Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Trung học phổ thông Thanh Oai B huyện Thanh Oai - Thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay - Pdf 25

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
5. Giả thuyết nghiên cứu
6. Phạm vi nghiên cứu
7. Phương pháp nghiên cứu
8. Cấu trúc của luận văn

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu HĐGDNGLL
1.2. Một số khái niệm cơ bản về quản lý và quản lý giáo dục
1.2.1. Quản lý
1.2.2. Chức năng của quản lý
1.2.3. Quản lý giáo dục
1.2.4. Quản lý nhà trường
1.2.5. Biện pháp, biện pháp quản lý
1.2.6. Chất lượng, chất lượng giáo dục
1.3. Trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1. Vị trí, quyền hạn và nhiệm vụ của trường THPT
1.3.2. Quản lý của hiệu trưởng trường THPT
1.4. Quản lý HĐGDNGLL ở trường THPT
1.4.1. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT
1.4.2. Quản lý HĐGDNGLL

CHƯƠNG II :THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG THPT THANH OAI B

2. Khuyến nghị

TÀI KIỆU THAM KHẢO KÝ HIỆU CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

CBQL Cán bộ quản lý
CMHS Cha mẹ học sinh
CNVC Công nhân viên chức
GD-ĐT Giáo dục – Đào tạo
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
GVCN Giáo viên chủ nhiệm
HCM Hồ Chí Minh
HĐ Hoạt động
HĐGDNGLL Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
HS Học sinh
KT Kiểm tra
KTTHDN Kỹ thuật tổng hợp dạy nghề
ND HĐGDNGLL Nội dung hoạt động ngoài giờ lên lớp
PPCT Phân phối chương trình
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TKB Thời khoá biểu
TP Thành phố
TTDN Trung tâm dạy nghề
TW Trung ương

hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập”.
Những giá trị đạo đức và năng lực nghề nghiệp của người học không chỉ
được hình thành bằng giờ học trên lớp mà còn được rèn luyện, củng cố và

2
phát triển thông qua các hoạt động giáo dục khác, trong đó có hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp góp phần quan
trọng trong việc thực hiện nguyên lý giáo dục.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một bộ phận quan trọng của giáo
dục phổ thông vì nó tạo điều kiện, môi trường thống nhất giữa quá trình dạy
học và quá trình giáo dục. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là hoạt động
ngoài giờ học trên lớp, là sự tiếp nối, bổ sung hỗ trợ và là con đường gắn lý
thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa lý thuyết với hành động, lôi
cuốn học sinh tham gia mở rộng hiểu biết, đặc biệt giúp người học rèn kỹ
năng diễn đạt trước một tập thể lớn, tạo không khí vui tươi lành mạnh, tạo
điều kiện để người học rèn luyện thói quen sống trong cộng đồng và phát huy
tối đa năng lực sở thích của riêng mình. Nội dung, hình thức của Hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp rất đa dạng, phong phú sẽ thể hiện nguyên lý giáo
dục “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường
gắn liền với xã hội” của Đảng.
Ở các nước có nền giáo dục hiện đại cũng như ở nước ta – các trường
Trung học phổ thông có chất lượng giáo dục tốt đều là những cơ sở giáo dục
làm tốt công tác giáo dục toàn diện cho học sinh. Họ làm tốt việc dạy học trên
lớp và tổ chức, quản lý tốt hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh.
Trước thực tế, các trường THPT ngoại thành - thành phố Hà Nội, đặc
biệt là những trường nông thôn của Hà Tây cũ, công tác giáo dục hoạt động
ngoài giờ lên lớp còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao, từ đó dẫn đến học
lệch, học tủ, thờ ơ với thời cuộc, với lịch sử dân tộc, giảm sút về đạo đức và
nhân cách, cuốn vào các tệ nạn xã hội của cơ chế thị trường. Lý do quan trọng
đó đã thúc đẩy tôi nghiên cứu đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục

Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một trong những nhiệm
vụ quản lý của các nhà trường phổ thông. Nếu đề xuất và áp dụng các biện
pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phù hợp với đối tượng và
điều kiện nhà trường sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh
ở cơ sở giáo dục.

