1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
MAI HỒNG QUẢNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CẤP KHOA
Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƢ PHẠM LẠNG SƠN LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Hµ néi - 2009 2
Đại học quốc gia hà hội
1
MC LC
M U
1. Lý do chn ti
1
2. Mc ớch ngiờn cu
2
3. Nhim v nghiờn cu
2
4. Khỏch th v i tng nghiờn cu
2
5. Phm vi nghiờn cu
2
6. Gi thuyt khoa hc
2
7. Phng phỏp nghiờn cu
2
8. í nghĩa luận văn
3
9. Cấu trúc luận văn
3
Ch-ơng 1. Cơ sở lý luận của các biện pháp quản lý nâng cao
hiệu quả hoạt động cấp khoa ở tr-ờng cao đẳng
4
1.1. Mt s khỏi nim c bn v nhng vn lý lun
4
1.1.1. Qun lý
2.1. Khỏi quỏt v trng cao ng Lng Sn
25
2.1.1. Lch s hỡnh thnh v phỏt trin
25
2.1.2. Chc nng, nhim v ca nh trng
26
2.1.3. Chin lc phỏt trin ca trng cao ng s phm Lng Sn
31 2
2.1.4. Quy mô, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
31
2.1.5. Cơ sở vật chất của nhà trường
33
2.2. Thực trạng hoạt động quản lý cấp khoa ở trường Cao dẳng sư phạm Lạng
Sơn
33
2.2.1.1. Cơ cấu tổ chức các khoa ở trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
34
2.2.1.2. Đội ngũ cán bộ cấp khoa
36
2.2.2. Tổ bộ môn
42
2.2.3. Cơ chế quản lý cấp khoa ở trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
44
2.2.4. Đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý cấp khoa ở trường Cao đẳng sư phạm
Lạng Sơn và nguyên nhân chính
49
2.2.4.1. Thuận lợi và khoá khăn
63
3.2.2.1. Biện pháp quy hoạch cán bộ cấp khoa
63
3.2.2. 2. Xây dựng tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ lãnh đạo cấp khoa
65
3.2.3. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dường nâng cao trình độ và năng lực cán
bộ cấp khoa
68
3.2.4. Tăng quyền tự chủ và phân cấp quản lý mạnh cho cấp khoa
73
3.2.5. Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của cấp khoa
75
3.2.6. Biện pháp xây dựng văn hoá khoa trong nhà trường theo tinh thần tổ chức
biết học hỏi
77
3.2.7. Biện pháp kích thích, động viên cán bộ, giảng viên các khoa nâng cao hiệu
80 3
quả làm việc
3.2.7.1. Tăng cường chính sách khuyến khích, động viên cán bộ quản lý cấp khoa
làm việc
80
3.2.7.2. Đầu tư thích đáng cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học, phần mềm vi
tính cho công tác quản lý, quản lý công tác dạy và học ở khoa
80
3.2.7.3.Tổ chức cho các khoa giao lưu, học tập kinh nghiệm với các trường bạn
trong tỉnh, ngoài tỉnh hoặc các mô hình đào tạo điển hình ở nước ngoài
81
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, ở bất cứ một lĩnh vực hoạt động nào của xã
hội cũng rất cần đến hoạt động quản lý. Quản lý ngoài việc được xem là
một khoa học, một nghệ thuật, nó còn được xem như là công nghệ - Công
nghệ điều hành, phối hợp và sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và
thông tin của tổ chức để đạt được những mục tiêu đề ra. Chính vì vậy,
Đảng ta đã đề ra mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2001-2010 là: “ Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển,
nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học công nghệ, kết
cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành cơ
bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao ”.
Trong lĩnh vực giáo dục, quản lý giáo dục giữ vai trò hết sức quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Trong nội dung
chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010, công tác quản lý được xem là
khâu đột phá trong việc đề ra các mục tiêu và giải pháp phát triển giáo dục,
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là khâu then chốt. Muốn đạt được
các mục tiêu trên cần phải xem trọng công tác quản lý, phát triển đội ngũ
cán bộ quản lý giáo dục .
Xuất phát từ những hạn chế còn tồn tại của sự phát triển giáo dục và
đào tạo ở trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn:
- Chất lượng giáo dục học sinh, sinh viên ra trường chưa hoàn toàn
đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cấp khoa.
