Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ VĂN NGÔN

HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
4
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4
4. Giả thuyết khoa học
4

1.4.2. Dạy-học nghề phổ thông theo từng giai đoạn phát triển
26
1.4.3. Đặc trưng cơ bản của hoạt động dạy-học nghề phổ thông
28
1.5. Quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông
32
1.5.1. Các đặc trưng hoạt động dạy-học NPT và quản lý hoạt động
dạy-học NPT
32
1.5.2. Đặc điểm của quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông
34
1.5.3. Yêu cầu của quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông trong
giai đoạn hiện nay
35
Tiểu kết chương 1
36
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC
KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƢỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG
37
2.1. Khái quát về sự phát triển kinh tế, giáo dục của Hải Phòng
37
2.1.1. Khái quát về vị trí địa lý, tình hình kinh tế- chính trị, văn hoá-
37
xã hội của Hải Phòng
2.1.2. Tình hình văn hóa giáo dục của Hải Phòng
39
2.2. Tiến trình phát triển của Trung tâm giáo dục KTTH – Hướng
nghiệp Hải Phòng
42

77
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC
NGHỀ PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ
THUẬT TỔNG HỢP - HƢỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG
79
3.1. Nguyên tắc lựa chọn biện pháp
79
3.1.1. Đảm bảo tính kế thừa
79
3.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn
79
3.1.3. Đảm bảo tính hiệu quả
79
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại
trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng
79
3.2.1. Chỉ đạo có hệ thống việc tìm hiểu đối tượng, thăm dò nhu cầu
học nghề phổ thông của học sinh, bố trí một cách hợp lý, khoa học
các lớp nghề phổ thông
79
3.2.2. Xây dựng quy trình quản lý hoạt động dạy- học nghề phổ thông
85
phù hợp với tình hình thực tế của Trung tâm
3.2.3. Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy-học nghề phổ thông của giáo
viên, kích thích giáo viên có động lực cải tiến phương pháp rèn luyện
tay nghề cho học sinh
98
3.2.4. Quan tâm chỉ đạo chặt chẽ việc đổi mới hoạt động kiểm tra,
đánh giá kết quả dạy-học nghề phổ thông
106

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định:
“Con người và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển đất
nước trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến cơ
bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo.
Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự
tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp
luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn.
Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề
nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn
lên về khoa học và công nghệ. Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các
chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà kinh doanh, nhà quản lý.
Chính sách sử dụng lao động và nhân tài phải tận dụng mọi năng lực, phát
huy mọi tiềm năng của tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ đất nước” [2, tr. 9].
Mục tiêu của Giáo dục Việt Nam được ghi rõ trong Điều 2 - Luật Giáo
dục 2005:
“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện
có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân
cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc” [23, tr. 3].
Tính chất, nguyên lý giáo dục - “Triết lý của giáo dục Việt Nam” được
khẳng định trong Điều 3 - Luật Giáo dục 2005:
“1. Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính
nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng.
2. Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với
hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo
dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [23, tr.3].


chung, mỗi đơn vị, cơ sở giáo dục cụ thể nói riêng cũng không thể đứng ngoài
những đòi hỏi đó. Mỗi một cơ sở giáo dục phải đặt ra cho mình những yêu

