đại học quốc gia hà nội
khoa s- phạm
l-ơng Tuấn Long biện pháp hoàn thiện công tác quản lý
sinh viên tại viện đại học mở hà nội Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05 luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc
hà nội, Năm 2008
12
1.1.3. Qun lý nh trng (trong bi cnh hin nay)
18
1.1.4. Sinh viờn, mt s c trng tõm lý xó hi ca sinh viờn hin
nay
20
1.1.5. Bin phỏp qun lý sinh viờn
23
1.2. Ni dung cụng tỏc qun lý sinh viờn
25
1.2.1. Hot ng qun lý sinh viờn.
25
1.2.2. Ni dung cụng tỏc qun lý sinh viờn
27
1.2.3. Vai trũ ca, v trớ ca cụng tỏc sinh viờn trng i hc
31
1.2.4. Vai trũ ca on TNCS H Chớ Minh v Hi sinh viờn trong
cụng tỏc qun lý sinh viờn
32
Tiu kt chng 1.
33
Chng 2: Thực trạng công tác quản lý sinh viên
tại Viện Đại học Mở Hà Nội 34
2.3.8. Kết luận về thực trạng công tác quản lý sinh viên hệ chính quy ở
Viện Đại học Mở Hà Nội……………………………………………
53
2.3.8. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý về các biện pháp quản
lý sinh viên…………………………………………………………….
56
Tiểu kết chương 2……………………………………………………
47
Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ
HÀ NỘI…………………………………………………………………
58
3.1 Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp……………………………
58
3.2. Một số biện pháp quản lý sinh viên hệ chính quy ở Viện Đại học
Mở Hà Nội……………………………………………………………
59
3.2.1. Biện pháp thứ nhất: Tăng cường quản lý hoạt động học và tự học
DANH MỤC CÁC BẢNG Sơ đồ 1.1: Bản chất quá trình quản lý
Bảng 2.1: Tổng hợp xét lên lớp năm học 2005 -2006
Bảng 2.2: Tổng hợp xét lên lớp năm học 2006 -2007
Bảng 2.3: Tỷ lệ sinh viên xếp loại tốt nghiêp năm 2005
Bảng 2.4: Tỷ lệ sinh viên xếp loại tốt nghiêp năm 2006
Bảng 2.5: Tỷ lệ sinh viên xếp loại tốt nghiêp năm 2007
Bảng 2.6: Số lượng đề tài NCKH của SV từ năm 2003 đến 2006
Bảng 2.7: Tổng hợp số lượng đề tài NCKH của SV năm 2007
Bảng 2.8: Số đề tài NCKH của SV đạt giải toàn Quốc từ 2002-2007
Bảng 2.9: Nhận thức về tầm quan trọng của công tác QLSV
Bảng 3.1: Thống kê ý kiến của biện pháp thứ nhất
Bảng 3.2: Thống kê ý kiến của biện pháp thứ hai
Bảng 3.3: Thống kê ý kiến của biện pháp thứ ba
Bảng 3.4: Thống kê ý kiến của biện pháp thứ tư
Bảng 3.5: Thống kê ý kiến của biện pháp thứ năm
Bảng 3.6: Thống kê ý kiến của các chuyên gia
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BCHTW Ban chấp hành Trung ương
CBQL Cán bộ quản lý
CNH- HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang bước vào quá trình hội nhập
toàn diện với thế giới, sự bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với quá trình
toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ đã mang lại những điều kiện tích cực cho
sự phát triển của lực lượng tri thức trẻ, tuy nhiên bên cạnh đó là không ít những
tác động tiêu cực đi liền với nó. Trong công cuộc đổi mới, ngành giáo dục và
đào tạo đã đề ra và triển khai thực hiện những chủ trương biện pháp về đổi mới
mục tiêu, nội dung, phương pháp, quy trình đào tạo và đã cố gắng từng bước
tăng cường điều kiện, phương tiện để đảm bảo và nâng cao chất lượng. Công
tác sinh viên phải hướng vào mục tiêu đào tạo chung của nhà trường là hình
thành nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân; đào tạo những người lao
động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa
xã hội, sống lành mạnh, có kiến thức văn hoá, công nghệ, kỹ năng nghề nghiệp,
có sức khoẻ, góp phần có hiệu quả trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Sinh viên là lớp thanh niên đang ở tuổi trưởng thành, đang hoàn thiện
về nhân cách, có nhu cầu khẳng định mạnh mẽ về cá tính, thích hoạt động tập
thể, thích khám phá khi có cơ hội các em có thể tụ tập để cùng thoả mãn các
nhu cầu và hứng thú riêng. Do chưa quen với môi trường sinh hoạt, học tập
mới, do ý thức tự giác chưa tốt, đồng thời với điều kiện xã hội phức tạp, do sự
buông lỏng quản lý ở phía những người có trách nhiệm (nhà trường và địa 2
phương), một bộ phận sinh viên không làm chủ được bản thân, rất dễ bị nảy
sinh tiêu cực, biến thành tội phạm, phần tử xấu.
