3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa 1
Lời cam đoan 2
Mục lục 3
Danh mục các chữ viết tắt 5
Danh mục các bảng 6
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ 7
Mở đầu 8
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 15
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 15
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài 20
1.3. Tầm quan trọng của phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong phát
triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay 30
1.4. Vai trò của nhân tố giáo viên, đội ngũ giáo viên đối với thực
hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở 40
1.5. Đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở 48
1.6. Quản lí nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên 62
1.7. Tiểu kết chương 1 68
Chương 2: Thực trạng chất lƣợng đội ngũ giáo viên trung học cơ
sở ở Tây Nguyên trƣớc yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phổ
cập giáo dục trung học cơ sở. 70
2.1. Giới thiệu việc tổ chức khảo sát ĐNGV THCS các tỉnh Tây Nguyên. 70
2.2. Đặc trưng kinh tế - xã hội các tỉnh Tây Nguyên 73
2.3. Phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở Tây Nguyên 79
2.4. Thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở theo yêu cầu
thực hiện nhiệm vụ PCGD THCS 92
nghiệm thực tế của một số biện pháp 182
3.4.2. Tổ chức thử nghiệm một số biện pháp 184
3.5. Tiểu kết chương 3 193
Kết luận và khuyến nghị 195
Danh mục công trình của tác giả liên quan đến đề tài
200
Danh mục tài liệu tham khảo
201
Phụ lục 209 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ đầy đủ
BCH Ban chấp hành
BDTX Bồi dưỡng thường xuyên
BGH Ban giám hiệu
BTVH Bổ túc văn hoá
CBGD Cán bộ giảng dạy
CBQL Cán bộ quản lý
CĐSP Cao đẳng sư phạm
CNTT Công nghệ thông tin
CMC Chống mù chữ
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNV Công nhân viên
CNXH Chủ nghĩa xã hội
CSVC Cơ sở vật chất
Bảng 1.1: Chuẩn đánh giá giáo viên THCS
49
Bảng 2.1: Tiêu chí đặc trưng của giáo viên THCS ở Tây Nguyên
70
Bảng 2.2: Kết quả số phiếu khảo sát ĐNGV THCS
72
Bảng 2.3: Trạng thái chỉ số phát triển giáo dục và chỉ số phát triển kinh tế
các vùng kinh tế- xã hội của nước ta
77
Bảng 2.4: Chỉ số phát triển giáo dục và kinh tế các tỉnh Tây Nguyên
78
Bảng 2.5: Dân số và học sinh mẫu giáo, phổ thông các tỉnh Tây Nguyên
233
Bảng 2.6:
Số lượng trường, lớp, học sinh phổ thông trên địa bàn Tây
Nguyên
233
Bảng 2.7: Tỷ lệ đạt chuẩn, tỷ lệ đứng lớp của giáo viên phổ thông
234
Bảng 2.8: Tỷ lệ giáo viên người DTTS ở Tây Nguyên
234
Bảng 2.9: Tỷ lệ học sinh người DTTS ở Tây Nguyên
234
Bảng 2.10:Số lượng giáo viên THCS ở Tây Nguyên
234
Bảng 2.11, 2.12, 2.13, 2 .14: Các năng lực 1.1, 1.2, 1.3, 1.4 thuộc lĩnh vực
phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức
235
Bảng 2.15:Trình độ chuyên môn ĐNGV THCS Tây Nguyên
Bảng 3.4: Tổng hợp kết quả đánh giá của GV, tổ chuyên môn, BGH về
việc tự bồi dưỡng
243
Bảng 3.5: Kết quả thanh tra giáo viên THCS tỉnh Kon Tum 2001-2004
244
Bảng 3.6: Kết quả thử nghiệm dạy tiếng dân tộc
245
Bảng 3.7: Kết quả thử nghiệm về xây dựng tổ chức biết học hỏi
245
Danh môc c¸c biÓu ®å, s¬ ®å
7
Tên các biểu đồ, sơ đồ
Trang
Sơ đồ 1.1: Chất lượng ĐNGV THCS với yêu cầu PCGD THCS
48
Sơ đồ 1.2: Cơ cấu hợp lý cuả đội ngũ giáo viên
60
Biểu đồ 2.1: So sánh tỷ lệ % các mức độ của lĩnh vực phẩm chất
chính trị, tư cách đạo đức
119
Biểu đồ 2.2: So sánh tỷ lệ % các mức độ của lĩnh vực kiến thức
119
Biểu đồ 2.3: So sánh tỷ lệ % các mức độ của lĩnh vực kỹ năng
119
thì một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số dễ bị những lời phỉnh nịnh của kẻ 9
xấu làm cho mù quáng. Phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên phải gắn liền
với giữ vững an ninh, quốc phòng. Để phát triển Tây Nguyên trở thành vùng
biên cương của Tổ quốc có kết cấu hạ tầng và đảm bảo đời sống vật chất và tinh
thần cho nhân dân một cách bền vững thì phải lấy việc phát triển giáo dục là khâu
then chốt, trong đó phải thực hiện đồng bộ "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài”. Sự nghiệp này vừa giải quyết được nhiệm vụ trước mắt vừa thực
hiện có hiệu quả chiến lược kinh tế - xã hội - chính trị lâu dài ở Tây Nguyên.
