1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ HỒNG VÂN BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGHỀ PHỔ THÔNG
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP SỐ 5 HÀ NỘI
GẮN VỚI KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỊA PHƢƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
4
9. Cấu trúc luận văn …………………………………………………….
5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC NGHỀ PHỔ THÔNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ
THUẬT TỔNG HỢP………………………………………………… 6
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu về vấn đề GDNPT …………………….
6
1.2. Một số khái niệm dùng trong đề tài ………………………………
6
1.2.1. Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và Giáo dục hướng nghiệp ………….
7
1.2.2. Nghề và giáo dục nghề nghiệp……………………………………
10
1.2.3. Nghề phổ thông và hoạt động giáo dục nghề phổ thông…………
13
1.2.4. Quản lý và quản lý hoạt động GDNPT …………………………
14
1.3. Hoạt động GDNPT theo hướng gắn với KT-XH địa phương ……
18
1.3.1. Hoạt động GDNPT với việc cung ứng nguồn nhân lực phổ thông
đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH ……………………………………
18
1.3.2. Hoạt động GDNPT theo hướng gắn với KT - XH………………
22
1.4. Vai trò của trung tâm GDKTTH trong hệ thống giáo dục quốc dân
47
2.4.2. Điểm mạnh ……………………………………………………
50
2.4.3. Điểm yếu ………………………………………………………
51
2.4.4. Thời cơ …………………………………………………………
51
2.4.5. Thách thức ……………………………………………………
52
Tiểu kết chương 2 ……………………………………………………….
52
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGHỀ PHỔ THÔNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT
TỔNG HỢP SỐ 5 HÀ NỘI GẮN VỚI KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỊA
PHƢƠNG
53
3.1. Nguyên tắc lụa chọn biện pháp quản lý hoạt động GDNPT gắn với
KT - XH địa phương ……………………………………………………
53
3.2. Biện pháp quản lý hoạt động GDNPT gắn với KT - XH địa
phương.
55
3.2.1. Nhóm nhận thức ………………………………………………
55
3.2.2. Nhóm tổ chức hoạt động GDNPT ……………………………….
60
CM : Chuyên môn
CN : Công nghệ
CSVC : Cơ sở vật chất
ĐH : Đại học
ĐT : Đào tạo
GD : Giáo dục
GDHN : Giáo dục hướng nghiệp
GDKTTH : Giáo dục kỹ thuật tổng hợp
GDN : Giáo dục nghề
GDNPT : Giáo dục nghề phổ thông
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
HSPT : Học sinh phổ thông
KH : Khoa học
KHCN : Khoa học công nghệ
KT - XH : Kinh tế - xã hội
NPT : Nghề phổ thông
PHHS : Phụ huynh học sinh
PT : Phổ thông
QL : Quản lý
TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TVHN :Tư vấn hướng nghiệp
XHCN : Xã hội chủ nghĩa 6
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
nội dung chương trình của các môn học (môn NPT) và CSVC phục
vụ các ngành nghề đào tạo tại trung tâm 45
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát đánh giá việc thực hiện tốt các hoạt động
của trung tâm theo 4 chức năng quản lý
45
Bảng 2.7: Kết quả khảo sát ý kiến CBQL, GV, PHHS về thực trạng
nhận thức về hoạt động GDNPT ở trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội
46
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu lực lượng Hội đồng GDNPT của trung tâm
GDKTTH
61
Sơ đồ 3.2: Nội dung đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề phổ thông
trong giai đoạn hiện nay
63
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp
79
Bảng 3.2: Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp
81
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
- Dưa trên những trụ cột của GD toàn cầu trong thế kỷ 21, Jacques
lượng do đó kéo theo những yêu cầu khác nhau về nguồn nhân lực (cả về cơ
cấu ngành nghề lẫn cấp độ tay nghề của nguồn nhân lực). Vấn đề đặt ra là cần
phải phát triển công tác giáo dục nghề và định hướng nghề nghiệp cho HS để
các em tự định hướng cho mình về nghề nghiệp của mình trong tương lai sao
cho phù hợp với năng lực bản thân và phù hợp với nhu cầu xã hội, phù hợp
với kinh tế địa phương để tránh tình trạng li nông kèm theo li hương.
