Biện pháp quản lý đào tạo trình độ Trung cấp nghề Xây dựng ở trường Cao đẳng Xây dựng số 1 - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐINH HOÀNG HƯƠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP NGHỀ XÂY DỰNG
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG XÂY DỰNG SỐ 1 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 60 14 05 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐẶNG BÁ LÃM
Giáo viên
HS
Học sinh
KTXH
Kinh tế - xã hội
UBND
Uỷ ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa iii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.10. Số lượng đội ngũ và trình độ của giáo viên và cán bộ
quản lý

69
Bảng 2.11. Thống kê trình độ chuyên môn giáo viên
70
Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp
100
Bảng 3.2. Tổng hợp kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện
pháp theo kết quả đánh giá của giáo viên, cán bộ quản lý và học sinh

101

iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Trang
Sơ đồ 1.1. Quá trình quản lý
15
Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy nhà trường
46
Biểu đồ 2.1. Kết quả đào tạo từ năm 2001 đến nay
52


1.2.2. Chức năng của quản lý
12
1.2.3. Quản lý giáo dục - đào tạo
16
1.3. Cơ sở lý luận về nghề, đào tạo nghề
16
1.3.1. Cơ sở lý luận về nghề
16
1.3.2. Ðào tạo nghề
18
1.4. Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo trình độ Trung cấp nghề
20
1.4.1. Những vấn đề cơ bản về chất lượng đào tạo nghề, các yếu tố
ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề

20
1.4.2. Quản lý đào tạo trình độ Trung cấp nghề
27
1.4.3. Những đặc điểm của quản lý đào tạo trình độ Trung cấp nghề
Xây dựng

38
Kết luận chương 1
39
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP NGHỀ XÂY DỰNG Ở TRƢỜNG CAO
ĐẲNG XÂY DỰNG SỐ 1 40

2.3.2. Kết quả khảo sát
62
2.4. Đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo trình độ Trung cấp
nghề Xây dựng ở Trường Cao đẳng Xây dựng số 1

66
2.4.1. Về mục tiêu đào tạo
66
2.4.2. Về nội dung chương trình đào tạo
68
2.4.3. Về số lượng đội ngũ và trình độ của giáo viên và cán bộ quản lý
69
2.4.4. Về tập thể học sinh
71
2.4.5. Về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào tạo nghề
72
2.4.6. Về công tác lập kế hoạch khóa học
73
2.4.7. Về công tác tuyển sinh hợp tác đào tạo
74
2.4.8. Về thông tin trong đào tạo
75
2.4.9. Về kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo
76
Kết luận chương 2
77
Chƣơng 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP NGHỀ XÂY DỰNG Ở TRƢỜNG
CAO ĐẲNG XÂY DỰNG SỐ 1


3.3. Thăm dò tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
100
Kết luận chương 3
102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
103
1. Kết luận
103
2. Khuyến nghị
105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
108
PHỤ LỤC
111
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ thứ 21, vấn đề nguồn nhân lực ngày càng trở thành yếu
tố quyết định đối với sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia. Việt Nam
đang trong thời kỳ đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
nên việc đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực có vai trò quyết định.
Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nghề luôn được coi là vấn
đề then chốt nhằm tạo ra đội ngũ công nhân kỹ thuật có trình độ kiến thức
chuyên môn, có kỹ năng và thái độ nghề nghiệp phù hợp yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội, đáp ứng sự biến đổi cơ cấu kinh tế, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ
cấu lao động. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng xác định : “Phát triển giáo dục là
quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo

người khuyết tật, lao động nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng
cao mức sống cho người lao động. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là: "Số lượng
tăng phải kèm theo chất lượng tăng. Chúng ta được về số lượng, nhưng chưa
được về chất lượng. Nếu chúng ta tiếp tục cung cấp số lượng lớn với chất
lượng như hiện nay thì không đáp ứng nhu cầu mới và thách thức là rất lớn.
Việc đào tạo nghề còn một số điều chưa thỏa đáng. Nhận thức của người dân
chưa thỏa đáng; các doanh nghiệp cũng chưa quan tâm đến việc đào tạo
nghề, họ mới chỉ hưởng thụ chứ chưa đóng góp nhiều vào công tác đào tạo.
Nhà nước và ngay bản thân các cơ sở đào tạo nghề cũng chưa quan tâm đúng
mức đến chất lượng đào tạo.’’(Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phát biểu
trong một cuộc làm việc với Tổng cục Dạy nghề ).
Trường Cao đẳng Xây dựng số 1 là một trường thuộc Bộ Xây dựng –
cái nôi đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực xây dựng
không chỉ cho các công ty Xây dựng ở Hà Nội mà còn cho cả toàn ngành Xây
dựng. Trường có chức năng chính là đào tạo cán bộ kỹ thuật, nghiệp vụ bậc
cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật phục vụ nhu cầu