Viện Đại học Mở Hà Nội là một trường Đại học công lập nhưng hoạt
động theo cơ chế tự chủ tài chính, cơ sở vật chất và các địa điểm học tập phân
tán trên khắp địa bàn thành phố Hà Nội và đặc biệt không có ký túc xá; 100%
sinh viên đang học tập tại Viện đều ngoại trú.
Năm học 2006 – 2007, Viện Đại học Mở Hà Nội có 8042 sinh viên hệ
chính quy đang theo học tại 7 Khoa, trong đó chỉ có khoảng 30% có gia đình
Nghiên cứu cơ sở lý luận về những vấn đề quản lý nhà trường và công
tác quản lý sinh viên
Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội
Đề xuất những biện pháp hoàn thiện công tác quản lý sinh viên ở Viện
Đại học Mở Hà Nội
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội trong giai đoạn mới
5. Giả thuyết khoa học
Trong hoàn cảnh thực tế hiện nay của Viện Đại học Mở Hà Nội, việc
quản lý sinh viên còn nhiều hạn chế và bất cập. Nếu tìm ra những biện pháp
hợp lý nhằm tăng cường công tác quản lý sinh viên sẽ góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện đối với sinh viên trong nhà trường.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, trong quá
trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các nhóm phương pháp sau:
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Bao gồm việc phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các văn
kiện, văn bản và tài liệu có liên quan đến các vấn đề quản lý, công tác quản lý
sinh viên. Làm cơ sở cho khảo sát thực trạng và đề xuất những biện pháp hoàn
thiện công tác quản lý sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4
6.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm: đi tham quan, khảo sát thực tế để quan sát
các hoạt động của sinh viên và thực tiễn công tác quản lý sinh viên của một số cơ
sở đào tạo đại học nói chung cũng như của Viện Đại học Mở Hà Nội nói riêng.
Tư bản: “ bất cứ lao động nào có tính chất xã hội được thực hiện ở một quy
mô tương đối lớn đều cần đến sự quản lý ở một chừng mực nhất định. Một
người chơi vĩ cầm riêng lẻ thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì cần
có nhạc trưởng”
Khi nghiên cứu về quản lý có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau:
a. Tiếp cận truyền thống
+ Tiếp cận theo kinh nghiệm thực tiễn: Cách tiếp cận này phân tích sự
quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm, mà thông thường là thông qua các
trường hợp cụ thể. Nó dựa trên sự tin tưởng: qua việc nghiên cứu những
trường hợp thành công hoặc sai lầm trong các trường hợp các biệt của những
người quản lý cũng như những dự định của họ để giải quyết những vấn đề đặc
trưng từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào để quản lý một cách hiệu
quả trong hoàn cảnh tương tự.
+ Tiếp cận theo thuyết hành vi (hay thuyết quan hệ con người): Dựa
trên ý tưởng cho rằng quản lý làm cho công việc hoàn thành thông qua con
người. Do đó việc quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con
người. Do đó việc nghiên cứu nên tập trung vào mối liên hệ giữa người với
người. Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản
lý và vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục
tiêu thì “ con người nên hiểu con người”. Học thuyết này giúp cho người quản
lý ứng xử một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền. Thay vì quá
chú trọng tới các chức năng của người quản lý, thuyết này gắng hướng dẫn
cách người quản lý thực hiện cái họ phải làm. 6
+ Tiếp cận theo lý thuyết quyết định: Dựa trên sự tin tưởng vào quyết
định của những người quản lý, người ta chỉ cần tập trung vào việc đưa ra
quyết định sau đó là việc xây dựng lý luận xung quanh việc ra quyết định, tức
là lựa chọn trong số các khả năng để có thể rút ra một đường lối hành động.
hay lao động chung trực tiếp trên quy mô khá lớn đều đòi hỏi pahỉ có một sự
chỉ đạo ít hay nhiều để điều hòa các hoạt động cá nhân và thực hiện các chức
năng chung. Tức là những chức năng phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ
thể sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể sản xuất
đó. Bất kỳ lao động nào có tính xã hội và chung trực tiếp, được thực hiện với
quy mô tương đối lớn đều ít nhất cần có sự quản lý.
