Quốc gia Hà Nội cũng là một đơn
vị triển khai và ứng dụng E-Learning khá hiệu quả thông qua hệ thống sát hạch
trực tuyến (CmTest) sử dụng sát hạch cho mọi hình thức đào tạo.
Về ứng dụng công nghệ trong DHTT, nhiều hệ thống DHTT được triển
khai trên nền mã nguồn mở Moodle. Moodle được đưa vào Việt Nam năm
2005 bởi Cộng đồng Moodle Việt Nam với mục đích xây dựng phiên bản

Điều này cho thấy công tác nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo
này đang được quan tâm ở Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay chưa có nghiên
cứu nào đề cập đến phát triển và quản lý một cách toàn diện hệ thống đào tạo
E-Learning.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
Quản lý là một khái niệm đã được rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học
đưa ra các định nghĩa khác nhau từ cách cách tiếp cận khác nhau. Về mặt ngữ
nghĩa của thuật ngữ “Quản lý”, đây là danh từ ghép của từ “quản” và từ “lý”.
Từ “quản” nghĩa là cai quản, trông nom, coi sóc, giữ gìn. Từ “lý” nghĩa là
sửa sang, chỉnh sửa, làm cho tốt lên. Có thể tiếp cận khái niệm “quản lý” từ
các cách sau:
Theo quan niệm truyền thống: “Quản lý là quá trình tác động có ý thức
của chủ thể vào một bộ máy (đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu
cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu đã
xác định” [23].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo,“Quản lý” nghĩa là giữ ổn định để phát
triển, trong ổn định tạo mầm mống cho sự phát triển và trong phát triển giữ
được hạt nhân cho ổn định. 17
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý là quá
trình “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản
lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm
cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [2, tr.9].
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng “Quản lý là sự tác động có
mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động
(khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [17, tr.14].
Theo tác giả Mai Quang Huy, thuật ngữ “quản lý” gồm hai quá trình tích

Kiểm tra (Controlling): Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành
quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn khi cần thiết
của người quản lý.
Mỗi cấp quản lý (cấp cao, cấp trung và cấp thấp) có sự phân phối tầm
hiểu biết, thời gian và công sức cho các chức năng quản trị khác nhau.
Theo tác giả Nguyễn Hải Sản, biểu đồ và tỷ lệ phân phối thời gian và
công sức cho các chức năng quản trị của các cấp quản lý như sau: [20]
Bảng 1.1. Phân phối thời gian và công sức cho các chức năng quản trị
của các cấp quản lý
Stt
Cấp quản lý
Kế hoạch
Tổ chức
Điều khiển
Kiểm tra
1
Cao cấp
28%
36%
22%
14%
2
Trung gian
18%
33%
36%
13%
3
Cơ sở / thấp
15%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status