Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng MHB chi nhánh Hải Dương - Pdf 25

1
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
2
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CVTD : Cho vay tiêu dùng
NH : Ngân hàng
NHTM : Ngân hàng thương mại
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TDH : Trung dài hạn
LN : Lợi nhuận
PGD : Phòng giao dịch
TCKT : Tổ chức kinh tế
CBNV : Cán bộ nhân viên
KH : Khách hàng
TW : Trung ương.
QHKHVNV : Quan hệ khách hàng và nguồn vốn
NHNN : Ngân hàng nhà nước
NQH : Nợ quá hạn
DN : Dư nợ
DSCV : Doanh số cho vay
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
3
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
4
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
LỜI MỞ ĐẦU

Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
thực tiễn hoạt động cho vay tiêu dùng tại đây, em nhận thấy vẫn còn một số hạn chế
khiến cho hoạt động cho vay tiêu dùng chưa phát huy được hết vai trò của nó với
Ngân hàng, doanh nghiệp, nền kinh tế, cần tiếp tục nghiên cứu tìm ra các biện pháp
hữu hiệu đem lại chất lượng và hiệu quả tốt nhất cho việc đầu tư tín dụng. Vì vậy,
em quyết định chọn đề tài : “ Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân
hàng MHB chi nhánh Hải Dương” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp
của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1 : Tổng quan về hoạt động cho vay tiêu dùng.
Chương 2 : Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP
phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long (MHB) – chi nhánh Hải Dương.
Chương 3 : Giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng
MHB chi nhánh Hải Dương.
Đề tài nghiên cứu trên đây là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp nhưng do
thời gian nghiên cứu hạn hẹp và khả năng trình độ, kinh nghiệm thực tế còn hạn chế
nên luận văn của em không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong sẽ nhận
được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các cán bộ trong Ngân hàng và bạn
bè để luận văn của em được hoàn thiện hơn.
Để hoàn thiện luận văn này, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình
của các thầy cô giáo trong trường Đại học Thương Mại, đặc biệt là Ts. Nguyễn Thu
Thủy – người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện bài viết này.
Đồng thời em cũng xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị cán bộ công tác tại
Ngân hàng MHB chi nhánh Hải Dương đã giúp đỡ em trong thời gian thực tập tại
Ngân hàng cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: Nguyễn Đức Lý
Lớp: K45H6
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
6

7
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
 Thời hạn cho vay:
- Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay có thời hạn nhỏ hơn 12 tháng và được sử
dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu
ngắn hạn của cá nhân.
- Cho vay trung hạn: thời hạn vay trên 12 tháng tới 5 năm. Cho vay trung hạn chủ
yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công
nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời
gian thu hồi vốn nhanh.trong nông nghiệp, chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào
các đối tượng sau:máy cày, máy bơm nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp
như cà phê,điều …
- Cho vay dài hạn: thời hạn cho vay thường trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên
tới 20-30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm. Tín dụng dài hạn
được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị,
phương tiện vận tải có quy mô lớn…
 Phân loại theo mức độ tín nhiệm với khách hàng:
- Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố
hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản
thân khách hàng. Loại tín dụng này thường được cấp cho khách hàng có uy tín lớn,
trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, thường xuyên làm ăn
có lãi, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với qui
mô vốn của người vay. Các khoản vay theo chỉ thị của chính phủ mà chính phủ yêu
cầu không cần tài sản đảm bảo, các khoản vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các
công ty lớn hoặc những khoản vay trong thời hạn ngắn mà ngân hàng có khả năng
giám sát việc bán hàng…cũng có thể không cần tài sản đảm bảo.
- Cho vay có tài sản bảo đảm: là loại vay dựa trên các bảo đảm như thế chấp,
cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba. Sự bảo đảm cho phép các ngân hàng có
được nguồn thu nợ thứ hai bằng cách bán tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất từ
quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng không đủ để trả nợ ngân hàng. Hình