Do đặc điểm địa lí, dân cư, cùng với những khó khăn về kinh tế - xã hội
nên giáo dục Tây Nguyên cho đến nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Những
vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên,
mạng lưới trường lớp còn phân tán, chất lượng giáo dục còn thấp. Nhiều nơi
trường lớp còn tạm bợ, đội ngũ giáo viên vừa thiếu, vừa yếu. Phát triển giáo
dục Tây Nguyên phải lấy "giáo dục cơ sở" làm trọng điểm. Đẩy mạnh phát
triển giáo dục ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay không chỉ để góp phần thực
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội mà còn thực hiện công bằng xã hội, hướng
đến một xã hội học tập, đồng thời còn thực hiện các chính sách dân tộc và
miền núi hiện nay.
Trong thời gian qua, các tỉnh Tây Nguyên đã hoàn thành công tác xoá
mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Mặc dù kết quả của công tác này chưa
thật sự bền vững nhưng cũng là điều kiện cần thiết để thực hiện phổ cập giáo
dục THCS và phát triển giáo dục ở các vùng khó khăn. Theo mục tiêu cả
nước phải hoàn thành PCGD THCS vào năm 2010. Chất lượng giáo dục thấp
như ở các tỉnh Tây Nguyên sẽ ảnh hưởng đến tiến độ PCGD THCS. Khó khăn
của công tác PCGD THCS ở Tây Nguyên hiện nay không chỉ là việc huy
động số người trong độ tuổi ra lớp mà ở chỗ đội ngũ làm công tác phổ cập
chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đáp ứng
mới, nhân cách mới, sức lao động mới. Chính vì vậy mà "phổ cập giáo dục có
bước khởi đầu mà không có kết thúc"[39, tr.1]. Mục tiêu PCGD THCS là để
nâng cao dân trí, làm cho hầu hết công dân đến độ tuổi 18 đều tốt nghiệp
THCS, tạo cơ sở đổi mới cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đối 11
với Tây Nguyên PCGD THCS còn tác động vào quá trình chuyển đổi nền
kinh tế tự cung, tự cấp với những tập quán làm ăn, sinh hoạt lạc hậu sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu phổ cập giáo dục phải gắn liền với các mục tiêu kinh tế - xã
hội. Không thể nâng cao chất lượng giáo dục trong điều kiện vật chất không
đảm bảo và ĐNGV không đáp ứng các yêu cầu về chất lượng. Nâng cao chất
lượng ĐNGV là yếu tố cần thiết để thực hiện phổ cập giáo dục, đồng thời
nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần phát triển giáo dục. Chất lượng
ĐNGV chưa đảm bảo thì việc thực hiện phổ cập giáo dục nói chung, phổ cập
giáo dục THCS nói riêng sẽ vô cùng khó khăn, và những mục tiêu phát triển
giáo dục ở Tây Nguyên khó mà thực hiện được. Vì vậy, nâng cao chất lượng
ĐNGV THCS là để nâng cao chất lượng giáo dục ở cấp học này, đồng thời
góp phần phát triển giáo dục ở các tỉnh Tây Nguyên đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp CNH, HĐH.