Vì những nguyên nhân cơ bản trên đây đã đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ
cần phải Giáo dục nghề cho HS ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường để
tạo cho các em HS kỹ năng nghề nghiệp ban đầu để có thế tự kiếm việc làm
phù hợp khi chưa có điều kiện học lên cao hơn; cung cấp nguồn nhân lực tại
chỗ cho các doanh nghiệp đóng trên địa bàn và các vùng lân cận; cung cấp
nguồn lao động kỹ thuật đáp ứng chủ trương xuất khẩu lao động của mỗi địa
phương; và cuối cùng là giúp thế hệ trẻ chọn nghề phù hợp và có việc làm ổn
định sẽ góp phần làm giảm bớt các tệ nạn, từ đó góp phần ổn đinh an ninh,
chính trị - xã hội cho địa phương.
Trong thời gian được học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Giáo
dục, Đại học Quốc Gia Hà Nội, tôi nhận thấy việc quản lý hoạt động GDNPT
của trung tâm trước đây chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn
mới. Để làm tốt công tác giáo dục nghề cho HSPT gắn với KT - XH địa
phương góp phần đáp ứng nhu cầu chuyển dịch kinh tế của địa phương cần
phải đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý, phân tích rõ điểm mạnh, điểm
yếu, chỉ ra nguyên nhân trên cơ sở đó đưa ra biện pháp tạo nên sự đổi mới
trong công tác quản lý trung tâm. Với lý do đó tôi chọn đề tài “Biện pháp
3
quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục Kỹ thuật
Tổng hợp số 5 Hà Nội gắn với KT - XH địa phương" làm luận văn tốt
nghiệp khóa học.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDNPT nhằm nâng cao chất
+ Không gian: Do điều kiện khách quan nên đề tài này chỉ tiến hành
khảo sát theo mẫu bao gồm các trường THPT có thực hiện hoạt động GDNPT
tại trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu:
- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Các phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống những vấn đề lý luận
liên quan đến đề tài qua sách báo, mạng Internet và tài liệu tham khảo.
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra phiếu hỏi: sử dụng các mẫu phiếu điều tra đối
với giáo viên, cán bộ quản lý, học sinh, phụ huynh học sinh để thu thập thông
tin về thực trạng quản lý hoạt động GDNPT của trung tâm.
+ Các thuật toán để xử lý số liệu
+ Phương pháp phỏng vấn, xin ý kiến các chuyên gia
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đóng góp cho việc hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan
đến quản lý cấp cơ sở.
Đề tài đóng góp một hệ thống các biện pháp cho việc quản lý hoạt động
giáo dục nghề cho HSPT ở trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội theo hướng gắn
với KT-XH địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu chuyển dịch kinh tế của địa
phương, đồng thời làm tài liệu tham khảo cho các trung tâm hướng nghiệp và
dạy nghề khác.
5
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông
ở trung tâm GDKTTH
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDNPT ở trung tâm GDKTTH
số 5 Hà Nội trong bối cảnh hiện nay
tiến sỹ Quản lý Giáo dục của tác giả Bùi Đức Tú - 2010. Trong công trình
này tác giả đã nhấn mạnh một số vấn đề:
+ Hoạt động GD nghề cho HS THPT có tầm quan trọng đặc biệt trong
bối cảnh hiện nay, góp phần hoàn thiện nhân cách cho HSPT và đặt tiền đề
cho việc đào tạo nghề một cách hiệu quả
+ Tổ chức hoạt động GDNPT ở vùng Duyên Hải Nam Trung bộ phải
đáp ứng yêu cầu định hướng phát triển nhân lực phù hợp với đặc điểm HS và
điều kiện KT - XH của vùng
+ Việc tổ chức hoạt động GDNPT cho HSTHPT phải được tiến hành
có kế hoạch, có mục đích, và có sự phối kết hợp giữa trường PT, trung tâm
GDKTTH và doanh nghiệp.
Tuy nhiên trong đề tài "Biện pháp quản lý hoạt động GDNPT ở trung
tâm GDKTTH số 5 Hà Nội gắn với KT - XH địa phương" chúng tôi muốn đi
sâu vào công tác quản lý hoạt động GDNPT ở đơn vị chúng tôi và từ đó đề ra
một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng GDN cho HSPT theo
hướng gắn với KT - XH địa phương nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của địa phương và có thể có những điều áp dụng cho các
cơ sở khác trên địa bàn thành phố Hà Nội.
1.2. Một số khái niệm dùng trong đề tài
GD nghề nghiệp cho HSPT ở Việt Nam có tính chất kỹ thuật tổng hợp,
hướng nghiệp và dạy NPT. Các khái niệm này liên quan đến đề tài, vì thế
chúng tôi cho rằng cần phải làm sáng tỏ mối quan hệ giữa chúng.
7
1.2.1. Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và Giáo dục hướng nghiệp
1.2.1.1. Giáo dục kỹ thuật tổng hợp
Sau khi phân tích bản chất nền sản xuất công nghiệp, K. Marx và F.
