ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN HUY VỊ
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH
TRƢỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG
ĐÁP ỨNG NHU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
CỦA ĐỊA PHƢƠNG Ở VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ : 62140501
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC :
1. PGS.TS Đặng Bá Lãm
ĐH Đại học
ĐH&CN Đại học và Chuyên nghiệp
GD Giáo dục
GDCN Giáo dục chuyên nghiệp
GD-ĐT Giáo dục - Đào tạo
GDĐH & CN Giáo dục Đại học và Chuyên nghiệp
GDP Thu nhập quốc nội
GDQD Giáo dục quốc dân
GDTX Giáo dục thường xuyên
HĐH Hiện đại hóa
HDI Chỉ số phát triển con người
HDR Báo cáo phát triển con người
KH- CN Khoa học - Công nghệ
KHCBĐC Khoa học cơ bản đại cương
KT- XH Kinh tế -Xã hội NCKH Nghiên cứu khoa học
NCĐH&GDCN Nghiên cứu Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
NNL Nguồn nhân lực
NQTW Nghị quyết Trung ương
NSNN Ngân sách Nhà nước
NTCĐ Nhà trường cộng đồng
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PTCS Phổ thông cơ sở
PTGD Phát triển giáo dục
PTNNL Phát triển nguồn nhân lực
QLGD Quản lý giáo dục
QLNN Quản lý nhà nước
SP Sư phạm
4. Hình 2.4: Biểu đồ cột so sánh phân phối chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo CĐSP;
CĐCĐ & Ngoài SP của các địa phương vừa có trường CĐSP
vừa
có trường CĐCĐ……………………………………………….98
5. Hình 2.5: Biểu đồ phân phối chỉ tiêu tuyển sinh CĐSP và Ngoài SP của
10 trường CĐSP tiêu biểu……………………………………… 99
6. Hình 2.6: Biểu đồ cột so sánh phân phối chỉ tiêu tuyển sinh CĐSP
và Ngoài SP của 10 trường CĐSP tiêu biểu…………………… 99
7. Bảng 2.10: Bảng thống kê các chuyên ngành đào tạo ngoài SP tại các
trường CĐSP địa phương và các chuyên ngành đào tạo tại
các trường CĐCĐ hiện nay ………………………………… 103
8. Bảng 2.11: Thống kê chỉ tiêu tuyển sinh cao đẳng hệ chính quy
ở các trường CĐCĐ từ năm 2002 đến 2007……………… 104
9. Bảng 2.12: Thống kê các chỉ số tổng hợp của 9 trường CĐCĐ đầu tiên
trong thời kì đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam…… 104
10. Bảng 2.13: So sánh mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo của các cơ sở GDCN
mang thuộc tính nhà trường cộng đồng đang hiện diện ở
các tỉnh/thành phố…………………………………………. 107
Chương 3: (5 hình)
1. Hình 3.1: Mô hình đào tạo chuyển tiếp và liên thông của trường CĐCĐ. 137
2. Hình 3.2: Cơ cấu tổ chức trường CĐCĐ…………………………………144
3. Hình 3.3: Mô hình đào tạo tự- liên thông của trường Đại học địa phương.149
4. Hình 3.4: Sơ đồ cải tiến cơ cấu tổ chức trường CĐCĐ Bình Thuận………158
5. Hình 3.5: Sơ đồ tổ chức trường Đại học Phú Yên…………………………164
1
1.3.1. Vị trí và cơ chế quản lý của trường CĐ cộng đồng……………… 58
1.3.2. Sứ mệnh của Trường CĐ cộng đồng ……………………………… 60
1.3.3. Chương trình đào tạo của trường CĐ cộng đồng………………… 63
1.3.4. Sinh viên, học sinh, học viên của trường CĐ cộng đồng………… 69
1.3.5. Giảng viên/giáo viên của trường CĐ cộng đồng ………………… 72
1.3.6. Cơ cấu tổ chức của trường CĐ cộng đồng………………………… 73
1.3.7. Cơ sở vật chất (tài sản; tài chính) của trường CĐ cộng đồng……. 76
Chương 2 : Các mô hình trường Cao đẳng cộng đồng đã hình thành
2
ở Việt Nam