3
nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng. Trong những
năm gần đây do yêu cầu xã hội hoá giáo dục, trước nhu cầu của cơ chế thị
trường và xu thế phát triển của khoa học công nghệ xây dựng trong nước cũng
như hội nhập quốc tế, càng đòi hỏi ở công nhân sự lành nghề và có chuyên môn
kỹ thuật cao đáp ứng với nhu cầu của các nhà tuyển dụng. Đây cũng chính là
thách thức đối với công tác quản lý đào tạo nghề công nhân xây dựng của trường
trong giai đoạn mới nhằm đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp và xã
hội. Nhà trường đã xác định mục tiêu đào tạo trong chiến lược phát triển của
mình để đưa trường từ chỗ là một trường công lập chỉ đào tạo theo kế hoạch Nhà
nước trong lĩnh vực xây dựng trở thành một trường đa ngành, đa nghề từ đó từng
bước chuyển mình để phù hợp với yêu cầu thực tế của xã hội.
Chất lượng giáo dục trong các cơ sở đào tạo nghề hiện nay đang là một

Xây dựng ở Trường Cao đẳng Xây dựng số 1
4. Khách thể nghiên cứu
Công tác đào tạo trình độ Trung cấp nghề Xây dựng.
5. Đối tƣợng nghiên cứu
Quản lý đào tạo trình độ Trung cấp nghề Xây dựng.
6. Phạm vi nghiên cứu
Thực trạng quản lý đào tạo trình độ Trung cấp nghề Xây dựng ở
Trường Cao đẳng Xây dựng số 1 trong 3 năm học gần đây.
7. Giả thuyết khoa học
Chất lượng đào tạo trình độ Trung cấp nghề Xây dựng ở Trường Cao
đẳng Xây dựng số 1 còn có một số mặt bất cập và hạn chế bắt nguồn từ nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý đào tạo trình độ Trung cấp
nghề Xây dựng dựa trên những nét đặc thù của Nhà trường, phù hợp với thực
tế của xã hội thì sẽ góp phần nâng cao được chất lượng đào tạo trình độ Trung
cấp nghề Xây dựng ở Trường Cao đẳng Xây dựng số 1.

5
8. Các phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích, tổng hợp các chủ trương, đường lối, Chỉ thị và Nghị quyết
của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, của ngành và các tài liệu
khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
So sánh các kết quả nghiên cứu của những công trình sách, tạp chí, luận
án, luận văn trong và ngoài nước liên quan đến đề tài.
8.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1. Phương pháp điều tra viết
Sử dụng hai bộ câu hỏi để điều tra: 01 Bộ câu hỏi dành cho cán bộ, giáo
viên Nhà trường (Phụ lục 1) và 01 Bộ câu hỏi dành cho học sinh đang học trình
độ Trung cấp nghề Xây dựng ở Trường Cao đẳng xây dựng số 1 (Phụ lục 2) 7
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ
TRUNG CẤP NGHỀ XÂY DỰNG
1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, những vấn đề về đào tạo nghề, quản lý quá trình đào tạo
nghề từ trước đến nay, là một đề tài có tính thời sự, luôn thu hút sự quan tâm
của các nhà nghiên cứu và được quan tâm ngay từ cuối những năm 70 của thế
kỷ XX. Lúc đó, một số các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục nghề
nghiệp, tâm lý học lao động đã chủ động nghiên cứu những khía cạnh khác
nhau về sự hình thành nghề và công tác dạy nghề với các giáo trình, đề tài
như: Tác giả Nguyễn Minh Đường với “Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam trên
bước đường phát triển và hội nhập quốc tế”; Tác giả Đặng Danh Ánh
với“Vấn đề và hướng đi cho giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam” (Kỷ yếu
hội thảo Đối thoại Pháp – Á); Tác giả Nguyễn Văn Hộ với “Hoạt động hướng
nghiệp và giảng dạy kỹ thuật trong trường Trung học phổ thông”, “ Thích ứng
sư phạm”; Tác giả Trần Kiểm với giáo trình “Quản lý giáo dục và quản lý
trường học”; Tác giả Nguyễn Bá Dương với giáo trình “ Tâm lý học cho
người lãnh đạo” [9]…Ðặc biệt, hiện nay một số nhà nghiên cứu đã đi sâu
nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường với các giáo trình như:
Tác giả Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Lộc với giáo trình “Đổi mới
quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục:Dành cho hiệu trưởng và cán bộ
quản lý giáo dục”[3]; Tác giả Đặng Bá Lãm với giáo trình “Giáo dục Việt
Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI - Chiến lược phát triển”[27], “Quản lý
nhà nước về giáo dục - Lý luận và thực tiễn”[28]; Tác giả Trần Khánh Đức
với “Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực”[11],

Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, hình thành cùng
với sự xuất hiện của xã hội loài người. Nó là một phạm trù tồn tại khách quan

9
được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và ở mọi
thời đại. Lịch sử đã chỉ rõ, ngay từ buổi sơ khai của loài người, để tồn tại và
phát triển, con người đã biết liên kết nhau thành các nhóm để chống lại thú dữ
và thiên nhiên. Do đó đã xuất hiện các mối quan hệ giữa con người với con
người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và giữa con
người với bản thân mình. Khi xã hội loài người phát triển qua các phương
thức sản xuất khác nhau thì trình độ tổ chức và điều hành xã hội ngày càng
được nâng cao. Trong quá trình ấy đã xuất hiện một số người có năng lực chi
phối được người khác, họ điều khiển hoạt động của nhóm sao cho phù hợp
với mục tiêu chung. Những người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý nhóm,
điều này đã làm nẩy sinh nhu cầu về quản lý.
Sự phát triển của xã hội dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố cơ
bản: Tri thức, sức lao động và trình độ quản lý. Mọi hoạt động xã hội đều cần
đến hoạt động quản lý và hoạt động quản lý cũng chính do con người tiến
hành. Người quản lý và đối tượng được quản lý, sự cần thiết của quản lý được
C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành
trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều
hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh
từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những cơ
quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển
lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.[31, tr.34].
“Quản lý” là từ Hán Việt được ghép giữa từ “Quản” và từ “Lý”.
“Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “Lý”
là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó đổi mới phát triển. Như vậy, “Quản lý” là
trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển.
Hệ thống ổn định mà không phát triển thì tất yếu sẽ dẫn đến suy thoái.

tính chất lượng mới.

11
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có
mục đích đến tập thể người-thành viên của hệ-nhằm làm cho hệ vận hành
thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến” [23].
Tóm lại: Các quan niệm trên đây, tuy mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt
này hay mặt khác nhưng đều có điểm chung thống nhất xác định: Quản lý là
hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định. Hay nói
một cách khái quát nhất: Quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được
các mục tiêu của tổ chức đã đề ra.
Khái niệm quản lý bao hàm một ý nghĩa chung là:
- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động
xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người
tồn tại, vận hành và phát triển.
- Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý.
- Quản lý là những tác động có tính hướng đích.
- Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.
- Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình
xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra. Sự
tác động của quản lý, phải bằng cách nào đó để người chịu quản lý luôn luôn
hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản
thân, cho tổ chức và cho cả xã hội.
Trong công tác quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý, đối tượng
quản lý quan hệ với nhau bằng các tác động quản lý. Quá trình quản lý phải
có mục đích, nhiệm vụ hoạt động chung. Khi thực hiện nhiệm vụ quản lý, chủ
thể quản lý luôn hướng theo mục đích quản lý đã xác định để điều khiển đối
tượng bị quản lý thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.
Như vậy, ta có thể hiểu khái niệm quản lý bao hàm các khía cạnh: Hệ

mục tiêu, khái quát các công việc phải làm, xác định khối lượng công việc, đề

13
ra những quy định, xây dựng chương trình hành động, từ đó đề ra các giải
pháp phù hợp với các nguồn lực của hệ thống, góp phần giảm thiểu rủi ro, hạn
chế phát sinh, lãng phí. Lập kế hoạch là dự kiến những vấn đề có thể xảy ra,
những ý tưởng của chủ thể quản lý để đạt được mục đích và đi đến mục tiêu.
Nói cách khác lập kế hoạch là xác định trước xem phải làm gì, làm như thế
nào, khi nào làm và ai làm. Căn cứ thực trạng ban đầu của tổ chức và căn cứ
vào mục tiêu cần phải hướng tới để cụ thể hoá bằng những nhiệm vụ của tổ
chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn. Từ đó tìm ra con đường, biện pháp
đưa đơn vị đạt được mục tiêu. Ðây là bước cơ sở cho việc thực hiện các chức
năng tiếp theo của quản lý.
1.2.2.2. Tổ chức thực hiện
Là bước xác định một cơ cấu chủ định về vai trò nhiệm vụ. Tổ chức là
xây dựng quy chế, qui định rõ mối quan hệ trong bộ máy tổ chức. Xác định có
tính định tính và định lượng chức năng nhiệm vụ giữa các thành viên, giữa
các bộ phận để thông qua đó chủ thể quản lý tác động đến các khâu, các mắt
xích trong tổ chức và đối tượng quản lý để đạt hiệu quả cao nhất. Tổ chức
giúp thực hiện được những chủ trương, định hướng của kế hoạch. Từ đó, chủ
thể quản lý tác động đến đốí tượng quản lý một cách có hiệu quả bằng cách
điều phối các nguồn lực của tổ chức như nhân lực, vật lực và tài lực. Quá
trình xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức phải đảm bảo các yêu cầu: Tính
tối ưu, tính linh hoạt, độ tin cậy và tính kinh tế. Trong quá trình xây dựng cơ
cấu tổ chức quản lý cần tính đến các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp
đó là những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống cụ thể có ảnh hưởng trực tiếp
đến quá trình tổ chức thực hiện.
Lê Nin đã từng nói về công tác tổ chức:“Hãy cho tôi tổ chức những
người Bônsêvích chân chính có kỷ luật tôi sẽ làm đảo tung nước Nga bảo thủ,
man rợ”. Câu nói bất hủ ấy của Lê Nin cho chúng ta hiểu rõ tổ chức và vai trò