Phrêđic Uynslâu Taylor (Fredrick Winslow Taylor: 1856-1915), người
Mỹ, được coi là cha đẻ của Thuyết quan lý khoa học, là một trong những
người mở ra “Kỷ nguyên vàng” trong quản lý của Mỹ và các nước phương
Tây. Taylor định nghĩa “ Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người
khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt
nhất và rẻ nhất” [10, Tr. 10]. Đó cũng là tư tưởng cơ bản của Taylor về quản
lý theo khoa học, gồm 4 điểm chính:
+ Chú trọng cải tạo các quan hệ trong quản lý
+ Tiêu chuẩn hóa các công việc.
+ Chuyên môn hóa lao động
+ Hình thành quan niệm con người kinh tế.
Tư tưởng quản lý cốt lõi của Taylor là đối với mỗi loại công việc dù
nhỏ nhặt nhất đều có một “khoa học” để thực hiện nó, ông đã liên kết các mặt
kỹ thuật và con người trong tổ chức.
GS. Đặng Vũ Hoạt và GS. Hà Thế Ngữ cho rằng: Quản lý là một quy
trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định.
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự
phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến
hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy
phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý… phải có người đứng đầu. Đây là hoạt 8
Tổ chức
Kiểm tra
Lãnh đạo 9
được mục tiêu cho ý tưởng mới. Theo tài liệu bài giảng cao học chuyên đề
Tâm lý học quản lý của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì có tám chiến thuật gây
ảnh hưởng trong tổ chức để đưa thành viên của tổ chức vào công việc. Đó là :
+ Tư vấn: Lôi cuốn, khuyến khích mọi thành viên tham gia, góp ý kiến
vào việc ra quyết định và biến đổi. Chiến thuật này sẽ tạo tâm lý tích cực cho
các thành viên vì họ đều cảm thấy được tôn trọng, được phát huy tính dân chủ.
+ Thuyết phục, lôi kéo duy lý: Cố gắng thuyết phục các thành viên bằng
lý lẽ, lô gíc và sự kiện. Chiến thuật này đòi hỏi người quản lý phải có tư duy
sắc bén, hiểu sâu sắc vấn đề và có tài hùng biện.
+ Kêu gọi (khơi gợi) khéo léo: Cố gắng làm cho các thành viên nhiệt
tình ủng hộ và tham gia bằng cách khơi gợi cảm xúc, lý tưởng, giá trị của họ.
+ Chiến thuật khôn khéo: Tạo cho các thành viên đạt đến trạng thái tinh
thần tốt nhất, phấn chấn nhất trước khi thực hiện một yêu cầu nào đó.
+ Chiến thuật tạo đồng minh: Lôi cuốn sự ủng hộ, giúp đỡ của một
thành viên để thuyết phục các thành viên khác.
+ Chiến thuật gây áp lực: Yêu cầu sự phục tùng hoặc sử dụng các biện
pháp đe doạ, răn đe.
+ Chiến thuật tạo sức ép từ bên trên: Cố gắng thuyết phục các thành
viên bằng cách có được sự ủng hộ từ cấp trên.
+Chiến thuật trao đổi, thương thảo: Biểu hiện cam kết, hoặc hứa hẹn áp
dụng các ưu đãi, cất nhắc
Các chiến thuật tâm lý nêu trên sẽ đạt được kết quả tốt đẹp nếu người
quản lý hình thành liên minh chiến lược trên cơ sở:
- Tạo nên sự tôn trọng lẫn nhau.
trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt
được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Người quản lý phải phối hợp, điều phối
tốt các nguồn nhân lực của tổ chức.
- Lãnh đạo (Chỉ đạo) - Leading:
Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã
được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Đó là
quá trình liên kết, liên hệ với người khác, hướng dẫn và động viên họ hoàn
thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Tất nhiên 11
việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy
đã hoàn tất, mà nó xuyên suốt trong hoạt động quản lý.
- Kiểm tra (Controlling): Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành quả
hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết.
1.1.1.4. Các nguyên tắc quản lý
Ở nước ta, trong việc quản lý các tổ chức (kinh tế, chính trị, văn hóa,
giáo dục…) mà yếu tố chủ yếu là con người, các nhà lãnh đạo quản lý thường
vận dụng những nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc đảm bảo tính Đảng
Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền, vì thế trong
quản lý phải bám sát đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong hoạt
động của bộ máy.