2.1. Trường CĐ cộng đồng ở Miền Nam Việt Nam trước 1975…… 80
2.1.1. Sự hình thành……………………………………………………… 80
2.1.2. Hoạt động ………………………………………………………… . 83
2.1.3. Những nét đặc trưng chính về mô hình trường ………………… 83
2.2. Trường CĐ cộng đồng ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và
hội
nhập quốc tế……………………………………………………… . 85
2.2.1. Chính sách phát triển giáo dục đại học và chuyên nghiệp trong thời
kỳ đổi mới…………………………………………………………. 85
2.2.1.1. Những chủ trương chung………………………………………… 85
2.2.1.2. Những chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển mô hình
trường CĐ cộng đồng……………………………………………… 86
2.2.2. Những lý do thực tiễn thuận lợi cho sự hình thành các trường CĐ
cộng đồng ở Việt Nam……………………………………………. 91
2.2.2.1 Những nghiên cứu thử nghiệm mô hình trường CĐ cộng đồng…. 91
2.2.2.2. Nhu cầu vĩ mô về PTNNL của các địa phương ………………… . 94
2.2.2.3. Nhu cầu đào tạo liên tục và liên thông học vấn, nghề nghiệp của
Chương 3: Hoàn thiện và phát triển mô hình trường Cao Đẳng cộng
đồng ở Việt Nam
3.1. Các nguyên tắc tiếp tục hoàn thiện và phát triển mô hình trường
CĐ cộng đồng ở Việt Nam……………………………………… 129
3.1.1. Nguyên tắc kế thừa………………………………………………. 129
3.1.2. Nguyên tắc thực tiễn 130
3.1.3. Nguyên tắc chất lượng và hiệu quả 130
3.1.4. Nguyên tắc bền vững……………………………………………. 132
3.2. Hai nhóm giải pháp tiếp tục hoàn thiện và phát triển mô hình
trường CĐ cộng đồng ở Việt Nam………………………………132
3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện mô hình trường CĐ cộng đồng như là
một loại hình trường Cao đẳng trong hệ thống GDQD ở Việt
Nam 132
3.2.1.1. Hoàn thiện mục tiêu đào tạo của trường CĐ cộng đồng 133
3.2.1.2. Cải tiến nội dung đào tạo của trường CĐ cộng đồng 133
3.2.1.3. Đổi mới phương pháp đào tạo của trường CĐ cộng đồng 136
3.2.1.4. Thực hiện quy trình tuyển sinh của trường CĐ cộng đồng theo nhu
cầu nhân lực địa phương 139
3.2.1.5. Phát triển đội ngũ giảng viên/giáo viên của trường CĐ cộng đồng 140
3.2.1.6. Tổ chức bộ máy quản lý của trường CĐ cộng đồng thích ứng với
cơ
chế quản lý của địa phương và tuân thủ quy định của Nhà nước 141
3.2.1.7. Tăng cường cơ sở vật chất của trường CĐ cộng đồng 146
3.2.2. Nhóm giải pháp phát triển các chức năng Cao đẳng cộng đồng ở các
trường ĐH địa phương 148
3.2.2.1. Phát triển các chức năng của trường CĐ cộng đồng bên trong các
trường ĐH địa
phương 148
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trường Cao đẳng cộng đồng (CĐCĐ) là một loại hình trường
chuyên nghiệp ra đời đầu tiên ở Hoa Kỳ đã hơn một thế kỷ. Trường
CĐCĐ xuất hiện sớm nhất là trường Joliet Junior College ở bang Illinois
của Hoa Kì vào năm 1901.
Xét về phương diện phát triển giáo dục của thế giới, có thể nói rằng,
trường CĐCĐ là một sự đóng góp quan trọng và độc đáo của Hoa Kỳ đối với
GDĐH của nhân loại. Tính nhân văn cao cả của loại hình trường này là ở chỗ
nó đã thực sự chuyển biến nhận thức thế giới từ chủ yếu xây dựng một nền
GDĐH hàn lâm , phần lớn chỉ phục vụ cho tầng lớp trên của xã hội, sang một
nền GDĐH đại chúng, phục vụ cho mọi người, một nhân tố hết sức quan
trọng trong việc thực hiện tư tưởng dân chủ và công bằng xã hội về giáo dục
nói chung và cơ hội tiếp cận nền GDĐH nói riêng.