Nâng cao chất lượng ĐNGV phục vụ cho yêu cầu phổ cập giáo dục
THCS ở Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa đối với thực tiễn mà còn có ý
nghĩa đối với lí luận. Đội ngũ giáo viên là phạm trù của khoa học giáo dục và
khoa học quản lí giáo dục.
Giáo dục học lấy quá trình giáo dục- đào tạo con người làm đối tượng
nghiên cứu. Nhân tố GV, ĐNGV là thành tố của quá trình đào tạo. Không thể
có giáo dục mà không có vai trò của người thầy. Trong quá trình giáo dục,
ĐNGV đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục. Một
khi nhà giáo dục biết tổ chức quá trình giáo dục đảm bảo tính khoa học và sư
hợp, có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên cả về số lượng, trình độ, cơ cấu và tính gắn kết các thành viên của tổ chức
nhà trường theo tiêu chí tổ chức biết học hỏi phù hợp với hoàn cảnh Tây
Nguyên thì sẽ góp phần thực hiện tốt yêu cầu PCGD THCS ở các tỉnh Tây
Nguyên
.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
5.1. Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
5.2. Phân tích được thực trạng chất lượng ĐNGV THCS trên địa bàn các 13
tỉnh Tây Nguyên trong quá trình thực hiện PCGD THCS.
5.3. Tổng kết một số kinh nghiệm thực tiễn làm tốt việc nâng cao chất
lượng ĐNGV THCS ở Tây Nguyên đáp ứng yêu cầu PCGD THCS.
5.4. Đề xuất được các biện pháp nâng cao chất lượng ĐNGV THCS các
tỉnh Tây Nguyên để thực hiện PCGD THCS một cách bền vững.
5.5. Thử nghiệm, kiểm chứng tính hợp lý và khả thi của một số biện pháp.
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
6.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận.
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá và khái quát hoá các tri thức chủ yếu
trong các công trình nghiên cứu, các tác phẩm kinh điển trong và ngoài nước,
văn kiện của Đảng và Nhà nước ta liên quan đến đề tài để xây dựng được cơ
sở lý luận chủ yếu của vấn đề nghiên cứu.
6.2. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn.
Tác giả sử dụng một số phương pháp chủ đạo sau:
- Nghiên cứu các kinh nghiệm tiên tiến: Tổng kết những kinh nghiệm
tiên tiến trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên trong sự so sánh với các vùng của
đất nước, có chú ý kinh nghiệm quốc tế. Mục đích chủ yếu là đánh giá mức
phát triển kinh tế - xã hội của toàn vùng.
- Chất lượng ĐNGV THCS ở Tây Nguyên là nhân tố có ý nghĩa then
chốt cho việc thực hiện thành công nhiệm vụ PCGD THCS.
- Chất lượng ĐNGV THCS ở Tây Nguyên không ngừng được nâng cao
khi có các biện pháp quản lý tác động đồng bộ vào quy mô, vào trình độ, vào
cơ cấu, vào sự gắn kết của các thành viên trong đội ngũ theo các tiêu chí của
một tổ chức biết học hỏi.
9. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN.
9.1. Góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận về giáo viên, chất lượng
ĐNGV và vấn đề này được đặt vào hoàn cảnh PCGD THCS trên địa bàn các
tỉnh Tây Nguyên.
9.2. Đưa ra quan điểm, tiêu chuẩn và phương thức đánh giá chất lượng giáo
viên THCS và ĐNGV THCS ở Tây Nguyên phục vụ PCGD THCS.
9.3. Đưa ra các biện pháp thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng ĐNGV 15
THCS ở Tây Nguyên đáp ứng yêu cầu PCGD THCS.
9.4. Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho việc đề xuất các chính
sách và cơ chế quản lý đối với GV THCS ở Tây Nguyên, xây dựng tài liệu
bồi dưỡng thường xuyên cho GV THCS ở các tỉnh Tây Nguyên, đồng thời có
thể áp dụng cho các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa trong việc PCGD
THCS. 16
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu
không đủ trình độ chuyên môn nhất thiết không được giảng dạy". Ông Bush
coi giáo viên là những chuyên gia cao cấp, yêu cầu trả cho họ những đồng
lương xứng đáng, đồng thời ông cũng đòi hỏi giáo viên trau dồi trình độ
chuyên môn thường xuyên.