và yêu cầu bảo đảm nếu cần. Mỗi món vay được tách biệt nhau thành hồ sơ khác
nhau. Trong quá trình khách hàng sử dụng vốn vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục
đích và hiệu quả sử dụng.nếu thấy có dấu hiệu vi phạm thì ngân hàng sẽ thu nợ
trước hạn hoặc luân chuyển nợ quá hạn.
- Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho
khách hàng hạn mức tín dụng.hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ.
Hạn mức tín dụng là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
9
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
- Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa,
doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua
hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng.
- Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả
gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận.
 Phân loại dựa vào nguồn gốc của khoản vay:
- Cho vay trực tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho
người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế
ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
1.2Cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng
Trên thực tế có rất nhiều khái niệm khác nhau về CVTD, xuất phát từ sự khác
biệt về đặc trưng tập quán tiêu dùng và hoạt động của các NHTM tại mỗi quốc gia.
Song nhìn chung, khái niệm cơ bản về CVTD đều được hiểu như sau: “Cho vay tiêu
dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng
bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp
những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ Bên cạnh
đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch cũng có thể được tài trợ
bởi cho vay tiêu dùng”

trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp.
- Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế.
- Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co dãn với lãi suất mà thông thường
người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu.
- Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có quan hệ rất mật thiết tới nhu cầu
vay tiêu dùng của khách hàng.
- Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao.
- Nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá
trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của những người này.
- Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết định
sự hoàn trả của khoản vay.
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
11
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển cho vay tiêu dùng:
a. Chỉ tiêu định tính:
Mở rộng CVTD được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của
khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời, an
toàn, kỳ hạn và phương thức thanh toán phù hợp, đa dạng hóa được sản phẩm theo
mục đích sử dụng vốn, mức lãi suất cho vay linh hoạt.
Ngân hàng xây dựng được hình ảnh, thương hiệu tốt, xây dựng được nếp sống
văn hóa riêng, cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đạo đức nhân viên tốt cung cấp
nhiều sản phẩm, dịch vụ cho vay tiêu dùng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
b. Chỉ tiêu định lượng:
Số lượng khách hàng:
Được tính bằng tổng số các khách hàng sử dụng sản phẩm CVTD của NHTM
trong một khoảng thời gian nhất định, thường là tháng, quý hoặc năm. Đây là chỉ tiêu
dễ tính nhất, thể hiện rõ nhất mức độ mở rộng về mặt phạm vi thị trường CVTD của
một ngân hàng, hiệu quả của các biện pháp quảng bá, tuyên truyền của ngân hàng.
Chỉ tiêu này càng cao càng tốt.

ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng.
1.2.5 Phân loại cho vay tiêu dùng:
CVTD có nhiều hình thức khác nhau, việc phân chia các loại CVTD phụ thuộc
vào nhiều tiêu chí khác nhau. Trong đó, CVTD thường được phân loại theo những
cách sau đây:
 Căn cứ vào mục đích: được chia làm 2 loại
- Cho vay tiêu dùng cư trú: CVTD cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu
cầu mua sắm, xây dựng hoặc/và cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ
gia đình.
- Cho vay tiêu dùng phi cư trú: là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi
phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch…
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
13
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
 Căn cứ vào phương thức hoàn trả:gồm 3 loại
- Cho vay tiêu dùng trả góp: đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay
trả nợ(gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất
định trong thời hạn cho vay. Phương thức này thường được áp dụng cho các khoản
vay có gíá trị lớn hoặc/và thu nhập từng định kỳ của người đi vay không đủ khả
năng thânh toán hết một lần số nợ vay.
- Cho vay tiêu dùng phi trả góp: theo phương thức này tiền vay được khách hàng
thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần đến khi đến hạn, thường thì các khoản cho
vay tiêu dùng phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn
không dài.
- Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng
cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu
chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được
thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ,khách
hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần
hoàn, theo một hạn mức tín dụng.