6. Giả thuyết khoa học
Muốn phát huy được hiệu quả hoạt động cấp khoa ở trường Cao đẳng sư
phạm Lạng Sơn thì các khoa cần có hệ thống biện pháp quản lý khoa học và đồng bộ.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng và phối hợp
một số phương pháp sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu các vấn đề lý luận 6
Khai thác, tìm tòi tư liệu về mặt lý luận có liên quan đến đề tài đang
nghiên cứu, từ đó tổng hợp và khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản cho đề tài.
7.2. Phương pháp quan sát
Để thu được kết quả chúng tôi quan sát việc công tác quản lý của các
cán bộ cấp khoa, nhằm thu thập những thông tin thực tiễn cho đề tài.
7.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Tổ chức trao đổi với các chuyên gia về công tác quản lý ở cấp khoa,
tìm hiểu những thông tin và những ý kiến trao đổi, đóng góp về công tác
quản lý ở cấp khoa.
8. Ý nghĩa của luận văn
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu về các biện pháp quản lý nâng
cao hiệu quả hoạt động cấp khoa ở trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn. Đề
tài cung cấp một số biện pháp cụ thể, thực tế cho cán bộ quản lý cấp khoa
và nhà trường có thể vận dụng vào công tác quản lý đơn vị hiệu quả hơn.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của các biện pháp quản lý nâng cao hiệu
quả hoạt động cấp khoa ở trường cao đẳng.
đời trong bối cảnh nền văn minh công nghiệp đã phát triển ở trình cao.
Nhiều tác giả đã nghiên cứu các học thuyết đó và vận dụng một số
quan điểm về khoa học quản lý trong bối hiện nay.
Khái niệm về quản lý có thể xét từ nhiều góc cạnh
Theo W. Taylor (1856-1915): “Quản lý là nghệ thuật biết rõ
ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương
pháp tốt nhất và rẻ nhất”.
Theo Henry Fayon (1841-1925): "Quản lý là quá trình đạt đến
mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: Kế hoạch
hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra". Ông còn khẳng định:
"Khi con người lao động hiệp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải
xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành, và các nhiệm vụ của
mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức". 8
Theo H. Koontz (người Mỹ): "Quản lý là hoạt động đảm bảo
phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức
trong một môi trường và đối với những điều kiện nguồn lực cụ thể" [25].
Theo Mary Parker Pollett: Quản lý là "Nghệ thuật hoàn thành
công việc thông qua người khác", là “Quá trình lập kế hoạch, tổ chức,
lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên của tổ chức, và sử
dụng tất cả các nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được các mục tiêu
của tổ chức”. (Stoner, 1995).
Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc
, định nghĩa kinh
điển nhất về quản lý đó là: Sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ
thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) trong một tổ
chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Từ những khái niệm trên, ta có thể rút ra một kết luận chung về
quản lý giáo dục nhằm mục đích tăng cường sự phân cấp quản lý cho
các chủ thể quản lý bên trong nhà trường, với những quyền hạn và trách
nhiệm rộng rãi hơn để thực hiện nguyên tắc giải quyết công việc ngay tại
chỗ. Nội dung chủ yếu của quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà
trường bao gồm:
- Nhà trường là thực thể trung tâm của mọi sự biến đổi trong hệ
thống giáo dục.
- Nhà trường tự chủ giải quyết những vấn đề sư phạm, kinh tế, xã
hội của mình với sự tham gia tích cực và có trách nhiệm của những thực
thể hữu quan ngoài nhà trường.
- Nâng cao trách nhiệm và tính tự quản của mỗi giáo viên.
- Hình thành các cơ cấu cần thiết và thiết thực để các thực thể hữu
quan ngoài nhà trường có thể thực sự tham gia vào việc điều phối công
việc nhà trường. Đồng thời tăng cường trách nhiệm và quyền hạn của
giáo viên tham gia quá trình ra quyết định quản lý trong nhà trường. 10
- Hình thành các thiết chế hỗ trợ về tài chính và các nguồn lực cần
thiết khác để giáo viên thực sự tham gia vào việc quản lý nhà trường.