+ Nguyên tắc tập trung dân chủ
Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lý một cách khoa học,
có sự kết hợp chặt chẽ của các cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng tạo của
quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lý.
Tập trung trong quản lý được hiểu là toàn bộ các họat động của hệ thống
tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch đường lối,
Các nhà lý luận Xô Viết về quản lý giáo dục cho rằng:
“Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế
hoạch hóa, tài chính… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan
trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt
số lượng cũng như chất lượng” [29, Tr .22]
Quản lý chính là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có
mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau [10, Tr. 13].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là
hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công
tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [5, Tr. 31] 13
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựng những
nhân tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ở tầm vĩ mô
là quản lý của nhà nước mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở, Phòng Giáo
dục, ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trưởng nhà trường.
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục,
trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất.
1.1.2.2. Mục tiêu của quản lý giáo dục
Thông qua định nghĩa về quản lý giáo dục ta có thể thấy mục tiêu của
quản lý giáo dục. Đó chính là trạng thái mong muốn trong tương lai đối với hệ
thống giáo dục, đối với trường học hoặc đối với những thông số chủ yếu của
hệ thống giáo dục trong mỗi nhà trường. Những thông số này được xác định
trên cơ sở đáp ứng những mục tiêu tổng thể của sự phát triển kinh tế – xã hội
trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Những mục tiêu này đuợc xác
định bao gồm các yêu cầu sau:
+ Đảm bảo quyền học sinh vào các ngành học, các cấp học, lớp học
đúng chỉ tiêu và tiêu chuẩn.
+ Đảm bảo chỉ tiêu và chất lượng đạt hiệu quả đào tạo.
1.1.2.4. Phương pháp quản lý giáo dục
Cũng như bất cứ một hệ thống quản lý nào khác, quản lý giáo dục phải
sử dụng các phương pháp quản lý chung. Tuy nhiên, các phương pháp quản lý
khác phải là đa năng, hoàn toàn đúng với mọi trường hợp, vấn đề là người sử
dụng, vận dụng nó một cách linh hoạt sẽ cho kết quả cao hơn.
Có nhiều phương pháp quản lý được áp dụng trong quản lý quá trình
giáo dục - đào tạo:
+ Phương pháp thuyết phục: Là phương pháp tác động vào nhận thức
của con người vì nhận thức đúng sẽ dẫn đến hành động đúng và ngược lại.
Phương pháp này được gắn với tất cả các phương pháp khác và sẽ được nhà
quản lý sử dụng đầu tiên. Nếu không đạt hiệu quả thì mới dùng đến phương
pháp khác. 15
+ Phương pháp tổ chức hành chính: Là cách tác động của chủ thể quản
lý vào đối tượng bị quản lý trên cơ sở quan hệ quản lý tổ chức hành chính. Cơ
sở của phương pháp này là dựa vào quy luật tổ chức. Nghĩa là hệ thống tổ
chức nào cũng có quan hệ tổ chức, mà ở đó nhà quản lý sử dụng quyền uy và
sự phục tùng nhờ dựa vào bộ máy tổ chức nhà nước.
+ Phương pháp tâm lý: Là phương pháp tác động của chủ thể quản lý
vào đối tượng quản lý thông qua tâm lý, tình cảm con người. Cơ sở tác động là
các quy luật tâm lý con người và các chức năng tâm lý của con người (định
hướng, điều khiển). Nội dung phương pháp này là kích thích tinh thần tự giác,
sự say mê con người. Muốn thành công, nhà quản lý phải hiểu rõ mình, hiểu
tâm lý đối tượng.
+ Phương pháp kinh tế: có nghĩa là người quản lý áp dụng các chỉ tiêu
định mức lao động, các biện pháp khuyến khích vật chất: tăng giờ, tiền lương,
phụ cấp, tiền thưởng… để người cán bộ, giáo viên thấy rằng mình được quan
tâm và cố gắng công tác tốt hơn.
cách của mình mà từng cá nhân tác động lên đối tượng (tự nhiên – xã hội)
bằng việc tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất, học tập cũng như các
hoạt động chính trị, xã hội khác…
Tính khách thể của nhân cách thể hiện trong mối quan hệ thông qua
nhân cách của mình mà từng cá nhân thừa nhận, tiếp thu và thực hiện những
yêu cầu do xã hội quy định.