 Đối với nền kinh tế: Một nền kinh tế không thể phát triển ổn định khi mà chất
lượng tín dụng trong hệ thống NH không tốt. Nguồn tín dụng có một vai trò quan
trọng vì nó đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng, góp
phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Nâng cao chất lượng tín dụng nói chung và chất
lượng CVTD nói riêng là điều rất cần thiết cho nền kinh tế vì: tạo nên xu hướng
cạnh tranh giữa các NH, chính xu hướng cạnh tranh sẽ thúc đẩy các NH áp dụng các
công nghệ hiện đại, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa hệ thống NH, là cơ sở đảm bảo
cho nền kinh tế phát triển bền vững.
1.2.7 Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới phát triển cho vay tiêu dùng:
A. Các nhân tố từ phía khách hàng.
- Vị thế, năng lực của khách hàng
Vị thế, năng lực của khách hàng là nhân tố quyết định đến việc KH sử dụng
vốn vay có hiệu quả hay không. Nếu năng lực của khách hàng yếu kém, thể hiện ở
việc không dự đoán được xu hướng biến động của nhu cầu thị trường, không hiểu
biết nhiều trong việc sản xuất, phân phối và khuếch trương sản phẩm,…thì sẽ dễ
dàng bị gục ngã trong cạnh tranh. Từ đó làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ NH
dẫn đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng bị ảnh hưởng. Và ngược lại, vị thế,
năng lực thị trường của khách hàng càng cao thì khả năng cạnh tranh trên thị trường
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
15
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
càng lớn, vốn vay càng được sử dụng có hiệu quả, từ đó nâng cao chất lượng tín
dụng.
Bên cạnh đó năng lực của khách hàng còn được thể hiện ở chất lượng nhân
sự quản lý, sự phối kết hợp giữa các thành viên trong ban lãnh đạo nhằm xây dựng
một cơ cấu tổ chức hợp lý trong doanh nghiệp, cho phép tận dụng tối đa nguồn vật
lực, tài lực của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, công tác quản lý trong
doanh nghiệp là vô cùng quan trọng, giúp doanh nghiệp có thể điều chỉnh để thích
ứng với những biến động trong môi trường kinh doanh, của chính bản thân doanh
nghiệp. Với sự năng động trong kinh doanh, bắt kịp được với sự phát triển của thế

đầu tư có hiệu quả thì sẽ thuận lợi hơn trong việc thỏa thuận với Ngân hàng về việc
vay vốn để đầu tư và ngược lại.
B. Các nhân tố từ phía ngân hàng.
- Năng lực của ngân hàng trong công tác thẩm định.
Công tác thẩm định là một khâu quan trọng, không thể thiếu trong việc cấp
tín dụng của NH. Bởi vì nó có liên quan mật thiết đến khả năng xảy ra rủi ro tín
dụng đối với NH. Công tác thẩm định giúp NH có kết luận chính xác về tính khả
thi, tính kinh tế, tính hiệu quả, khả năng trả nợ, mức độ rủi ro,…của dự án đầu tư để
đưa ra quyết định có cho vay hay không. Như vậy cho thấy nếu làm tốt công tác
thẩm định sẽ tạo điều kiện để NH loại bỏ những dự án đầu tư không khả thi, có hiệu
quả thấp. Mặt khác, trong quá trình thẩm định, NH có thể tham gia đóng góp ý kiến
cho chủ đầu tư nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của dự án, từ đó làm
tăng thêm khả năng trả nợ gốc và lãi cho NH, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín
dụng NH. Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động các NH phải không ngừng cải
tiến nâng cao trình độ thẩm định của mình.
- Năng lực giám sát và xử lý các tình huống cho vay của ngân hàng
Cho dù công tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng được thực hiện một
các chặt chẽ, đúng qui trình, giúp NH lựa chọn được những khách hàng đáng tin
cậy thì cũng không thể khẳng định chắc chắn là chất lượng tín dụng của NH cao.
Bởi vì, hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh trong thời gian dài luôn tiềm ẩn
những rủi ro không thể lường trước được. Bản thân các dự án trong quá trình thực
hiện cũng sẽ nảy sinh những tình huống ngoài dự kiến. Chính vì vậy mà việc giám
sát và xử lý các tình huống tín dụng sau khi cho vay hết sức cần thiết. Hoạt động
giám sát giúp NH nắm bắt được việc khách hàng sử dụng vốn vay của NH có đúng
mục đích không; tình hình hoạt động thực tế của dự án, tiến độ trả nợ, quá trình sử
dụng, bảo quản, biến động về tài sản của doanh nghiệp; những vấn đề nảy sinh mới
trong quá trình thực hiện dự án. Thực hiện tốt công tác này sẽ giúp NH phát hiện và
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
17
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng

đầu tư đưa ra quyết định. Nếu môi trường này ổn định thì các nhà đầu tư sẽ yên tâm
hơn trong việc mở rộng đầu tư, đầu tư lâu dài, và do đó nhu cầu về vốn tiêu dùng
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
18
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
cũng tăng lên. Ngược lại, nếu môi trường bất ổn sẽ khiến họ e ngại và chỉ duy trì ở
mức tái sản xuất giản đơn để đảm bảo an toàn vốn, hạn chế rủi ro. Điều này sẽ làm
ảnh hưởng đến quy mô tín dụng của NH, chủ yếu sẽ là các món vay ngắn hạn, nhu
cầu vay vốn tiêu dùng giảm sút. Hơn nữa, sự không ổn định về chính trị sẽ dẫn đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro, ảnh hưởng
đến công tác thu hồi nợ của NH.
 Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt
động của các chủ thể trong xã hội. Các văn bản pháp lý có vai trò quan trọng trong
việc hướng dẫn hoạt động tín dụng của NH, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các
NH, giúp NH xử lý các tranh chấp trong hoạt động tín dung. Đồng thời, môi trường
pháp lý cũng có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư của
các doanh nghiệp nên nó tác động đến nhu cầu vốn và hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp. Môi trường pháp lý không chặt chẽ, nhiều khe hở, thiếu sự ổn định sẽ
làm cho các doanh nghiệp yếu kém làm ăn bất chính, lừa đảo lẫn nhau, lừa đảo NH;
làm cho các nhà đầu tư trung thực e ngại, không dám mạnh dạn đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh, do đó hạn chế nhu cầu vốn tín dụng của NH. Vì vậy, một môi
trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ, ổn định, lành mạnh là cơ sở để NH nâng cao chất
lượng tín dụng của mình.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN
HÀNG TMCP PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG (MHB) – CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG.
2.1 Giới thiệu tổng quan về ngân hàng TMCP MHB
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp

Đồng Bằng Sông Cửu Long tại Hải Dương” do chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
20
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
cấp, giấy phép kinh doanh số 0416000004 ngày 23/8/2004 do Sở Kế Hoạch và Đầu
Tư Hải Dương cấp. Ngân hàng MHB chi nhánh Hải Dương có trụ sở đặt tại 27 Đại
Lộ Hồ Chí Minh – Thành phố Hải Dương – một trung tâm kinh tế của tỉnh Hải
Dương. Sau 7 năm hoạt động Ngân hàng MHB Hải Dương đã trở thành một địa chỉ
thân quen với khách hàng là các DNNN, DNTN, Công ty cổ phần, công ty TNHH,
hợp tác xã và các cá nhân trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đặc biệt là với các tổ chức
tài chính tín dụng trong tỉnh. Là một NHTM đa năng, MHB – Hải Dương đã cung
ứng đầy đủ và phong phú, đa dạng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng truyền thống
cũng như các dịch vụ mới với công nghệ ngân hàng hiện đại, và đặc biệt còn góp
phần vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế.
2.1.2. Mô hình cơ cấu tổ chức và tình hình nhân sự của NH MHB chi nhánh
Hải Dương.
Ngân hàng MHB chi nhánh Hải Dương có cơ cấu tổ chức rất chặt chẽ, liên
hệ mật thiết với các phòng giao dịch khác của chi nhánh. Mỗi phòng, ban trong chi
nhánh có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, được
tổ chức rất linh hoạt và có hiệu quả, đảm bảo sự thống nhất, an toàn từ trên xuống
dưới, và đều có trách nhiệm làm tham mưu cho Giám đốc trong việc thực hiện tốt
các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước cũng như các chế độ, thể lệ của
ngành.
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA NGÂN HÀNG MHB CHI NHÁNH HẢI
DƯƠNG
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
Phó giám đốc
Giám đốc
8 Phòng
giao dịch