Hình thành cơ chế phân cấp quản lý tài chính, nhân sự thực hiện, thậm
chí cải tiến thích hợp nội dung và phương pháp giảng dạy cho phù hợp
với đặc điểm riêng của mỗi nhà trường.
- Hình thành và hoàn thiện hệ thống thông tin giữa các thực thể
trong và ngoài nhà trường tham gia vào các hoạt động quản lý nhà trường.
- Xây dựng môi trường sư phạm trong nhà trường và xây dựng
nhà trường thành một hệ thống mở nhằm công khai hoá các hoạt động
của nhà trường.
- Hình thành thiết chế đánh giá kết quả hoạt động sư phạm của nhà
trường dựa trên những thực thể trực tiếp tham gia quá trình sư phạm và
uản lý nhà trường bao gồm hai loại:
- Tác động của những chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường.
Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan
quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt
động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường. Quản lý nhà trường
cũng bao gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài
nhà trường, nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như: Cộng
đồng được đại diện dưới hình thức hội đồng nhà trường (hội đồng giáo
dục) nhằm định hướng sự phát triển và hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhà
trường thực hiện phương hướng phát triển đó.
- Tác động của những chủ thể bên trong nhà trường.
Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao
gồm các hoạt động:
+ Quản lý đội ngũ gioá viên, cán bộ – công nhân viên.
+ Quản lý học sinh, sinh viên.
+ Quản lý quá trình dạy học.
+ Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học.
+ Quản lý tài chính trường học. 12
+ Quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng.
1.1.3.1. Bản chất của hoạt động quản lý
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của
người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu
quản lý. Trong giáo dục nhà trường đó là tác động của người quản lý
đến tập thể giáo viên, học sinh, sinh viên và các lực lượng khác nhằm
thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục.
Bản chất của hoạt động quản lý có thể mô hình hoá qua sơ đồ sau:
Công cụ
Chủ thể
quản lý
Khách thể
quản lý
Phương pháp
Mục
tiêu
Sơ đồ1: Mô hình quản lý
13
động giáo dục nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu giáo dục. Quản lý
giáo dục thực chất là quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm:
- Chủ thể quản lý: Bộ máy quản lý giáo dục các cấp.
- Khách thể quản lý: Hệ thống quản lý giáo dục (các trường học,
trung tâm giáo dục, các cơ sở đào tạo và phục vụ đào tạo )
- Quan hệ quản lý: Giữa người dạy với người học; giữa người
quản lý với người dạy; giữa người quản lý với người học; giữa người
dạy với người dạy; người dạy với cộng đồng.
Các mối quan hệ này có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục
và đào tạo, chất lượng hoạt động của các nhà trường và toàn bộ hệ thống
giáo dục.
- Mục tiêu của quản lý giáo dục: Mục tiêu của quản lý giáo dục
chính là trạng thái mong muốn trong tương lai đối với hệ thống giáo
hướng) đối với tổ chức; (b) Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn,
tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục
tiêu này; (c) Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt
được các mục tiêu đó (xác định ưu tiên).
* Chức năng tổ chức:
Khi người quản lý lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá
những ý tưởng đó thành hiện thực. Một tổ chức mạnh sẽ có ý nghĩa
quyết định đối với sự chuyển hoá đó. Xét về mặt chức năng quản lý, tổ
chức hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thànhnh viên, giữa
các bộ phận trong tổ chức nhằm thực hiện thành công các kế hoạch và
đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả,
người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực: Nhân
lực, vật lực và tài lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc nhiều vào
năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu
quả và kết quả.
* Chức năng lãnh đạo/chỉ đạo: 15
Sau khi kế hoạch được lập, cơ cấu bộ máy đã được hình thành,
nhân sự đã được tuyển mộ thì phải có người lãnh đạo tổ chức thực
hiện. Lãnh đạo chịu trách nhiệm việc liên kết, liên hệ với các thành
viên trong tổ chức, động viên họ hoàn thành những nhiệm được giao
để đạt được mục tiêu của tổ chức. Tất nhiên là sự lãnh đạo không chỉ
bắt đầu sau khi đã lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đó, mà nó phải
khởi nguồn ngay từ khi lập kế hoạch.