4
6. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tập trung vào công tác quản lý hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp ở trường Trung học phổ thông Thanh Oai B - thuộc huyện
Thanh Oai – Thành phố Hà Nội
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước, của Bộ
Giáo dục và Đào tạo.
- Nghiên cứu các tài liệu về lý luận quản lý, quản lý giáo dục.
- Nghiên cứu các công trình khoa học liên quan đến đề tài…
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp khảo sát thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp điều tra, thu thập thông tin, phân tích số liệu, dữ liệu. Xử lý và
sử dụng các thông tin đã thu thập trong quá trình nghiên cứu thuộc phạm vi đề tài
- Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia và các nhà quản lý ở
một số trường trung học phổ thông.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp các trường THPT, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục

các hoạt động ngoại khoá, câu lạc bộ cho học sinh ở trại M.Gorki và công xã
F.E.Dzerjinski như: "Tổ đồng ca, tổ văn học Nga, tổ khiêu vũ tự do, tổ thử
nghiệm khoa học tự nhiên, tổ Vật lý - Hoá học, tổ thể thao Việc phân phối

6
các em học sinh vào các tổ ngoại khoá, câu lạc bộ được tổ chức trên cơ sở
hoàn toàn tự nguyện, các em có thể xin ra khỏi tổ bất cứ lúc nào, nhưng các
tổ phải có kỷ luật trong quá trình hoạt động" [24, tr. 173-174].
Cuốn sách “Giáo dục học” tập 3 của tác giả T.A.Ilina đã đề cập đến khái
niệm, nội dung và các hình thức cơ bản của HĐGDNGLL.
Cuốn sách “Tổ chức và lãnh đạo công tác giáo dục ở trường phổ thông”
tác giả I.X. Marienco đã trình bày sự thống nhất của công tác giáo dục trong
và ngoài trường học, nội dung và các hình thức tổ chức HĐGDNGLL, vị trí
của người Hiệu trưởng trong việc lãnh đạo hoạt động giáo dục và các tổ chức
Đoàn, Đội trong nhà trường
Bộ trưởng Giáo dục Anh Rutl Kelly đã nhận xét “Các hoạt động giáo dục
ngoài giờ, nhất là hoạt động ngoại khoá đã làm giàu chương trình học, tạo dựng
niềm tin và củng cố kỹ năng cho học sinh”. [15] – Kelly outdoor learning.
Qua một số quan điểm, nhận định của các nhà Giáo dục trên thế giới ta
thấy HĐGDNGLL có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình giáo dục của
các nhà trường.
Ở Việt Nam nghiên cứu về HĐGDNGLL đã thu hút được nhiều nhà
nghiên cứu, các nhà giáo trong cả nước từ những năm 80 của thế kỷ trước trở
lại đây. Chúng ta có thể chia làm hai giai đoạn:
+ Giai đoạn trước cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba (từ năm 1979 trở về
trước): Điểm nổi bật của giai đoạn này là khái niệm “HĐGDNGLL” chưa
được hình thành và chưa có tên gọi cụ thể như ngày nay. Tuy nhiên, nội hàm
cơ bản của khái niệm đã được Chủ Tịch Hồ Chí Minh đề cập trong “Thư gửi
cho học sinh nhân ngày khai trường” tháng 9 năm 1945, Bác viết " nhưng
các em cũng nên ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để

thêm phong phú”.
+ Giai đoạn từ cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba đến nay: Nghị quyết
TW14 ngày 11 tháng 1 năm 1979 của Bộ chính trị về cải cách giáo dục đã
khẳng định: “Nội dung giáo dục ở trường phổ thông trung học mang tính chất
toàn diện và kỹ thuật tổng hợp, nhưng có chú ý đến việc phát huy sở trường

8
và năng khiếu các nhân cần coi trọng giáo dục thẩm mỹ, giáo dục và rèn
luyện thể chất, hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao và luyện tập
quân sự” [ 36, tr. 4-5].
Điều lệ trường Trung học phổ thông (Ban hành kèm theo Thông tư số:
12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo”
“ Điều 26. Các hoạt động giáo dục
1. Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt
động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,
tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân;
chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động.
2. Hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp được tiến hành thông qua việc
dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong chương trình giáo dục của
cấp học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
3. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá
về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng
chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng
nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng
khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục
môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc
điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh.”
Để đáp ứng yêu cầu cải cách giáo dục, đã có nhiều nghiên cứu xung
quanh việc xác định khái niệm “HĐGDNGLL”, cũng như nghiên cứu nhằm

Qua hệ thống các nghiên cứu nói trên, cho thấy các tác giả đi sâu vào
nghiên cứu cơ bản về HĐGDNGLL, nghiên cứu thực nghiệm, tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn nhằm xây dựng quy trình tổ chức và đổi mới nội dung,
phương pháp HĐGDNGLL. Các nghiên cứu về quản lý HĐGDNGLL hầu
như chưa được thực hiện nhiều và ít hiệu quả.
Một số đề tài luận văn thạc sĩ về HĐGDNGLL cho một số cơ sở giáo
dục cụ thể cũng đã được nghiên cứu:

10
- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động ngoài giờ lên
lớp ở trường THPT quận Ba Đình – TP Hà Nội của Nguyễn Thị Mỹ Công,
ĐH Vinh, 2010;
- Biện pháp quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THCS quận
Hoàn Kiếm – TP Hà Nội của Đặng Chính Thao, Học viện Quản lý giáo
dục, 2012
Tuy nhiên, đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trường THPT Thanh Oai B.
1.2. Một số khái niệm cơ bản về quản lý và quản lý giáo dục
1.2.1. Quản lý
Các nhà Luật học nghiên cứu các quy luật quản lý nhà nước; các nhà Xã
hội học nghiên cứu về hoạt động quản lý mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng
lớp xã hội, dân tộc, quốc gia; các nhà Kinh tế nghiên cứu về quản lý nền sản
xuất xã hội Như vậy quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực.
Chính vì vậy, khi đưa ra các khái niệm quản lý, các tác giả thường gắn với các
loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay
nghiên cứu của mình.
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm quản lý, chúng tôi đưa
ra một vài khái niệm sau đây của một số nhà khoa học nghiên cứu chuyên sâu
về khoa học quản lý.
Frederick Winslow Taylor (1856-1915) là người sáng lập ra thuyết quản

Từ những định nghĩa điển hình đã nêu trên có thể khái quát:
Quản lý một đơn vị (cơ sở giáo dục ) với tư cách là một hệ thống xã hội
là một khoa học, một nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành phần
của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhẳm đạt được các mục tiêu đề
ra trong quá trình hoạt động.
Quản lý bao giờ cũng hướng đích: có mục tiêu, có tổ chức, có các tác
động tương ứng, phù hợp nhằm hướng dẫn, điều khiển những đối tượng quản
lý để đạt tới những mục tiêu định sẵn.

12
Quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống, gồm: Chủ thể
quản lý; khách thể quản lý; cơ chế quản lý; mục tiêu chung.
Quản lý tạo ra mối quan hệ hữu cơ giữa chủ thể quản lý và khách thể
quản lý. Quản lý có phạm vi tác động lên khách thể rất rộng, do đó ngày nay
nó được xem là nhân tố quan trọng nhất trong năm nhân tố quyết định thành
công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội (Vốn, nguồn lực lao động, khoa
học và kỹ thuật, tài nguyên và chất xám quản lý).
Như vậy, ta có thể hiểu quản lý một cách khái quát: quản lý là một quá
trình tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng
quản lý thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các
nguồn lực để hệ ổn định, phát triển đạt được mục đích đã đề ra.
1.2.2. Chức năng của quản lý
Chức năng quản lý gắn liền với sự xuất hiện và tiến bộ của phân công -
hợp tác lao động trong một quá trình sản xuất của một tập thể người lao động.
Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý, thông qua đó chủ thể
quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định.
Chức năng quản lý là tập hợp các nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản
lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Chức năng có vị trí quan trọng trong
quá trình điều hành công việc.
Chức năng quản lý khác với chức năng của cơ quan quản lý, chức năng

tốt nhất để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
2. Tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải
chuyển hoá những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực. Xét về mặt
chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành cấu trúc các quan hệ giữa
các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực
hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Quá
trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận cùng các công
việc của chúng. Và sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ sẽ nối tiếp ngay sau khi
các chức năng kế hoạch hoá và tổ chức.
3. Chỉ đạo: Liên hệ, liên kết các thành viên trong tổ chức và động viên
họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.

14
Việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau khi lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã
hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia.
4. Kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra, đánh giá là một chức năng của quản lý,
thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các
thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn cần
thiết. Một kết quả hoạt động phải phù hợp với chi phí bỏ ra, nếu không tương
ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn.
1.2.3. Quản lý giáo dục
Các nhà lý luận về quản lý giáo dục Liên Xô trước đây đã đưa ra một
số định nghĩa về khái niệm quản lý giáo dục, như M. M Mechti Zade đã nêu:
“Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ,
kế hoạch hoá, tài chính ) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ
quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ
thống cả về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng” [42, tr.34].
Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã viết: “Quản lý giáo dục
(và nói riêng, quản lý trường học) là hệ thống những tác động có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ

tiện phục vụ giảng dạy và học tập.
Vấn đề đặt ra trong quá trình quản lý nhà trường là vận hành để các
thành tố trên có sự gắn bó, hỗ trợ, điều phối, bổ sung cho nhau để đạt được
mục tiêu đề ra.
Theo M.I.Kôn-đa-cốp: “Không ai đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh,
chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là: Hệ thống xã hội -
sư phạm chuyên biệt. Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa
học và có hướng của chủ thể quản lý lên tất cả các mặt của đời sống nhà
trường, để đảm bảo tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình
dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [48].
Theo GS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối
của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo
đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [22, tr. 9].