3
cầu hết sức cụ thể, những mục tiêu rõ ràng cần đạt đến, những biện pháp phù
hợp, linh hoạt để đạt được hiệu quả cao nhất trong mọi hoạt động của đơn vị
mình, đặc biệt là nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đáp ứng nhu cầu cấp
bách của phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
Để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, phải tiến hành đồng bộ nhiều
hoạt động trong công tác chuyên môn đặc biệt là hoạt động quản lý chuyên
môn. Trong quản lý chuyên môn, quản lý hoạt động dạy - học trong các cơ sở
giáo dục giữ vai trò then chốt, quyết định chất lượng giáo dục đào tạo. Để
nâng cao chất lượng dạy học nói riêng, giáo dục đào tạo nói chung, việc xây
dựng các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học một cách hợp lý, khoa học đã
trở thành một yêu cầu bắt buộc với những người làm công tác quản lý trong
các cơ sở giáo dục.
Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp (KTTH - HN) là một cơ
sở giáo dục phổ thông (Điều 30 - Luật Giáo dục), nhiệm vụ chính trị (chức
năng cơ bản nhất) của nó là: Dạy nghề phổ thông cho học sinh trung học, định
hướng nghề nghiệp, góp phần phân luông đào tạo sau trung học cho học sinh
phổ thông.
Việc dạy nghề phổ thông và định hướng nghề nghiệp cho học sinh
trung học tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng được thực hiện từ
nhiều năm nay, đã có những đóng góp nhất định cho ngành giáo dục - đào tạo
của Thành phố Hải Phòng trong công tác hướng nghiệp và đào tạo nguồn
nhân lực song trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém. Nguyên nhân
không nhỏ trong đó là do hoạt động quản lý của các nhà quản lý Trung tâm
chưa thực sự hiệu quả nhất là quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông.
Do vậy, xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nghề phổ
thông để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động dạy học nghề phổ thông tại

6. Phạm vi nghiên cứu
Trọng tâm của luận văn là nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm nâng
cao chất lượng hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục
KTTH - HN Hải Phòng giai đoạn 2008 - 2013.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích tổng hợp, hệ
thống hóa, khái quát hóa các tài liệu để xây dựng khung lý thuyết và các khái
niệm công cụ làm luận cứ lý luận cho vấn đề nghiên cứu.

5
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: nhằm tổng kết các kinh nghiệm quản
lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: nhằm thu thập thông tin từ đội
ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên của Trung tâm Giáo dục KTTH - HN
về thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông.
Phương pháp này cũng được sử dụng để đánh giá các giải pháp được đề xuất.
- Phương pháp quan sát: nhằm thu thập thông tin về thực trạng quản lý
hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải
Phòng trong giai đoạn vừa qua.
7.3. Nhóm phương pháp xử lý thông tin
- Phương pháp chuyên gia: trong quá trình tiến hành luận văn chúng tôi
thường xuyên xin ý kiến chuyên gia về các lĩnh vực liên quan đến vấn đề
nghiên cứu của đề tài. Qua ý kiến chuyên gia, tác giả có thể điều chỉnh các
nhận định, đề xuất.
Các phương pháp này được sử dụng trong quá trình xử lý các thông tin,
xử lý các kết quả điều tra, kết quả khảo nghiệm.
- Phương pháp khảo nghiệm: khảo nghiệm để minh chứng tính khả thi
của các giải pháp được đưa ra trong luận văn.

phương thức: Phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kỹ thuật
tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho học
sinh phổ thông.
Các tác giả Liên xô cũ đã trình bày những phương pháp thực hành
lao động nghề nghiệp cho học sinh phổ thông tại các cơ sở học tập - lao
động liên trường.
Nhiều nhà giáo dục học thuộc tổ chức nghiên cứu về lao động, kỹ thuật
và kinh tế trong hoạt động dạy học của Cộng hòa Liên bang Đức đã làm sáng
tỏ về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức lao động nghề nghiệp. Họ
khẳng định rằng, hoạt động dạy học lao động - kỹ thuật - kinh tế không chỉ
mang tính quan trọng đối với những môn học khác, mà còn là bộ phận cấu
thành cơ bản của giáo dục trung học phổ thông.
Tác giả Magumi Nishino ở Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản đã
nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng tri thức và những kỹ năng cơ bản của những