* Chức năng kiểm tra:
Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân,
một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động
và đồng thời tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần
được mục tiêu quản lý dự kiến.
Phương pháp quản lý giáo dục thực chất là một hệ thống logíc các tác
động một cách có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của người quản lý tới
nhận thức, tình cảm và ý chí của đối tượng quản lý nhằm thúc đẩy họ có
những hành động thực tiễn đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ được giao.
Phương pháp quản lý giáo dục là một phạm trù cơ bản có tính chất quyết
định đối với chất lượng và hiệu quả hoạt động quản lý giáo dục, vì mục tiêu,
nhiệm vụ quản lý chỉ được thực hiện thông qua các phương pháp quản lý giáo dục.
Phương pháp quản lý giáo dục có tính mục đích và gắn liền với nội
dung, có tính khách quan và chủ quan, có tính hệ thống, tính cấu trúc phức
tạp và tính hiệu quả.
Tổ chức
Chỉ đạo
Thông
tin
Kế hoạch
Kiểm tra,
đánh giá
Sơ đồ 2: Quan hệ của các chức năng quản lý
17
Phương pháp quản lý giáo dục được chủ thể lựa chọn và sử dụng phải
phù hợp với mục đích, nội dung, nguyên tắc quản lý, đối tượng quản lý và
tình huống quản lý cụ thể.
Phương pháp quản lý giáo dục vận dụng vào việc quản lý trường học
(phương pháp quản lý trường học). Thực chất là cách tác động của Hiệu
trưởng tới cá nhân và tập thể cán bộ giáo viên, học sinh nhằm thực hiện
những mục tiêu quản lý dự kiến.
Phương pháp Kinh tế trong quản lý giáo dục có đặc trưng là khuyến
khích các thành viên trong tổ chức hoàn thành nhiệm vụ bằng lợi ích vật
chất, lợi ích kinh tế (tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng ), dùng đòn bẩy
kinh tế kích thích sự cống hiến, sáng tạo của con người.
Tuy nhiên, phương pháp Kinh tế cũng có những hạn chế nhất định:
Lạm dụng phương pháp Kinh tế trong quản lý giáo dục dễ dẫn người ta tới
chỗ luôn gắn lợi ích cá nhân với công việc được giao, và có thể bỏ bễ công
việc khi nó không mang lại lợi ích cho cá nhân. Hoàn thành công việc xuất
phát từ lợi ích cá nhân nếu không được định hướng, kiểm soát đúng đắn có
thể sẽ dẫn người ta đến chỗ làm ăn phi pháp, bất chấp luân thường đạo lý
con người, bất chấp dư luận xã hội.
* Phương pháp Tâm lý - Xã hội:
Phương pháp quản lý bằng Tâm lý - Xã hội (phương pháp Tâm lý -
Xã hội) là cách thức tạo ra những tác động vào đối tượng quản lý bằng các
biện pháp tâm lý nhằm biến những yêu cầu do người quản lý đề ra thành
nghĩa vụ tự giác và nhu cầu hoàn thành công việc của người bị quản lý.
Phương pháp Tâm lý - Xã hội thực chất là khơi dậy tinh thần tự giác,
tích cực, chủ động của người bị quản lý phát huy hết khẳ năng của mình
cho công việc được giao, đồng thời tạo nên bầu không khí làm việc cởi mở,
chia sẻ, hợp tác của các thành viên trong tổ chức. Trong quản lý nhà
trường, yếu tố tâm lý xã hội chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong việc 19
điều chỉnh các mối quan hệ quản lý nhà trường và có ảnh hưởng mạnh mẽ
tới kết quả hoạt động chung của nhà trường.