cơ sở dữ liệu tập chung – một hệ thống các phân hệ nghiệp vụ cơ bản của ngân
hàng như tiền gửi, tiền vay, khách hàng,…nhằm mục tiêu hiện đại hóa ngân hàng,
thực hiện nối mạng giữa chi nhánh và các phòng giao dịch cấp một với hội sở, mọi
hoạt động của ngân hàng đều được theo dõi và quản lý sát sao tạo được sự phối hợp
đồng bộ để đi đến thống nhất trong hoạt động của hệ thống. Nhờ cách bố trí và quản
lý này mà Ngân hàng hoạt động hiệu quả cao và ít gặp rủi ro hơn.
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
22
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
Về nhân sự, hiện nay ngân hàng MHB – chi nhánh Hải Dương: gồm 114 cán
bộ công nhân viên với độ tuổi trung bình là 29 tuổi. Trong đó:
- Trình độ sau Đại học là: 5 đồng chí, chiếm 4,39%.
- Trình độ Đại học là: 100 đồng chí, chiếm 87,72%.
- Trình độ Cao đẳng và THCN là: 9 đồng chí, 7,89%.
Bộ máy lãnh đạo:
 Ban Giám Đốc
 Giám đốc : Bà Đinh Thị Hiền
 Phó giám đốc: Bà Lương Thị Yên
 Nhiệm vụ:
Hoạch định chiến lược: xây dựng chiến lược phát triển chi nhánh giao dich,
hoạch định chiến lược phát triển nhân sự tại chi nhánh…
Tổ chức điều hành : điều hành, quản lý và tổ chức việc thực hiện các kế hoạch
kinh doanh đã phê chuẩn, quản lý các hoạt động kinh doanh hàng ngày tại chi
nhánh, quản lý thực thi tất cả các quy tắc và quy định về quản lý và hoạt động đã đề
ra trong năm kế hoạch, chịu trách nhiệm phê duyệt các hồ sơ tín dụng, quản lý rủi
ro, điều hòa vốn, các hợp đồng tiền gửi…, quản lý kinh doanh các sản phảm và dịch
vụ ngân hàng, quản lý việc chính sách chăm sóc khách hàng, các chương trình
marketing và triển khai sản phẩm, xây dựng mối quan hệ và trực tiếp quản lý mối
quan hệ với khách hàng…
Kiểm tra giám sát: giám sát toàn bộ các khía cạnh kinh doanh, chiến lược, đảm

xuất chương trình tiếp thị tín dụng phù hợp với chính sách tín dụng, quan hệ khách
hàng như tìm kiếm khách hàng…và các công việc khác.
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh tại NH MHB chi nhánh Hải Dương.
 Về công tác huy động vốn
Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất, làm nền
tảng cho những hoạt động tiếp theo của quá trình kinh doanh Ngân hàng, là tiền đề,
cơ sở để Ngân hàng tồn tại và phát triển. Xác định được điều đó,trong những năm
gần đây, Ngân hàng đã luôn chủ động tích cực quan tâm phát triển công tác huy
động vốn để thực hiện đáp ứng vốn cho khách hàng một cách nhanh nhất, thuận tiện
nhất và mở rộng hoạt động cho vay. Các hình thức huy động vốn cũng phong phú
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
24
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
hơn thích hợp với nhu cầu đa dạng của người gửi tiền, thực hiện chính sách lãi suất
linh hoạt, áp dụng ưu đãi về lãi suất, tăng cường quảng bá về sản phẩm dịch vụ,
tăng cường việc chăm sóc khách hàng. Đồng thời, chi nhánh MHB Hải Dương luôn
mở rộng quan hệ với các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế trong và ngoài Tỉnh,
phát huy được nội lực và tranh thủ được ngoại lực. Với vị trí và uy tín đã tạo dựng
qua nhiều năm, chi nhánh NH MHB Hải Dương đã hoàn thành tốt công tác huy
động vốn theo kế hoạch đã xây dựng, đóng góp vào thành tích huy động vốn chung
của toàn hệ thống ngân hàng MHB.
Các kết quả đạt được trong công tác huy động vốn của chi nhánh NH MHB Hải
Dương được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Tình hình huy động vốn tại NH MHB chi nhánh Hải Dương
trong các năm 2010, 2011, 2012.
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu
2010 2011 2012
Số
tiền