7
ngành nghề cần thiết cho học sinh phổ thông. Theo tác giả, học sinh trung học
phải được: Bồi dưỡng tri thức và kỹ năng cơ bản của những ngành nghề cần
thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựa
chọn ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân.
Jacques Delors, Chủ tịch Ủy ban quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỷ
21 của UNESCO khi phân tích “Những cột trụ của giáo dục” đã viết : “Học
tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại, đó là bốn trụ
cột mà ủy ban đã trình bày và minh họa như những nền tảng của giáo dục”
[41, tr.6]. Theo tác giả vấn đề học nghề của học sinh phổ thông là một căn
bản không thể thiếu được trong giáo dục: “Học làm việc là cột trụ thứ hai”
[41, tr.8]. Tác giả đã nhấn mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của
mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học.
Nhìn chung những công trình nghiên cứu về hoạt động dạy học lao
động chuẩn bị nghề nghiệp ở nước ngoài đều chú ý việc cải cách mục tiêu,

Hanh, Lê Đức Phúc, Hà Thế Truyền, Phạm Văn Sơn, đã cho chúng ta
những khái niệm, số liệu, những kinh nghiệm giáo dục kỹ thuật và dạy
nghề cho học sinh phổ thông. Những công trình của các tác giả đề cập đến
nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề dạy nghề như: tổ chức lao động sản
xuất cho học sinh phổ thông, tư vấn nghề nghiệp cho học sinh, các phương
thức giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp trong trường phổ thông
và trung tâm KTTH-HN-DN.
Công trình khoa học của tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập vấn đề: “Thiết
lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” [20]. Trong
đó tác giả xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp trong điều kiện
phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đề xuất những hình thức phối hợp giữa
nhà trường, các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong hướng nghiệp-dạy
nghề cho học sinh phổ thông.
Trong những năm gần đây, một số đề tài nghiên cứu trong các luận văn
Thạc sỹ Quản lý giáo dục của các tác giả Trần Văn Bẩy, Nguyễn Gia Thịnh,
Nguyễn Quang Dũng, Đào Công Minh, cũng đề cập đến các vấn đề liên
quan tới hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông, nhưng chưa có tác giả nào đề
cập đến các biện pháp quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông tại trung
tâm kỹ thuật tổng hợp-hướng nghiệp, đặc biệt là tại Trung tâm giáo dục
KTTH-HN Hải Phòng, một trung tâm có bề dày truyền thống, có số lượng
học sinh của nhiều trường trong thành phố đến học nghề phổ thông rất đông,
đã có những đóng góp đáng kể trong công tác hướng nghiệp và dạy nghề phổ
thông cho học sinh của thành phố Hải Phòng. Vì vậy, chúng tôi muốn đóng
góp một phần nhỏ bé bằng nghiên cứu của mình vào giải quyết một số bất cập

9
trong quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông tại trung tâm nhằm làm cho
hoạt động này ngày một hoàn thiện hơn, đưa chất lượng giáo dục, dạy học của
trung tâm lên cao hơn, xứng với tầm vóc của một trung tâm đầu đàn của
ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng. Đó cũng là lý do để chúng

10
cứu các tài liệu giáo khoa, nắm vững và gia công tài liệu đó theo chiến thuật
sư phạm, bằng phương pháp giảng dạy để chuyển tải nội dung, tác động đến
quy luật tâm lý nhận thức của học sinh, làm cho học sinh phát triển theo mục
đích giáo dục.
Mục đích của hoạt động dạy là làm cho học sinh nắm vững kiến thức
và hình thành kỹ năng hoạt động, từ đó mà phát triển trí tuệ và nhân cách,
nghĩa là làm cho học sinh trở thành người lao động thông minh, người công
dân có ý thức.
Nội dung của hoạt động dạy là tổ chức cho học sinh nhận thức, truyền
đạt kiến thức, hướng dẫn luyện tập hình thành kỹ năng, kiểm tra uốn nắn và
giáo dục thái độ học tập cho học sinh.
Phương pháp của hoạt động dạy (phương pháp giảng dạy) bao gồm
phương pháp tổ chức nhận thức, phương pháp điều khiển các hoạt động trí tuệ
và thực hành, phương pháp giáo dục ý thức học tập cho học sinh.
1.2.1.2. Hoạt động học
Là quá trình tự điều khiển tối ưu chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằng
cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách. Vai trò tự điều
khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo của
người học dưới sự tổ chức của thầy nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học.
Mục đích của hoạt động học là tiếp thu nền văn hóa nhân loại để
chuyển hóa thành trí tuệ và nhân cách bản thân để trở thành người lao động
thông minh, năng động và sáng tạo.
Khi chiếm lĩnh được khái niệm khoa học bằng hoạt động tự lực, sáng
tạo, người học đồng thời đạt được 3 mục đích bộ phận:
- Trí dục: Nắm vững tri thức khoa học (hiểu, nhớ và vận dụng tốt tri thức).
- Phát triển: Tư duy và năng lực hoạt động trí tuệ.
- Giáo dục: Thái độ, đạo đức, thế giới quan khoa học, quan điểm, niềm tin
Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của
môn học, phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó với phương