Angels đã rút ra quy luật về sự thay đổi tính chất, nội dung và chức năng lao
động của người thợ. Nguyên nhân của sự thay đổi đó là do cuộc cách mạng
thường xuyên nảy sinh trong kỹ thuật làm cho nhiều nghề cũ diện hẹp mất đi,
GDHN là hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, trong
đó tập thể sư phạm nhà trường giữ vai trò quyết định nhằm giúp người học
chọn nghề trên cơ sở khoa học. Khi ấy, tập thể sư phạm phải sử dụng các biện
pháp GD mang tính chất hướng dẫn, tính thuyết phục cao, không áp đặt, đảm
bảo nguyên tắc hình thành hứng thú, điều chỉnh, uốn nắn động cơ chọn nghề
của thế hệ trẻ sao cho có sự nhất trí cao với nguyện vọng của cá nhân với yêu
cầu nhân lực của các thành phần kinh tế, giữa năng lực của cá nhân với đòi
hỏi của nghề. Trong mối quan hệ phức hợp từng cặp một giữa cá nhân và xã
hội, giữa cá nhân và nghề phải được giải quyết bằng những biện pháp giáo
dục đồng bộ, nếu coi nhẹ một cặp quan hệ nào đó sẽ dẫn tới tình trạng thừa
lao động ở nơi này, thiếu lao dộng ở nơi khác, hoặc năng suất lao động không
cao vì không có sự phù hợp nghề. Rõ ràng là hướng nghiệp phải gắn với công
tác GD tư tưởng, chính trị và đạo đức nhằm giúp HS giải quyết đúng đắn mối
quan hệ giữa ước mơ và thực hiện, giữa cái “muốn” và cái “có thể” và cái
"cần phải làm" để luôn luôn biết điều chỉnh hài hòa giữa lợi ích của xã hội và
lợi ích của bản thân. Với ý nghĩa đó GDHN không quyết định nghề cho mỗi
cá nhân mà GD thế hệ trẻ thái độ đúng đắn với lao động và từ đó GD đúng
đắn với nghề nghiệp. Vì thế, HN được coi là cấu thành của chương trình GD-
ĐT trong hệ thống nhà trường và các cơ sở đào tạo nghề. Khái niệm GDHN
bắt nguồn từ đó mà ra. Theo K.K.Platonov, mỗi hoạt động GDHN thuộc vào
9
các góc của tam giác HN được dựa trên cơ sở là hai yếu tố cơ bản là các cạnh
tương ứng giao thoa tạo nên góc đó:
Sơ đồ 1.1: Tam giác hướng nghiệp của K.K. Platonov
nhu cầu nhân lực ở địa
phương và xã hội
Đặc điểm về phẩm chất,
nhân cách, tâm sinh lý và
hoàn cảnh cụ thể của từng
HS
3. Tuyển
chọn nghề
2. Tƣ vấn
nghề
10
đi vào những nghề mà các thành phần kinh tế đang cần nhân lực. Để đạt được
điều này, GDHN thực hiện thông qua bốn con đường: (1) GDHN qua các
môn học văn hóa; (2) GDHN qua môn công nghệ và hoạt động GDNPT; (3)
GDHN thông qua chương trình GDHN chính khóa; (4) GDHN qua hoạt động
ngoại khóa và các chương trình tư vấn nghề nghiệp, ngày hội hướng nghiệp…
do các cơ sở GDHN, các trường và các phương tiện thông tin đại chúng phối
hợp thực hiện.
Tóm lại, từ những quan niệm trên đây chúng tôi hiểu “GDHN là hệ
thống những biện pháp GD trong và ngoài nhà trường dựa trên cơ sở tâm
sinh lý của HS và cơ sở KT-XH, thông qua việc dạy học các môn văn hóa,
môn công nghệ, hoạt động GDNPT, hoạt động tư vấn nghề và các hoạt động
ngoài giờ lên lớp để giúp HS có được sự lựa chọn nghề nghiệp vừa phù hợp
với nhu cầu XH, vừa phù hợp với sở thích, năng lực, sở trường và hoàn cảnh
của mỗi HS”.
* Tư vấn hướng nghiệp
Nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho rằng tư vấn hướng
nghiệp là những tác động của nhà tư vấn làm bộc lộ ở HS những đặc điểm,
phẩm chất, nhân cách, tâm lí của cá nhân; trên cơ sở đó, nhà tư vấn đối chiếu
môn lịch sử…
Trong khu vực GD, nghề ĐT là một nghề theo nghĩa chung nhưng để
hoàn thành một nhiệm vụ theo sự phân công của xã hội thì người lao động
phải được ĐT theo một nội dung, trong một thời gian nhất định, trước khi
tham gia vào lao động xã hội. Theo nghĩa thông thường, nghề là một công
việc nào đó để có thu nhập theo sự phân công lao động xã hội.