Công trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra
chất lượng giáo viên gồm năm mặt sau:
- Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn
mình dạy.
- Kĩ năng sư phạm, kể cả việc có được "kho kiến thức" về phương pháp
giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó.
- Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất
đặc trưng của nghề dạy học.
- Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác.
- Có năng lực quản lí, kể cả trách nhiệm quản lí trong và ngoài lớp
học.
Trong báo cáo tại hội thảo ASD Armidele năm 1985 - do UNESCO tổ
chức đã nói đến những vai trò của người giáo viên trong thời đại mới là: vai
trò người thiết kế, vai trò người tổ chức, vai trò người cổ vũ, vai trò người
canh tân. Để thực hiện những vai trò này thì phải nâng cao chất lượng người
giáo viên như sau:
- Các chương trình đào tạo giáo viên cần triệt để sử dụng các thiết bị
và phương pháp giảng dạy mới nhất.
- Giáo viên phải được đào tạo để trở thành nhà giáo dục hơn là người
thợ dạy (chuyên gia truyền đạt kiến thức).
- Việc dạy học phải thích nghi với người học chứ không phải buộc
người học tuân theo những qui định đặt sẵn từ trước theo thông lệ cổ truyền.
Diễn đàn giáo dục cho mọi người do UNESCO tổ chức tại Dakar,
Senégal tháng 4 năm 2000, đã coi chất lượng giáo viên là một trong mười yếu 19
về mọi mặt"[43, tr.170].
Về vấn đề phổ cập giáo dục trung học cơ sở, Phan Nam đã nêu ra các
giải pháp để thực hiện PCGD THCS trong đề tài "Thực trạng và giải pháp
cho việc phổ cập trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Huế". Một số bài
nghiên cứu đăng trên các báo như bài "Phổ cập giáo dục trung học cơ sở -
những giá trị và thách thức"[38, tr.1] của Nguyễn Văn Đản, bài " Phổ cập
trung học cơ sở ở Việt Nam-thực trạng và những thách thức"[1, tr.24] của
Phạm Thị Kim Anh, bài "Những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện
phổ cập giáo dục trung học cơ sở"[77, tr.95] của Lê Văn Phớt… đều nêu lên
những khó khăn của phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đặt ra vấn đề: làm
sao giải quyết những khó khăn như cơ sở vật chất, kinh phí, đội ngũ giáo viên
để vừa đảm bảo tiếp tục thực hiện tốt chương trình chống mù chữ, phổ cập
giáo dục tiểu học vừa thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở đúng tiến
độ, đảm bảo chất lượng. Để thực hiện đúng tiến độ và đạt được hiệu quả của
công tác phổ cập giáo dục nói chung, PCGD THCS nói riêng, nhiều người đã
đều cho rằng: chất lượng ĐNGV là yếu tố quan trọng.
Những nhà nghiên cứu giáo dục và quản lí giáo dục thực tiễn rất quan
tâm vấn đề nâng cao chất lượng ĐNGV. Trần Bá Hoành có bài Chất lượng
giáo viên đăng trên tạp chí Giáo dục tháng 11/2001. Ở bài này, tác giả đã đề
xuất cách tiếp cận chất lượng giáo viên từ các góc độ: đặc điểm lao động của
người giáo viên, sự thay đổi chức năng của người giáo viên trước yêu cầu đổi
mới giáo dục, mục tiêu sử dụng giáo viên, chất lượng từng giáo viên và chất
lượng đội ngũ giáo viên. Các thành tố tạo nên chất lượng giáo viên là phẩm
chất và năng lực. Theo Trần Bá Hoành, phẩm chất của giáo viên biểu hiện ở
thế giới quan, lòng yêu trẻ và lòng yêu nghề; năng lực người giáo viên bao
gồm: năng lực chẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học- giáo dục,
năng lực thiết kế kế hoạch DH/GD, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch
Trong thời kì đổi mới, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
được Đảng coi là một trong các giải pháp cho việc phát triển giáo dục- đào
tạo. Để giáo dục trở thành "quốc sách hàng đầu" trong sự nghiệp đổi mới đất
nước, Đảng coi "Phát triển đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, hợp lí về cơ cấu
và chuẩn về chất lượng" [25, tr.30] là nhiệm vụ và giải pháp để đáp ứng yêu 21
cầu của sự nghiệp phát triển đất nước vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả
giáo dục. Trước yêu cầu có tính cấp thiết này, đã có nhiều luận cứ về chất
lượng ĐNGV. Vấn đề chất lượng ĐNGV và nâng cao chất lượng ĐNGV
nhằm tăng cường chất lượng giáo dục - đào tạo là yêu cầu cấp thiết trong giai
đoạn hiện nay. Trần Kiều bàn về chất lượng giáo dục đã coi chất lượng đội
ngũ giáo viên là yếu tố hàng đầu đối với chất lượng giáo dục và đặt ra vần đề
nâng cao chất lượng giáo dục thì không thể không chú ý trước hết về chất
lượng đội ngũ giáo viên là đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và tay nghề
ngày càng được nâng cao [63, tr.7].