động của xã hội.
Quản lý hình thành cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người, khi
xã hội loài người phát triển qua các phương thức khác nhau thì trình độ tổ
chức và điều hành xã hội ngày càng được nâng cao. Sự phát triển của xã
hội dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố cơ bản: tri thức, sức lao
động và trình độ quản lý. Mọi hoạt động xã hội đều cần đến hoạt động
quản lý và hoạt động quản lý cũng chính do con người tiến hành. Người
quản lý và đối tượng quản lý, sự cần thiết của quản lý được C. Mác khẳng
định: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành

12
trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều
hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung,… Một
người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn
nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [7, tr.34].
Như vậy, Các Mác đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao động
để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu và quan trọng trong quá trình
phát triển của xã hội loài người. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến
mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó
là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự
phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm một mục tiêu chung.
Khái niệm quản lý được lý giải từ nhiều góc độ. Theo tác giả Nguyễn
Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể
quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý)
nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [27, tr.35].
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản
lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản
lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm
cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Một cách định
nghĩa khác: “quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách

kiện biến động của môi trường.
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm có chức năng
quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt tới mục tiêu.
Đối tượng chủ yếu của quản lý là những con người xã hội, vì con người sử
dụng các tài nguyên, các trang thiết bị kỹ thuật (cũng là đối tượng quản lý)
đồng thời là chủ thể của xã hội loài người. Khách thể quản lý này bao gồm
những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của
chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu. Chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác động
quản lý, còn khách thể quản lý sản sinh ra các sản phẩm vật chất và tinh thần
có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, đáp ứng mục đích
của chủ thể quản lý.
1.2.2.2. Chức năng quản lý
QL là một quá trình, một khoa học, một nghệ thuật và có những chức
năng riêng của nó. Chức năng QL biểu thị hình thức tác động có chủ đích của
chủ thể QL lên đối tượng QL, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ
thể QL phải tiến hành trong quá trình QL. Có nhiều cách khác nhau phân loại