Kết quả quá trình giáo dục - đào tạo tác động lên mặt khách thể của nhân
cách HSSV chỉ phát huy tác dụng tối đa khi nó thúc đẩy, hướng dẫn được mặt
chủ thể nhân cách học sinh, sinh viên, tức là làm cho họ tích cực, độc lập, chủ
động trong việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và tu dưỡng rèn luyện đạo
đức, tác phong. Nhân cách học sinh, sinh viên với tính chất 2 mặt đó, trong
quan hệ với quá trình giáo dục đào tạo, lại vừa là đối tượng, vừa là sản phẩm.
Đó chính là điểm khác biệt giữa quá trình giáo dục đào tạo với các hoạt động
khác. 17
Đặc điểm về tính 2 mặt của nhân cách đòi hỏi nhà quản lý phải biết kết
hợp lý 2 mặt đó trong việc tổ chức quá trình giáo dục đào tạo học sinh, sinh
viên – là chủ thể đồng thời là đối tượng của quá trình giáo dục đào tạo.
Nhân cách của học sinh, sinh viên có những đặc điểm chung (đặc điểm
lứa tuổi, trình độ, phản ánh thời đại). Đó là cơ sở của việc đào tạo theo mục
tiêu, nội dung chung cho những tập thể học sinh, sinh viên được sắp xếp thành
các lớp, các tổ chức học sinh, sinh viên. Nhân cách học sinh, sinh viên có
những đặc điểm riêng (đặc điểm sinh học, tính khí, cá tính) làm cho nhân cách
mỗi học sinh, sinh viên có một bản sắc riêng, độc đáo, cá biệt. Trong quản lý
giáo dục, đào tạo cần phải tôn trọng những đặc điểm riêng này làm phong phú
đời sống tập thể, xã hội.
+ Phải nắm vững chức năng, nhiệm vụ của quá trình
Chức năng của quá trình giáo dục đào tạo phải đồng thời thực hiện: giáo
trong kế hoạch giảng dạy và chương trình các môn học bắt buộc.
Các hoạt động giáo dục đào tạo ngoài lớp bao gồm việc tự học ngoài
giờ lên lớp, sinh hoạt hướng nghiệp, sinh hoạt tập thể, sinh hoạt câu lạc bộ,
hoạt động chính trị xã hội, lao động sản xuất trong nhà trường.
Các hoạt động giáo dục đào tạo ngoài nhà trường bao gồm các hoạt động
chính trị xã hội, hoạt động đoàn thể, hoạt động đội, lao động công ích với địa
phương, cộng đồng, tham quan, thực tế tại các địa phương, thực tập tốt nghiệp.
+ Phải nắm vững các yếu tố của quá trình
Quá trình giáo dục đào tạo là sự vận động của một hệ thống do nhiều yếu
tố cấu thành, chúng được gọi là các yếu tố của quá trình giáo dục đào tạo. Mỗi
yếu tố của quá trình giáo dục đào tạo có những tính chất, đặc điểm riêng và có
những tính chất, đặc điểm riêng và có những tác động khác nhau đến kết quả của
quá trình giáo dục đào tạo. Giữa các yếu tố có mối quan hệ tác động qua lại lẫn
nhau. Ta có thể chia các yếu tố của quá trình giáo dục thành 2 nhóm:
Một là: Nhóm các yếu tố giáo dục đào tạo. 19
Nhóm này bao gồm các yếu tố có quan hệ trực tiếp đến hoạt động cải
biến nhân cách HSSV. Đó là mục tiêu giáo dục đào tạo, nội dung giáo dục đào
tạo, phương pháp giáo dục đào tạo, hình thức tổ chức giáo dục đào tạo và giáo
viên, học sinh. Trong đó giáo viên là yếu tố chủ đạo, học sinh, sinh viên là yếu
tố trung tâm của quá trình giáo dục đào tạo và cuối cùng là kết quả dạy học và
giáo dục.
Hai là: Nhóm các yếu tố đảm bảo
Nhóm này gồm các yếu tố không có quan hệ trực tiếp đến hoạt động cải
biến nhân cách HSSV, nhưng không thể thiếu được, bởi vì chúng tạo điều kiện
cho các hoạt động của giáo viên, học sinh. Nhóm này bao gồm các yếu tố đảm
bảo về chính trị, tinh thần, các yếu tố đảm bảo về tổ chức, quản lý, các yếu tố
đảm bảo về cơ sở vật chất kỹ thuật.