Trần Như Tỉnh trong công trình "Một số vấn đề về đào tạo, bồi dưỡng
giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và phổ
cập giáo dục trung học cơ sở [90, tr.349-361] đã phân tích về thực trạng của
đội ngũ giáo viên THCS trên cả nước, trình bày phương hướng đào tạo bồi
dưỡng giáo viên THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ
thông và PCGD THCS.
Tuy vậy, sự nghiên cứu về chất lượng đội ngũ giáo viên ở nước ta còn
thiếu những công trình phân tích mối quan hệ chất lượng giáo viên và chất
lượng ĐNGV, chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD - ĐT và chất
lượng nguồn lực con người nói chung, chất lượng ĐNGV và yêu cầu nâng
cao chất lượng ĐNGV. Đặc biệt còn quá ít những công trình nghiên cứu vấn
đề giáo viên gắn với sự phát triển giáo dục và phát triển kinh tế-xã hội của
từng vùng như Tây Nguyên.
bình và phê bình) để giúp nhau tiến bộ mạnh, tiến bộ mãi"[72, tr.114].
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong dịp đến thăm trường ĐHSP Hà
Nội vào năm 1971, đã nói: "Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những
nghề cao quý, sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo. Vì nó tạo ra những
con người, sáng tạo ra của cải cho xã hội" và đồng chí khẳng định thầy giáo là
"kỹ sư tâm hồn".
Hiểu theo nghĩa chính thống thì giáo viên là "chức danh nghề nghiệp
của người dạy học trong các trường phổ thông, trường nghề và trường mầm
non, đã tốt nghiệp các trường sư phạm sơ cấp, trung cấp, đại học hoặc sư
phạm mẫu giáo" [55, tr.169]. Nhiệm vụ của người giáo viên là truyền thụ 23
toàn bộ các kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình bộ môn của
bậc học, cấp học, ngoài ra còn có trách nhiệm phụ đạo cho học sinh kém và
bồi dưỡng học sinh giỏi, có năng khiếu. Người giáo viên không chỉ dạy tốt
các kiến thức chuyên môn mà còn phải chú ý dạy người, bồi dưỡng tư tưởng,
tình cảm, đạo đức để học sinh mình phát triển toàn diện [55, tr.169].
"Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường
hoặc các cơ sở giáo dục khác" và "Nhà giáo dạy ở các cơ sở giáo dục mầm
non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên"[76, tr.43].
Điều lệ trường Trung học, một văn bản dưới luật xác định một cách cụ thể :
Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, GV bộ môn, GV tổng phụ trách Đội thiếu niên
tiền phong Hồ Chí Minh cũng được gọi chung là giáo viên [14, tr.11].
Những quan niệm dẫn ra trên đây về giáo viên trong nghĩa rộng, hẹp có
khác nhau song đều có sự thống nhất cơ bản: Giáo viên là người làm nhiệm
vụ giảng dạy và giáo dục trong nhà trường phổ thông, trường nghề và
trường mầm non, hoặc các cơ sở giáo dục khác nhằm thực hiện mục tiêu
giáo dục là xây dựng và hình thành nhân cách cho người học đáp ứng yêu
cầu phát triển của xã hội.