Các đặc điểm và yêu cầu của nghề như: tên nghề và các chuyên môn
nghề; lịch sử phát triển nghề; nội dung và tính chất lao động của nghề; những
12
điều kiện cần thiết để tham gia lao động nghề nghiệp; chống chỉ định y học,
bệnh tật mà nghề không chấp nhận và điều kiện đảm bảo cho người lao động
hành nghề.
Trên cơ sở các khái niệm về nghề nêu trên, chúng tôi cho rằng một người
chỉ có thể biến một công việc thành một nghề thực sự theo phương châm
“nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” nếu người đó phù hợp với yêu cầu của nghề,
say sưa yêu nghề, biết vận dụng sáng tạo những điều đã học được vào thực
tiễn sản xuất. Để có một nghề và hành nghề thuận lợi, người ta phải làm
nghiêm túc trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp.
1.2.2.2. Giáo dục nghề nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp được hiểu là quá trình ĐT để người học lĩnh hội
được các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ở một trình độ nhất định của một nghề hoặc
một chuyên ngành cụ thể và hình thành ở họ những phẩm chất, nhân cách
nghề nghiệp tương ứng.
Theo nghĩa rộng, GD nghề nghiệp bao gồm việc ĐT tất cả các ngành
nghề (trong đó có cả những nghề sản xuất và phi sản xuất) được tiến hành ở
mọi bậc ĐT: từ các cấp độ dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, ĐH
và kể cả các hình thức đào tạo nâng cao tay nghề tại các doanh nghiệp.
Theo nghĩa hẹp, Luật GD 2005 (mục 3, từ điều 32 đến điều 37) chỉ giới
hạn GD nghề nghiệp bao gồm trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề. Trên các
thuật tương đối đơn giản; tổ chức dạy học không phức tạp về trang thiết bị và
quy trình triển khai; nguyên vật liệu và phôi dễ kiếm, dễ tạo, rẻ tiền; thời gian
học nghề ngắn, chi phí đào tạo ít.
1.2.3.2. Hoạt động giáo dục nghề phổ thông
Hoạt động GDNPT được hiểu là những hoạt động nhằm truyền thụ các
tri thức, kỹ năng nghề nghiệp ban đầu đồng thời GD thái độ nghề nghiệp và
định hướng nghề nghiệp cho HS.
Mục tiêu của hoạt động GDNPT không phải là dạy nghề thuần túy mà
GD nghề gắn với mục tiêu kép như sau: rèn kỹ năng nghề nghiệp ban đầu và
14
thử năng lực lao động nghề nghiệp để biết mức độ phù hợp nghề giúp học
sinh có ý thức chọn nghề cho phù hợp với năng lực của mình góp phần phân
luồng HS; bước đầu chuẩn bị hành trang cho HS đi vào lao động nghề tương
lai. Đây là khâu kết hợp kết hợp giữa GDNPT và GDHN. GDNPT không phải
là dạy nghề theo đúng nghĩa của nó. Nếu mục tiêu của dạy nghề là tạo nên
những người lao động với trình độ từ sơ cấp đến cao đẳng nghề, những nhân
viên dịch vụ, những người lao động trực tiếp cho ngành nghề của xã hội thì
mục tiêu của hoạt động GDNPT chỉ giúp cho HS có năng lực nghề ban đầu
để đi vào mọi ngành nghề trong tương lai. Vì vậy hoạt động GDNPT chỉ có
tính chất là GD KTTH, tạo tiền đề "vật chất" để HS lựa chọn đi vào các ngành
nghề trong tương lai góp phần phân luồng HS.
1.2.4. Quản lý và quản lý hoạt động GDNPT
1.2.4.1. Khái niệm quản lý
* Khái niệm về quản lý:
Hoạt động quản lý bắt nguồn tự sự phân công và hợp tác lao động.
Chính sự phân công và hợp tác lao động để có hiệu quả nhiều hơn, năng suất
lao động cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, kế hoạch, tổ
chức, phối hợp, điều hành và kiểm tra. Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ
thuật. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý. Ở đây luận văn xin đề
có thể hiểu quản lý là hoạt động có mục đích của con người và quản lý chính
là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những
người khác nhằm thu được kết quả mong muốn.