đồng với tỷ lệ tăng là 29,47%, năm 2012 là 2.308.065 triệu đồng, giảm 7.602 triệu
Nguyễn Đức Lý- K45H6 Luận Văn Tốt Nghiệp
25
Trường Đại học Thương Mại Khoa Tài Chính Ngân Hàng
đồng so với năm 2011 với tốc độ giảm 0,330%. Điều này cho thấy MHB Hải
Dương có chính sách thu hút KH tốt và đã dần tạo được uy tín đối với KH, tuy
nhiên do năm 2012 ngành ngân hàng chịu nhiều biến động do khủng hoảng kinh tế,
bên cạnh với cuộc đua lãi suất đã làm ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của
ngân hàng đã làm giảm nhẹ nguồn vốn huy động trong năm 2012.
Trong tống nguồn vốn huy động của Ngân hàng thì bộ phận tiền gửi từ dân cư
vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn so với tiền gửi từ tổ chức kinh tế.
Tiền gửi của TCKT năm 2010 đạt 535.142 triệu đồng, năm 2011 đạt 687.985
triệu đồng, năm 2012 đạt 659.645 triệu đồng. Như vậy, vốn huy động từ tiền gửi của
TCKT có xu hướng tăng qua các năm và hơi giảm trong năm 2012. Điều đó đã thể
hiện sự cố gắng của NH trong việc tiếp xúc khách hàng để thu hút tiền gửi đồng
thời chính sách lãi suất của NH rất tốt. Có được kết quả trên là do Ngân hàng đã
thực hiện mục tiêu duy trì và tăng trưởng kênh huy động vốn từ các TCKT, các
doanh nghiệp có tiềm năng tiền gửi thanh toán để có cơ cấu nguồn vốn ổn định và
chi phí thấp. Trong năm 2011 và 2012, ngân hàng thực hiện có kết quả các giải pháp
huy động vốn ở một số TCKT xã hội có tiền gửi lớn như : Công ty Điện lực Thành
phố Hải Dương, công ty TNHH Việt Tiên Sơn, Công ty Cổ phần Nhiệt Điện Phả
Lại,…đã duy trì mức tiền gửi TCKT bình quân ổn định, không bị phụ thuộc vào
thời điểm huy động hoặc phụ thuộc vảo một số khách hàng có số dư tiền gửi lớn,
tạo điều kiện để chi nhánh có thể giảm chi phí đầu vào.
Tiền gửi từ dân cư của NH cũng đều tăng qua các năm, năm 2010 là
1.253.435 triệu đồng, năm 2011 là 1.627.682 triệu đồng, năm 2012 đạt 1.648.420
triệu đồng. Không chỉ tăng tiền gửi từ dân cư về số tuyệt đối mà còn tăng cả về số
tương đối, năm 2010 là 70,08%, năm 2011 là 70,29% và năm 2012 là 71,42%. Điều
này cho thấy sự tiến bộ của chi nhánh MHB Hải Dương trong việc tiếp cận nguồn
vốn tốt, NH đã tạo được uy tín tốt với các KH. Nguồn vốn huy động được từ dân cư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status