Phương pháp Tâm lý - Xã hội có đặc trưng cơ bản là tác động liên
nhân cách đến nhận thức, tình cảm, sự tự tin và tinh thần trách nhiệm của
mỗi thành viên trong tổ chức bằng cơ chế kích thích mang tính đạo đức,
động viên tinh thần, tôn trọng và yêu cầu cao. Phương pháp này vừa tác
Hiệu quả xã hội là kết quả về mặt xã hội của công việc hay hoạt
động. Kết quả đem lại có thể là việc cải thiện đời sống nhân dân như việc
ăn ở, sinh hoạt, điều kiện làm việc, môi trường sống
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ biện chứng, gắn
bó hữu cơ, bởi vì trong chỉ tiêu về kết quả và chi phí luôn có các yếu tố
nhằm mục đích phục vụ xã hội. Sự thống nhất giữa hiệu quả kinh tế và hiệu
quả xã hội tạo nên sự tương tác, thúc đẩy lần nhau. Việc đạt được hiệu quả
xã hội sẽ tạo ra năng xuất lao động, hiệu quả kinh tế cao hơn. Trên thực tế,
tuỳ từng mục đích cụ thể mà hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội được quan
tâm ở mức độ khác nhau: Đối với đơn vị sản xuất kinh doanh, hiệu quả
kinh tế luôn được đặt lên hàng đầu; còn đối với các cơ sở phúc lợi, hiệu quả
xã hội lại được coi trọng hơn. Nhưng đôi khi hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội lại triệt tiêu lẫn nhau là do hoạt động kinh doanh chạy theo lợi
nhuận, người ta sẵn sàng bất chấp hậu quả gây nên cho xã hội.
* Hiệu quả trước mắt và lâu dài:
+ Hiệu quả trước mắt là hiệu quả mà kết quả thu được và chi phí bỏ ra
được tính trong một khoảng thời gian ngắn (thông thường là dưới một
năm).
+ Hiệu quả lâu dài là hiệu quả mà kết quả và chi phí được tính trong
một thời gian dài (thông thường là từ một năm trở lên).
* Hiệu quả bộ phận và hiệu quả tổng thể: 21
+ Hiệu quả bộ phận là hiệu quả được tính cho từng bộ phận trong hệ
thống (Chẳng hạn như từng khoa, tổ trong trường cao đẳng, đại học)
+ Hiệu quả tổng thể là hiệu quả được tính cho toàn bộ hệ thống.
Việc phân chia, xem xét hiệu quả bộ phận và hiệu quả tổng thể chỉ là
tương đối. Có hiệu quả xét trong một lĩnh vực hẹp thì là hiệu quả tổng thể
còn xét ở lĩnh vực rộng hơn thì chỉ là hiệu quả bộ phận. Chẳng hạn như
những kết quả học tập này trong một thời gian đủ dài tiếp theo.
* Hiệu quả đầu tư cho giáo dục:
Hiệu quả đầu tư cho giấo dục là một khái niệm kinh tế học được dịch
chuyển sang hoạt động giáo dục. Hiệu quả đầu tư cho giáo dục có thể được
xác định một cách đơn giản như cách so sánh năng xuất lao động của một
người đạt được một trình độ học vấn cao hơn so với người có trình độ học
vấn thấp hơn. Hiệu quả đầu tư cho giáo dục thường được phân tích chi tiết
hơn thông qua việc xác định hiệu quả đào tạo và tính toán sự hồi vốn đầu tư
cho giáo dục, cũng như phân tích những chi phí đã bỏ ra.
1.2. Khoa trong trƣờng cao đẳng
Trường cao đẳng là một cơ sở đào tạo có tư cách pháp nhân, có con
dấu và tài khoản riêng. Trường cao đẳng trực thuộc cơ quan chủ quản, đồng
thời chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển giáo dục, tiêu chuẩn giảng
viên, mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, giáo trình đào tạo,
quy chế tuyển sinh, tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp và
cấp văn bằng.
Tuỳ theo quy mô và số lượng ngành nghề đào tạo mà Hiệu trưởng có
quyền ra quyết định thành lập các khoa, tổ bộ môn theo cơ cấu tổ chức đã
được phê duyệt trong Quy chế tổ chức và hoạt động của trường cao đẳng.
- Khoa là đơn vị quản lý hành chính cơ sở trong nhà trường. Đứng
đầu các khoa là Trưởng khoa do Hiệu trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm,
thuyên chuyển công tác. Giúp việc cho các trưởng khoa là các Phó Trưởng 23
khoa do Hiệu trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Trưởng khoa.
Nhiệm kỳ của Trưởng khoa và Phó Trưởng khoa là 5 năm và có thể được
bổ nhiệm lại nhưng không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp [3].
- Trưởng khoa, Phó Trưởng khoa được chọn lựa trong đội ngũ giảng