quản lý là việc làm không thể thiếu của chủ thể quản lý.

15
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình thống nhất. Trong đó,
mỗi chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc
với các chức năng khác. Quá trình ra các quyết định quản lý là quá trình thực
hiện các chức năng theo một trình tự nhất định. Nhà quản lý không được bỏ
qua hay coi nhẹ bất cứ chức năng nào.
Bên cạnh bốn chức năng cơ bản nêu trên, trong quá trình quản lý cần
quan tâm thêm hai vấn đề quan trọng: Thông tin quản lý và quyết định quản lý.
Thông tin quản lý: Là dữ liệu về việc thực hiện các nhiệm vụ đã được
xử lí giúp cho người quản lý hiểu được về đối tượng mà họ đang quan tâm để
phục vụ cho việc đưa ra các quyết định cần thiết trong quá trình quản lý. Vì
thông tin là nền tảng, là huyết mạch của quản lý, không có thông tin thì không
có quản lý hoặc quản lý mắc sai phạm. Nhờ có thông tin mà sự trao đổi qua
lại giữa các chức năng được cập nhật thường xuyên, nó là cơ sở để người
quản lý đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời và hiệu quả.
Quyết định quản lý: Là sản phẩm của người quản lý trong quá trình
thực hiện các chức năng quản lý.
Quá trình quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:
LẬP KẾ
HOẠCH TỔ
CHỨC Thông tin quản lý,
Quyết định quản lý

phương pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.
Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm
cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch đảm bảo quá trình
giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục.
1.3. Cơ sở lý luận về nghề, đào tạo nghề
1.3.1. Cơ sở lý luận về nghề
1.3.1.1.Khái niệm nghề
Nghề là thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động sản xuất nào đó trong
xã hội.

17
Tác giả E.A.Klimov viết: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao
động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho
xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có). Nó tạo cho con người khả
năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho
việc tồn tại và phát triển”. [24]
Theo tác giả Nguyễn Hùng thì:“Những chuyên môn có những đặc điểm
chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là
nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau.
Chuyên môn là một dạng lao động dặc biệt, mà qua đó con người dùng sức
mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối
tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục
đích, yêu cầu và lợi ích của con người” [ 20, tr 11].
Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng
lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân
(nhu cầu bản thân ) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi
hỏi để thoả mãn những yêu cầu nhất định của xã hội và cá nhân.
Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song
chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau:
- Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi

1.3.2. Ðào tạo nghề
Hiện nay, đang tồn tại nhiều định nghĩa về đào tạo nghề (Dạy nghề).
Một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số khái
niệm: Ðào tạo là một lĩnh vực bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trường
nhằm cung cấp kiến thức và giáo dục cho học sinh, sinh viên. Ðây là công
việc kết nối giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình đào tạo, tổ chức
thực hiện chương trình và các vấn đề liên quan đến tuyển sinh, đào tạo, giám
sát, đánh giá, kiểm tra, tổ chức thực tập, thi tốt nghiệp cùng các quy trình
đánh giá khác, các chính sách liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng về lĩnh
vực đào tạo chuyên nghiệp ở các cơ sở đào tạo nghề nghiệp.

Trích đoạn Biện pháp 3: Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý Biện pháp 5: Chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác tuyển sinh Biện pháp 6: Quản lý việc liên kết đào tạo nghề Biện pháp 7: Tổ chức thực hiện việc kiểm tra, đánh giá kết Thăm dò tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status