Với một phương thức đào tạo rất linh hoạt, mềm dẻo, có tính hiệu quả
cao, loại hình trường CĐCĐ đã nhanh chóng phát triển khắp đất nước Hoa
Kỳ, rồi mở rộng sang Canada; và đặc biệt, vào những thập niên cuối của thế
kỉ XX , mô hình CĐCĐ đã được phát triển và nhân rộng sang khu vực Châu
Âu, vành đai Châu Á-Thái Bình Dương ( Australia, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn
Tờ trình của Bộ GD&ĐT vừa nói ở trên, một phần dựa trên cơ sở khoa
học của một chương trình nghiên cứu quốc tế do Viện Nghiên cứu ĐH &
GDCN thuộc Bộ GD&ĐT thực hiện, dưới sự tài trợ của ADB, vào những
năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX vừa qua. Đó là Dự án nghiên cứu
thiết lập mô hình trường đại học cộng đồng trong điều kiện kinh tế xã hội
Việt Nam; trong đó, theo đề nghị của các tỉnh, thành phố, chương trình đã
7
nghiên cứu tiền khả thi và đề xuất dự án thành lập thí điểm 5 trường Đại
học/Cao đẳng cộng đồng (Community College) đầu tiên của nước ta ở các địa
phương: Hải Phòng; Hà Tây; Thanh Hóa; Phú Yên; Đồng Tháp.
Chủ trương này của Bộ GD&ĐT còn có thể tìm thấy trong việc chuẩn
bị chuyển hướng chiến lược các trường CĐSP địa phương thành các trường
ĐH cộng đồng từ những năm 1995, 1996 , thể hiện qua thư của Thứ trưởng
Trần Xuân Nhĩ - Chủ nhiệm chương trình mục tiêu số 4 của Bộ GD&ĐT gởi
UBND các tỉnh ngày 5/2/1996 về việc xây dựng cơ sở vật chất các trường sư
phạm : “ Trong thời gian không xa các trường sư phạm của các tỉnh sẽ
chuyển thành các trường cao đẳng sư phạm đa hệ và có thể từng bước làm
nhiệm vụ của trường đại học cộng đồng; . . .”
Ngày 24/12/1996, Nghị quyết của Hội nghị lần thứ hai ban chấp hành
TW Đảng Khóa VIII “ về định hướng chiến lược phát triển giáo dục- đào tạo
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 ” ở
phần nhiệm vụ và mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2000 nêu
lên : “ Tiếp tục sắp xếp lại các trường đại học. Xây dựng một số trường đại
học trọng điểm. Xây dựng một số trường cao đẳng cộng đồng ở các địa
phương để đào tạo nhân lực tại chỗ ”.
Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg ngày 4/4/2001 của Thủ tướng Chính
phủ v/v phê duyệt “Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn
2001-2010” chỉ ra loại hình trường CĐ cộng đồng bên cạnh các loại hình
trường ĐH khác : “ Hệ thống trường đại học, cao đẳng bao gồm: các đại học
đẳng, ngày 17/3/1992 Bộ Giáo dục và đào tạo đã trình lên Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) xin chỉ đạo trong việc xây dựng các trường đại học
và cao đẳng cộng đồng tại các tỉnh, thành phố. Theo chủ trương này, các
trường đại học, cao đẳng cộng đồng sẽ là loại hình trường (tỉnh hoặc liên
9
tỉnh- vùng) đáp ứng nhu cầu thiết thực về đào tạo nhân lực (kể cả đào tạo giáo
viên) của cộng đồng tại địa phương. Đó là loại hình trường đa ngành, đào tạo
theo nhiều chương trình khác nhau, từ dạy nghề với thời gian một vài tháng
hoặc kéo dài tới 2 năm, đến đào tạo cao đẳng 2-3 năm. Đặc biệt theo thiết kế
trường đại học/cao đẳng cộng đồng còn có thể đào tạo một số chương trình
giai đoạn I đại học để tạo cơ hội cho sinh viên ở các địa phương có thể
chuyển tiếp về các đại học lớn.” [101, tr 88];
- “ Các trường đại học cộng đồng mở rộng cửa cho tất cả những ai vừa
làm vừa học siêng năng chăm chỉ” [7, tr 125];
- “ Đổi mới mạnh mẽ quản lý GD theo hướng địa phương hóa GD cần
phải có những chủ trương, giải pháp phát triển GD cho từng vùng , từng tỉnh
có những hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội riêng; (ví dụ phát triển mạnh
các trường tư thục, dân lập, bán công , kể cả Đại học công lập cộng đồng
cho các tỉnh vùng có khó khăn) ; khắc phục sự chênh lệch ngày càng xa giữa
các vùng, các tỉnh, huyện nhằm thực hiện công bằng trong GD” [147];
-Tại Diễn đàn quốc tế về GDĐH ngày 23/6/2004, lãnh đạo Bộ GD-ĐT
cho biết : “bài toán quan hệ giữa quy mô và chất lượng GDĐH được “giải”
theo hướng: từng bước thực hiện đại chúng hóa bằng cách đa dạng hóa trình
độ cũng như loại hình, tổ chức đào tạo, đi đôi với việc chuẩn hóa chất lượng
của từng dạng. . . Cụ thể là sẽ tăng cường các đại học mở và các chương trình
giáo dục từ xa . . . Bên cạnh đó là chú trọng phát triển loại trường cao
đẳng cộng đồng và các cơ sở đào tạo sau trung học (phổ thông) ngắn hạn.”