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã
hội của lao động. Quản lý là một trong những loại hình lao động quan
trọng nhất trong các hoạt động của con người. Hoạt động quản lý bắt
nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn,
năng suất cao hơn.
16
Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Quản lý mang tính
khoa học vì các hoạt động của quản lý có tổ chức, có định hướng đều dựa trên
những quy luật, những nguyên tắc và những phương pháp hoạt động cụ thể,
đồng thời quản lý mang tính nghệ thuật vì nó phải được vận dụng một cách
linh hoạt và sáng tạo vào những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động
nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội.
Quản lý là một phạm trù chứa trong mình những khái niệm đặc trưng
như chủ thể quản lý và mục tiêu quản lý.
* Chức năng của quản lý:Quản lý có những chức năng sau:
- Kế hoạch hoá: là xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức và các biện
pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
- Tổ chức: là chuyển những ý tưởng đã được kế hoạch hoá thành hiện thực,
là quá trình hình thành nên các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận
trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu
tổng thể của tổ chức. Tổ chức còn là quá trình điều phối thực hiện kế hoạch.
- Chỉ đạo: bao hàm việc liên kết, liên hệ của người lãnh đạo với người
khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt mục tiêu
của tổ chức.
- Kiểm tra: là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một
nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến
tiêu này chịu sự chi phối của mục tiêu phát triển KT-XH); xác định cụ thể
nội dung và cách thức (phương pháp) thực hiện; xác định các phương tiện
và điều kiện bảo đảm cho quá trình thực hiện hoạt động GDNPT đạt được
mục tiêu đề ra. Việc tổ chức thực hiện kế hoạch chính là quá trình triển
khai các nội dung đã đã được xác lập ra trong kế hoạch. Quá trình này đòi
hỏi 3 yêu cầu Tài - Tâm - Tầm của người QL để đảm bảo sự vận hành linh
Lập kế hoạch
Kiểm tra
Tổ chức
Chỉ đạo
Thông tin
18
hoạt và KH của hoạt động GDNPT vốn có phức tạp cao vì luôn có số
lượng người học đông và luôn có sự biến động về sĩ số. Trong mỗi khâu
không thể thiếu kiểm tra đánh giá kịp thời, chính xác để có sự điều chỉnh,
uốn nắn và khắc phục những bất cập thiếu sót của tổ chức.
* Quản lý con người tham gia hoạt động GDNPT bao gồm: Đối
tượng QL (GV, HS), chủ thể QL (bộ máy QL, lãnh đạo); tạo một mạng
lưới các quan hệ tổ chức giữa người trong hệ QL và những người trong hệ
được QL; tuyển lựa, sắp xếp, quy hoạch, bồi dưỡng, ĐT cán bộ.
* Quản lý cơ sở vật chất và các nguồn lực phục vụ cho hoạt động
GDNPT bao gồm : Khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, cơ sở vật
chất kỹ thuật nhằm duy trì và phát triển công tác GDHN và dạy NPT; Phối
hợp với trường phổ thông làm công tác giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng
nghiệp cho học sinh; Liên kết với các cơ sở sản xuất, trung tâm hướng nghiệp
và dạy nghề khác, trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, cao
đẳng, đại học trong và ngoài nước để tổ chức đào tạo và bồi dưỡng nghề theo
quy định của pháp luật; Phối hợp với các tổ chức kinh tế, giáo dục, y tế, văn
hóa, nghiên cứu khoa học và các tổ chức cá nhân khác trong việc nghiên cứu
nghiệp, tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ sản xuất, từ đó có tư duy kỹ thuật,
tư duy kinh tế và sự hứng thú và động cơ nghề nghiệp đúng đắn, lý tưởng đối
với nghề nghiệp trong sáng và có thái độ đúng đắn với lao động. Vì vậy hoạt
động này có tác dụng không nhỏ đối với KT - XH
Tình trạng "thừa thầy, thiếu thợ" trong cơ cấu nguồn nhân lực của nước
ta do ảnh hưởng lâu dài của chế độ khoa cử, xem thường người lao động chân
tay sẽ được từng bước khắc phục nếu tổ chức tốt hoạt động GDNPT.
Nguồn nhân lực có 3 yếu tố cấu thành quan trọng là số lượng, cơ cấu và
chất lượng. Trong đó, yếu tố chất lượng thể hiện trên các tiêu chí về trình độ
dân trí, trình độ và năng lực chuyên môn kỹ thuật, đạo đức và văn hóa nghề
nghiệp cũng như tâm thế sẵn sàng tham gia lao động, sẵn sàng chuyển đổi