14
các chức năng QL. Căn cứ vào các giai đoạn thực hành thì Quản lý có bốn
chức năng cơ bản: kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra.
Theo hình thức quá trình quản lý được diễn ra tuần tự từ chức năng kế
hoạch đến chức năng tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Song trong thực tế, các
chức năng này đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện. Chất xúc
tác và liên kết giữa các chức năng cơ bản này là thông tin quản lý và các
quyết định quản lý.
Các chức năng quản lý tạo thành quá trình quản lý được mô tả theo sơ
đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về quá trình quản lý
năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hóa kế hoạch
thành hiện thực.
- Chức năng lãnh đạo: là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của
mình tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ
lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức. Vai trò của người lãnh đạo là
phải chuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướng
mọi người trong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị.
- Chức năng kiểm tra: kiểm tra là một chức năng quan trọng trong hoạt
động quản lý, quản lý mà không kiểm tra thì coi như không có quản lý. Nhờ
có hoạt động kiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, uốn
nắn, điều chỉnh kịp thời những hạn chế, từ đó có biện pháp phù hợp điều
chỉnh kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo.
- Thông tin: Thông tin không phải là một chức năng quản lý nhưng nó
đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động quản lý. Thông tin là tin
tức được chuyển giao, lưu trữ trong các bộ máy quản lý nhằm giúp nhà quản
lý điều hành bộ máy. Thiếu tin tức (thông tin) nhà quản lý không thể thực
hiện được các hoạt động quản lý. Thông tin là cơ sở để các nhà quản lý đề ra
các quyết định quản lý. Thông tin là mạch máu của hoạt động quản lý và nó
quan hệ hai chiều với các chức năng quản lý.
1.2.3. Quản lý hoạt động dạy-học
Quản lý hoạt động dạy-học là quản lý một quá trình với tư cách là một
hệ toàn vẹn bao gồm các thành tố cơ bản: Mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy-
học, thày với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, các phương pháp và
phương tiện dạy-học, các hình thức tổ chức dạy-học, kiểm tra đánh giá kết
quả dạy-học. Tất cả các thành tố này tồn tại trong mối quan hệ qua lại và
thống nhất với môi trường của nó: Môi trường xã hội - chính trị và môi
trường khoa học - kinh tế - công nghệ. Điều đó có ý nghĩa là chủ thể quản lý
phải tác động vào toàn bộ các thành tố của hoạt động dạy-học theo quy luật
tâm lý, giáo dục học, lý luận về quản lý để đưa hoạt động dạy-học từ trạng
thái này sang trạng thái khác cao hơn, tiến dần tới mục tiêu giáo dục.

giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân.
* Nhiệm vụ của Trung tâm KTTH - HN:
(1). Dạy công nghệ, kỹ thuật, dạy nghề phổ thông và tư vấn hướng
nghiệp cho học sinh học chương trình giáo dục phổ thông.

17
(2). Bồi dưỡng giáo viên các trường trung học cơ sở (THCS), trung học
phổ thông (THPT) về giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp.
(3). Tổ chức lao động sản xuất và dịch vụ kỹ thuật phục vụ giáo dục
đào tạo, góp phần phân luồng học sinh sau THCS và THPT.
(4). Nghiên cứu ứng dụng các đề tài khoa học về giáo dục kỹ thuật tổng
hợp, hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông, thử nghiệm ứng dụng
và chuyển giao công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương.
(5). Mở lớp dạy nghề, liên kết với các cơ sở giáo dục trong hệ thống
giáo dục để đào tạo và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh, thanh thiếu niên và
đối tượng khác khi có nhu cầu.
(6). Trung tâm KTTH - HN được phép liên kết với Trung tâm giáo dục
thường xuyên, Trung tâm dạy nghề trên địa bàn và các cơ sở giáo dục khác để
thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp và dạy nghề theo
quy định.
1.3.1.2. Cấp quản lý trực tiếp của Trung tâm KTTH-HN.
Sở Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý, chỉ đạo Trung tâm KTTH - HN.
1.3.1.3. Điều kiện thành lập Trung tâm KTTH - HN.
- Việc thành lập Trung tâm phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã
hội của địa phương, phù hợp với mạng lưới cơ sở giáo dục, có tính khả thi và
hiệu quả, đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng.
- Có đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên.
- Có địa điểm để xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị theo quy định .
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh là người ký quyết định thành lập trung tâm.

xây dựng kế hoạch và thời khóa biểu để điều hành hoạt động dạy học.
1.3.1.6. Công tác kiểm tra, đánh giá, xếp loại kết quả học tập.
1. Trung tâm KTTH - HN tổ chức kiểm ra, đánh giá, xếp loại kết quả học
tập và hạnh kiểm đối với học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục&Đào tạo.
2. Kết quả học tập của học sinh THCS, THPT học tại Trung tâm KTTH
- HN được chuyển về trường phổ thông để làm cơ sở đánh giá học sinh.
1.3.1.7. Giáo viên của Trung tâm KTTH - HN
Giáo viên của Trung tâm KTTH - HN (sau đây gọi là giáo viên) là
người là nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục tại Trung tâm KTTH - HN, tham gia
giảng dạy các chương trình quy định chức năng, nhiệm vụ của trung tâm.
Giáo viên của Trung tâm KTTH - HN tham gia giảng dạy các chương
trình kỹ thuật tổng hợp để lấy văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục

19
quốc dân phải có trình độ đạt chuẩn như quy định đối với giáo viên dạy cùng
cấp học của giáo dục phổ thông.
1.3.1.8. Học sinh Trung tâm KTTH - HN
Học sinh Trung tâm KTTH - HN là người học đang theo học một hoặc
nhiều chương trình của Trung tâm KTTH - HN.
1.3.1.9. Cơ sở vật chất, nguồn tài chính của Trung tâm KTTH - HN
Trung tâm KTTH - HN phải có đủ các phòng học, phòng thí nghiệm,
phòng học bộ môn, thư viện, phòng thực hành lao động sản xuất đáp ứng với
yêu cầu giảng dạy, học tập.
Trung tâm KTTH - HN phải có các thiết bị dạy học, sách, tạp chí theo
yêu cầu của việc thực hiện các chương trình dạy học tại Trung tâm, được
quản lý, sử dụng có hiệu quả theo quy định.
Nguồn tài chính của Trung tâm KTTH - HN bao gồm:
- Nguồn ngân sách nhà nước cấp.
- Học phí, các khoản thu từ các hợp đồng đào tạo, nghiên cứu khoa học,
chuyển giao công nghệ, lao động sản xuất và các hoạt động khác.

1993
1994
1996
2007
Số
lượng
20
57
103
184
285
320
320
Từ 20 trung tâm đầu tiên được thành lập vào năm 1981, đến năm 1996
trên cả nước đã có 320 trung tâm. Tuy nhiên, sau những năm 1996, do có biến
động về việc chuyển giao một số trung tâm KTTH-HN thành trung tâm dạy
nghề do Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội quản lý và do cơ chế hoạt động
khó khăn nên chững lại ở con số đó.
Tên gọi các Trung tâm cũng phản ánh nội dung hoạt động của nó và
được thay đổi qua các thời kỳ. Thời kỳ đầu, Bộ Giáo dục gọi là Trung tâm
giáo dục kỹ thuật tổng hợp (Quyết định số 1889 ngày 30/12/1981 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục) sau đó Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) đã đổi tên là Trung
tâm Giáo dục KTTH - HN (Thông tư số 48/TT ngày 27/4/1982 của HĐBT).
Tháng 8 năm 1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế về tổ chức
và hoạt động của Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp - Dạy nghề
(theo Quyết định số 1827/TCCB ngày 7/8/1991 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo), xác định tên gọi, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của
Trung tâm.
Ngày 11/7/2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế về tổ chức
và hoạt động của Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp (theo Quyết

Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Minh Hạc khi đề
cập vấn đề dạy nghề và xu thế phát triển nhà trường phổ thông đã ghi: “Việc
đào tạo người lao động mà trường phổ thông có nhiệm vụ thực hiện, được kết
thúc bằng việc huấn luyện cho học sinh một nghề cụ thể” [18, tr.11].
Theo tác giả Trần Hồng Quân: “Dạy nghề cho học sinh phổ thông với
tư cách là dạy tri thức, kỹ năng lao động, hướng nghiệp là chính” [28, tr.44].
Về vấn đề dạy nghề cho học sinh phổ thông, tác giả Phạm Huy Thụ và
Đoàn Chi đã thể hiện quan niệm của mình: “Là một hoạt động dạy và học,
dạy nghề phổ thông trong nhà trường phổ thông thực hiện một cách có hiệu
quả nguyên lý giáo dục”. Đồng thời các tác giả khẳng định: “Những nghề dạy
cho học sinh phổ thông gọi tắt là nghề phổ thông” [35, tr.19].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status