[181];
- Tại Hội thảo đổi mới GDĐH 11/2004, trong bài phát biểu của mình ,
2) Khi áp dụng mô hình trường CĐCĐ vào mỗi địa phương thì giải
quyết mối quan hệ giữa trường CĐCĐ, trường CĐSP và các cơ sở GDCN
khác của địa phương như thế nào là tối ưu? Có phải việc áp dụng mô hình
11
trường CĐCĐ là con đường thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của các
thiết chế giáo dục vốn có ở địa phương hay không?
3) Thực chất việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên từ cấp THCS trở xuống
cũng có thể được xem như là một nhiệm vụ cụ thể của các trường CĐCĐ ; và
trên thực tiễn đã có trường CĐCĐ đào tạo giáo viên cho địa phương. Hơn
nữa, gần đây các trường CĐSP địa phương đã ngày càng mở rộng nhiệm vụ
và hoạt động đào tạo ra ngoài lĩnh vực sư phạm một cách chủ quan hoặc
khách quan. Vậy, có thể chuyển đổi các trường CĐSP địa phương thành các
trường CĐCĐ hay không; để rồi từ đó, khi có đủ điều kiện, sẽ nâng cấp thành
các trường Đại học đa ngành, đa cấp thuộc các địa phương hay không?
Đó chính là những lý do có tính cấp thiết mà đề tài này chọn để nghiên
cứu và giải quyết.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình trường CĐCĐ trên
thế giới nói chung, và ở Việt Nam nói riêng, để có thể hoàn thiện việc áp
dụng và tiếp tục phát triển mô hình này ở các địa phương có điều kiện KT-
XH còn khó khăn ở Việt Nam.
3. Khách thể và Đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Hệ thống các cơ sở GDĐH ở địa phương gồm các trường CĐCĐ ,
trường CĐSP , trường ĐH thuộc địa phương.
Đối tượng nghiên cứu
Cơ cấu tổ chức, quản lý và cơ chế hoạt động trường CĐCĐ và trường
có chức năng CĐCĐ trong môi trường KT-XH của các địa phương ở Việt
Nam.
13
6.1. Về mặt lý luận : Tổng kết lý luận về các con đường hình thành, mô
hình tổ chức và hoạt động của trường CĐ cộng đồng, không đi sâu vào quản
lý quá trình đào tạo ở trường CĐ cộng đồng.
6.2. Về mặt thực tiễn : Khảo sát thực tiễn hoạt động đào tạo ở một số
trường CĐ cộng đồng, ĐH địa phương, CĐSP ở 3 miền của đất nước: trường
CĐCĐ Hải Phòng ; trường CĐCĐ Quảng Ngãi ; trường CĐSP Quảng Ngãi ;
trường CĐCĐ Tiền Giang; trường CĐSP Tiền Giang ; trường ĐH Tiền
Giang ; trường CĐSP Phú Yên ; trường ĐH Phú Yên ; trường CĐCĐ Bình
Thuận.