1.2.4. Chất lƣợng.
Dưới góc độ triết học, bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng bao gồm mặt
chất và mặt lượng. Hai mặt đó thống nhất hữu cơ trong sự vật hiện tượng.
Trong quá trình phát triển tư tưởng triết học, chất lượng được xem là thuộc
tính tồn tại của sự vật. Triết học duy vật coi chất là “một phạm trù triết học
dùng để chỉ tính qui định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu
cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác”
[17, tr.264]. Chất của sự vật được biểu hiện qua “những thuộc tính”. Thuộc
tính chính là những tính chất, những trạng thái, những yếu tố cấu thành sự vật.
Đó là cái vốn có của sự vật từ khi sự vật được sinh ra hoặc được hình thành
trong quá trình vận động và phát triển của nó giúp chúng ta phân biệt sự vật
này với sự vật khác. Những thuộc tính đó của sự vật chỉ được bộc lộ qua các
mối liên hệ cụ thể với các sự vật khác. Lượng cũng là một phạm trù triết học.
Nó dùng để chỉ “tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô,
trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của 25
sự vật” [17, tr.266]. Lượng cũng là cái vốn có của sự vật, quy định sự vật ấy
là nó. Lượng của sự vật không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của con người.
Đồng thời lượng tồn tại cùng với chất của sự vật, nó mang tính khách quan.
Chất và lượng luôn có sự thống nhất trong bất kỳ sự vật hay hiện tượng nào.
Trong sự vật, quy định về lượng không bao giờ tồn tại nếu không có tính quy
định về chất và ngược lại. Sự biến đổi về chất là kết quả của quá trình tích luỹ
về lượng tạo nên những bước nhảy vọt về chất của sự vật hiện tượng. Chính
sự thống nhất và chuyển hoá này của mặt chất và mặt lượng đã làm cho sự
vật tồn tại trong sự vận động và phát triển không ngừng.
Để diễn đạt một cách phổ thông thì: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm
chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc, cái tạo nên bản chất sự vật,
làm cho vự vật này khác với sự vật kia” [101, tr.331].
tr.27]
.
Nguyễn Đức Chính cho rằng: “Một sản phẩm có chất lượng là sản
phẩm được làm ra một cách hoàn thiện, bằng các vật liệu quý hiếm và đắt
tiền. Nó nổi tiếng và tôn vinh thêm người sở hữu nó”[33, tr.27].
Nguyễn Đức Chính còn diễn giải khái niệm chất lượng chi tiết hơn.
Chẳng hạn theo ông chất lượng “là sự phù hợp với các tiêu chuẩn đã được
quy định trước”, chất lượng là “sự phù hợp với mục đích (hay đạt được các
mục đích đã đề ra trước đó)”, chất lượng với tư cách là “hiệu quả của việc đạt
được mục đích” hay là “sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng”. Những hướng
tiếp cận về chất lượng mà ông đề nghị có thể dẫn đến sự hiểu về chất lượng
tường minh như sau "một khái niệm mang tính tương đối, rộng, đa chiều, và
với những người khác nhau có thể có những ưu tiên khác nhau khi xem xét
nó”[33, tr.32].
Vận dụng quan điểm triết học và các lời bàn về chất lượng của các nhà
khoa học, trong luận án này, chúng tôi coi chất lượng:
1. là thuộc tính bản chất vốn có của sự vật và để phân biệt sự vật này
với sự sự vật khác.
2. là mức độ thể hiện của sản phẩm ấy đối với những chuẩn mực đã qui
định trước.
3. là sự đáp ứng việc thực hiện mục tiêu phát triển của xã hội qui định
với sự vật và thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng.
1.2.5. Chất lƣợng giáo viên, chất lƣợng ĐNGV.
1.2.5.1. Chất lượng giáo viên. 27
Từ tiếp cận chất lượng và khái niệm giáo viên, chúng tôi xây dựng khái
niệm chất lƣợng giáo viên: chất lượng giáo viên là sự tổng hợp những
thuộc tính của giáo viên đáp ứng yêu cầu của mục tiêu giáo dục trong từng