16
Theo PGS.TS Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của
các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh
và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo
dục và đào tạo trong nhà trường”.
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và về bản chất là cơ bản nhất của
quản lý giáo dục. Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung
tâm của nhà trường. Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trường
đều hướng vào tiêu điểm này.
Vì vậy, quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động sư
phạm của giáo viên, hoạt động học tập - tự giáo dục của học sinh diễn ra trong
quá trình dạy học - giáo dục. Có thể nói rằng, quản lý nhà trường thực chất là
quản lý quản lý dạy học - giáo dục.
Như vậy, xét một cách đầy đủ: Quản lý nhà trường phổ thông là sự tác
động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực

lượng là đặc tính khách quan của sự vật, chất lượng biểu hiện ra bên ngoài,
qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một,
gắn bó với sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật và không tách
khỏi sự vật. Về căn bản chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính quy
định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy. Một sự
vật là một thể thống nhất giữa số lượng và chất lượng.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam chất lượng là “Phạm trù
triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính
ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác. Chất lượng
là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các
thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với
sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật.
Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó.
Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản. Chất lượng
của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và
không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy. Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống
nhất của chất lượng và số lượng”.

18
1.2.6.2. Chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng các yêu cầu về mục tiêu giáo dục
quy định tại Luật Giáo dục.
Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển Bách khoa, 2001) “Chất
lượng giáo dục là tổng hòa những phẩm chất và năng lực được tạo nên trong
quá trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho người học so với thang chuẩn giá
trị của nhà nước hoặc xã hội nhất định”.
1.3. Trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1. Vị trí, quyền hạn và nhiệm vụ của trường THPT
Theo Điều lệ trường THPT, trường THCS và trường phổ thông có
nhiều cấp học (Ban hành theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày

Trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban
hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT):
a) Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
b) Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường;
c) Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và tổ chức thực
hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước
Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
d) Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn
trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó; đề xuất các thành viên của Hội
đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;
đ) Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công
tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen
thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên; thực hiện việc tuyển dụng giáo
viên, nhân viên; ký hợp đồng lao động; tiếp nhận, điều động giáo viên, nhân
viên theo quy định của Nhà nước;
e) Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức;
xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận
hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh tiểu học (nếu có) của trường phổ
thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh;

20
g) Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
h) Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên,
nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của
nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường;
i) Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của
ngành; thực hiện công khai đối với nhà trường;
k) Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.
Nhà trường thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ của mình hay không một

- Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp, với 5 tiêu chí;
- Tiêu chuẩn 2: Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, với 5 tiêu chí;
- Tiêu chuẩn 3: Năng lực quản lý nhà trường, với 13 tiêu chí;
1.4. Quản lý HĐGDNGLL ở trường THPT
1.4.1. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT
1.4.1.1. Khái niệm về HĐGDNGLL
“Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) là những hoạt động
giáo dục được tổ chức ngoài các giờ học môn văn hoá. Hoạt động này có quan
hệ mật thiết với hoạt động dạy học, mở rộng hơn môi trường hoạt động giáo dục,
tạo điều kiện cho sự gần gũi giữa lí thuyết với thực tế, rèn luyện kĩ năng sống,
gắn nhà trường với cộng đồng và đời sống xã hội, góp phần hình thành và phát
triển nhân cách cho học sinh”. (Cẩm nang Hiệu trưởng trường THCS. Phạm
Mạnh Hùng, Trần Đình Châu (Chủ biên) và nnk. NXB GD, 2012).
Điều lệ Trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học
(Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT) quy định: “Hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn
học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội,
giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng
sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi,
tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và
các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh”.

22
“Công tác giáo dục học sinh ngoài giờ học thường được coi là công tác
giáo dục ngoại khoá. Công tác này, bổ sung và làm sâu thêm công tác giáo
dục nội khoá, trước tiên là phương tiện để phát hiện đầy đủ tài năng và năng
lực của trẻ em, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của học sinh đối với
hoạt động nào đó; đó là một hình thức tổ chức giải trí của học sinh và là cơ sở
để tổ chức việc thực tập về hành vi đạo đức, để xây dựng kinh nghiệm của
hành vi này” T.A. ILina [ 43, tr.61-62].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status