6.3. Thời gian nghiên cứu : từ tháng 12/2004 đến tháng 12/2008.
7. Những luận điểm bảo vệ
Luận điểm 1: Trường CĐCĐ (Community College) ngày nay không
những thích hợp với khu vực Bắc Mỹ, mà nó đã trở thành thành tựu lớn của
sự phát triển GDĐH trên thế giới trong thế kỷ XX; là một thực thể giáo dục
mang đậm tính nhân văn, dân chủ, khai sáng triết lý GDĐH đại chúng (Higher
education for mass) và làm tiền đề để tiến đến triết lý GDĐH trong xã hội
học tập (Higher education in learning society) của nền GD thế giới đương đại.
Hiện nay, mô hình trường CĐCĐ sẽ là một giải pháp tối ưu ( có tính
khả thi cao; tiết kiệm kinh phí đầu tư; được sự ủng hộ mạnh mẽ của xã hội)
cho bài toán đào tạo nguồn nhân lực tại các địa phương với chất lượng đáp
ứng yêu cầu của nền KT-XH Việt Nam- một quốc gia đang trên đường đẩy
nhanh tiến trình CNH, HĐH, phù hợp với “Bốn trụ cột giáo dục” thế giới
trong thế kỷ XXI mà UNESCO đã đề xướng.
Luận điểm 2: Áp dụng mô hình trường CĐCĐ, với các hoạt động
mang tính đặc trưng của nó , sẽ góp phần giải quyết có hiệu quả cao 5 vấn đề
còn bất cập của GDĐH&CN nước ta sau đây:
14
-Thứ nhất là , vấn đề liên thông đào tạo trong hệ thống GD sau trung
hiện nay; cụ thể, luận án đã đóng góp :
(1) hệ thống 7 giải pháp hoàn thiện mô hình trường CĐCĐ ở Việt Nam
với tư cách là một loại hình trường CĐ trong hệ thống GDĐH;
(2) xây dựng mô hình đào tạo chuyển tiếp và liên thông ở trường CĐCĐ;
(3) phát triển các chức năng CĐCĐ bên trong trường ĐH địa phương; đặc
biệt là, thực hiện mô hình đào tạo tự-liên thông của trường ĐH địa phương.
9. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
9.1. Cơ sở phương pháp luận của luận án:
Dựa trên quan điểm biện chứng, nhận thức rằng, sự biến đổi của
GDĐH các nước trên thế giới dẫn đến nền GDĐH đại chúng là xu thế tất yếu
sẽ trở thành hiện thực ở nước ta trong vài thập niên đầu của thế kỷ XXI nhằm
2 mục đích: thứ nhất là, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phù hợp phục
vụ trước mắt cho nhu cầu lao động của sự nghiệp CNH, HĐH nước nhà; thứ
hai là, trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa và thế giới đang bước vào kỷ
nguyên thông tin và kinh tế tri thức, nền GDĐH đại chúng Việt Nam có sứ
mệnh đầu tàu trong việc thực hiện các mục tiêu : “xây dựng nền giáo dục có
tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại theo định hướng xã hội chủ
nghĩa” (Chiến lược PTGD 2001-2010). Đó chính là quan điểm chỉ đạo của
Đảng và Nhà nước rất phù hợp với mục tiêu giáo dục thế giới trong thế kỷ
XXI do UNESCO đề xướng, thể hiện qua Bốn trụ cột : “Học để biết; Học để
làm; Học để chung sống; Học để làm người ”.
Mô hình trường Cao đẳng cộng đồng sẽ góp phần hiện thực hóa một
cách tích cực và khả thi triết lý GDĐH đại chúng ở Việt Nam.
9.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sẽ phối hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương
pháp nghiên cứu tài liệu; Phương pháp tổng kết kinh nghiệm; Phương pháp
16
phỏng vấn; Phương pháp quan sát; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp xử
lý số liệu bằng phần mềm thống kê toán học.
10. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cao đẳng cộng đồng (Community College) có thể được xem như là một
phát minh của Hoa Kỳ đóng góp vào sự phát triển chung của nền GDĐH thế
giới hơn một thế kỷ qua kể từ năm 1901, với sự xuất hiện đầu tiên của trường
Joliet Junior College ở bang Illinois; vì vậy, số công trình nghiên cứu nhiều
nhất thế giới về mô hình Cao đẳng cộng đồng là thuộc về các học giả Hoa Kỳ
kéo dài suốt thế kỷ XX.
Người ta ghi nhận các công trình nghiên cứu lớn có uy tín ở thập niên
30 thế kỷ XX là của Carnegie Foundation for the Advancement of Teaching
và của Ells, Walter C. theo thứ tự là tác giả của hai tác phẩm: “State Higher
Education in California” và “ The Junior College”. Ở thời kỳ cực thịnh của
mô hình CĐCĐ ở Hoa Kỳ vào những năm 60, 70, có nhiều tác giả nghiên
cứu sâu về những thành quả rực rỡ bất ngờ của mô hình CĐCĐ Hoa Kỳ như
Thornton, James W. với công trình “ The Community College”, hoặc Monroe,
Charles R. với tác phẩm “Profile of the Community College”.
Vào 2 thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, bắt đầu có nhiều sự tranh
luận về mục tiêu đào tạo của CĐCĐ là sẽ thiên về chức năng đào tạo chuyên
nghiệp phục vụ cộng đồng hay tiếp tục duy trì và phát huy chức năng ĐH
thông qua vai trò kết nối giữa GDPT với GDĐH và vai trò đào tạo chuyển
tiếp (transfer) của CĐCĐ, người ta thấy xuất hiện trên diễn đàn GDĐH Hoa
Kỳ hai tác giả xuất sắc là Cohen, A.M. và Brawer, F.B. Hai học giả Cohen và
Brawer đã có nhiều công trình nghiên cứu về CĐCĐ xuất bản trong thời kỳ
này nhằm bảo vệ và phát huy các mục tiêu truyền thống của CĐCĐ Hoa Kỳ
đã được xây dựng và không ngừng phát triển trong 8 thập kỉ liên tục của thế
kỉ XX; các tác phẩm tiêu biểu là: “The Two-year College Instructor Today”
(1977); “ The Collegiate Function of Community College: Fostering Higher
18
Learning Through Curriculum and Student Transfer”(1987); và “Strengtheing
Collegiate Education in Community Colleges” (1994).
tiếng Việt: “ Đại học cộng đồng Hoa Kỳ” [157] . Cuốn sách này đã trình bày
quá trình hình thành và phát triển của hệ thống CĐCĐ Hoa Kỳ; phân tích
tương đối đầy đủ những chức năng đặc trưng của mô hình này của Hoa Kỳ;
ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển GDĐH trên thế giới từ sau Chiến tranh
thế giới II; đồng thời đưa ra những khuyến nghị về những kinh nghiệm khi áp
dụng mô hình CĐCĐ vào mỗi quốc gia.
Khi đất nước bước vào giai đoạn thực hiện đổi mới nền KT-XH theo
tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng CSVN năm 1986; xuất phát từ nhu
cầu đổi mới GDĐH để đáp ứng kịp thời nhu cầu nhân lực phục vụ nền kinh tế
chuyển đổi của Việt Nam, vào những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ XX,
Viện Nghiên cứu ĐH&GDCN của Bộ GD&ĐT đã đi đầu trong việc nghiên
cứu và ứng dụng mô hình CĐCĐ ở Việt Nam. Có nhiều tác giả nghiên cứu
vấn đề này như : Đặng Bá Lãm, Lê Đông Phương, Phạm Quang Sáng, Đặng
Văn Định, Nguyễn Việt Hùng, Trần Khánh Đức, Mai Văn Tỉnh, Đặng Xuân
Hải ; trong đó đáng chú ý nhất là đề tài “Dự án nghiên cứu thiết lập mô
hình trường đại học cộng đồng trong điều kiện KT-XH Việt Nam” năm 1995
do Đặng Bá Lãm làm chủ nhiệm .
Từ năm 2001trở lại đây, có một số tác giả như: Trần Phước Đường, Lê
Quang Minh, Phạm Hữu Ngãi, Ngô Tấn Lực, Phan Văn Nhẫn, khi nghiên
cứu các giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho đồng bằng sông Cửu Long đã
xem mô hình CĐCĐ là một giải pháp căn bản được lựa chọn dựa trên những
kết quả hoạt động có hiệu quả ban đầu của 9 trường CĐCĐ thí điểm ở Việt
Nam được thành lập từ năm 2000.
Những công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên chủ yếu nghiên
cứu ban đầu mô hình CĐCĐ trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm
mô hình CĐCĐ Bắc Mỹ có tính cách tư biện, rồi đề xuất thí điểm mô hình ấy