ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ PHƯƠNG HIỀN PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRUNG TÂM
GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Trọng Hậu HÀ NỘI – 2011
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1
CNH-HĐH
:
Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
2
GV
:
Giáo viên
3
CBQL
:
Cán bộ quản lý
4
CSVC
:
Cơ sở vật chất
5
GDP
:
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3
- Khách thể nghiên cứu
3
- Đối tượng nghiên cứu
3
5. Giả thuyết nghiên cứu
3
6. Phạm vi nghiên cứu
3
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
4
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
4
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
4
- Nhóm phương pháp dùng các thuật toán, thống kê
4
8. Cấu trúc luận văn
17
1.3.1. Mục tiêu của giáo dục thường xuyên
17
1.3.2. Vị trí của trung tâm GDTX
17
1.3.3. Nhiệm vụ và quyền hạn của trung tâm GDTX
18
1.3.4. Vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của CBQL Trung tâm GDTX
19
1.4. Nội dung phát triển đội ngũ CBQL trung tâm GDTX
20
1.4.1. Quy hoạch, tạo nguồn cán bộ quản lý
20
1.4.2. Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, miễm nhiệm cán bộ quản
lý
22
1.4.3. Thanh tra, kiểm tra, đánh giá cán bộ quản lý
24
1.4.4. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý
25
1.4.5. Tạo chính sách, môi trường phát triển cán bộ quản lý
26
1.5. Những yêu cầu phát triển đội ngũ CBQL trung tâm GDTX
trong giai đoạn hiện nay
27
1.5.1. Xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL đảm bảo mục tiêu đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu và chuẩn hóa
27
1.5.2. Phát triển đội ngũ CBQL trung tâm GDTX nhằm đáp ứng các
quy định của Chuẩn Giám đốc trung tâm GDTX.
2.1.2.6. Chất lượng giáo dục
38
2.1.2.7. Thành tích phát triển giáo dục
43
2.2. Thực trạng quy mô đào tạo, chất lƣợng GDTX tại thành phố
Hải Phòng
47
2.2.1. Quy mô đào tạo GDTX
47
2.2.2. Chất lượng học viên GDTX
50
2.3. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trung tâm GDTX tại thành
phố Hải Phòng
50
2.3.1. Về số lượng, độ tuổi, cơ cấu của đội ngũ cán bộ quản lý trung
tâm GDTX
50
2.3.2. Trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học của
đội ngũ CBQL Trung tâm GDTX
53
2.3.3. Năng lực quản lý của CBQL Trung tâm GDTX tại thành phố
Hải Phòng
54
2.3.4. Đánh giá chung chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trung tâm
GDTX tại thành phố Hải Phòng
61
2.4. Thực trạng về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý Trung tâm
GDTX tại thành phố Hải Phòng
64
2.4.1. Công tác quy hoạch
78
3.1.1. Nguyên tắc tính kế thừa và phát triển
78
3.1.2. Nguyên tắc tính phù hợp
78
3.1.3. Nguyên tắc tính hiệu quả
78
3.2. Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý Trung tâm GDTX
tại thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
78
3.2.1. Hoàn thiện quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý trung tâm GDTX
79
3.2.2. Đổi mới công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, miễn
nhiệm CBQL Trung tâm GDTX
82
3.2.3. Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, đánh giá đội
ngũ CBQL Trung tâm GDTX
87
3.2.4. Đào tạo, bồi dưỡng CBQL TT GDTX theo hướng chuẩn hóa
91
3.2.5. Bổ sung, hoàn thiện chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng,
kỷ luật phù hợp với thực tiễn địa phương
97
3.2.6. Thực hiện phân cấp, đề cao vai trò tự chủ của Trung tâm GDTX
99
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
102
3.4. Thăm dò về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
vững. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó cán bộ quản lý giáo
dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng.
Cán bộ quản lý là một trong nhân tố quyết định sự tồn vong, thịnh suy của
mọi quốc gia và sự thành công, thất bại của công việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất
quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, trong tác phẩm “Sửa
đổi lối làm việc”, Người đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”.
“Muốn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” [40, tr40].
Giáo dục không thể đạt chất lượng nếu không có đội ngũ cán bộ quản lý có
chất lượng. Chỉ thị 40- CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục cũng chỉ rõ: “Nhà giáo
và CBQL giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng”. Do vậy, muốn
phát triển giáo dục - đào tạo, điều quan trọng trước tiên là phải chăm lo phát
triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục.
Phát triển đội ngũ CBQL của ngành giáo dục - đào tạo nói chung và phát
triển đội ngũ CBQL Trung tâm giáo dục thường xuyên nói riêng là vấn đề quan
trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Vấn đề này đã được Đảng và Nhà
nước đặc biệt quan tâm, Ban Bí thư có Chỉ thị 40 – CT/TW ngày 15 tháng 6
năm 2004 về xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Từ Chỉ thị
này, ngày 11 tháng 01 năm 2005 Thủ tướng chính phủ ra Quyết định số
09/2005/QĐ -TTg về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội 2
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005- 2010”, với mục tiêu
tổng quát: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng
chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,
đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm
nghề nghiệp, tay nghề của nhà giáo, thông qua việc quản lý, phát triển đúng định
hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
nhân lực; đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp đẩy mạnh công
ngũ CBQL Trung tâm GDTX tại thành phố Hải Phòng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Hệ thống hoá cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ CBQL Trung tâm GDTX.
3.2. Đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ CBQL Trung tâm GDTX tại thành
phố Hải Phòng trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2011.
3.3. Đề xuất những biện pháp phát triển đội ngũ CBQL Trung tâm GDTX tại
thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ cán bộ quản lý Trung tâm GDTX.
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý Trung tâm GDTX tại thành phố Hải
Phòng.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Đội ngũ CBQL Trung tâm GDTX có vai trò quan trọng trong việc tổ
chức, quản lý và điều hành các hoạt động giáo dục ở Trung tâm GDTX.
Nếu triển khai đồng bộ các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
theo lý thuyết quản lý và phát triển nguồn nhân lực hiện đại thì sẽ xây dựng và
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Trung tâm GDTX tại thành phố Hải
Phòng đáp ứng được những yêu cầu phát triển giáo dục và đào tạo trong giai
đoạn hiện nay.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
Trung tâm GDTX thành phố Hải Phòng trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm
2010, từ đó đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý Trung tâm
GDTX tại thành phố Hải Phòng đến năm 2015.
4
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Giáo dục là một lĩnh vực mà ở bất kỳ thời đại nào, quốc gia nào cũng dành
được nhiều sự quan tâm của toàn xã hội. Ngày nay, tất cả các nước trên thế giới
đều nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục đối với sự phát triển
của quốc gia nên giáo dục được đặt ở vị trí trung tâm trong các chiến lược phát
triển đất nước. Để phát triển giáo dục cần nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan
trọng là đội ngũ cán bộ quản lý.
Vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là một vấn đề quan
trọng, thu hút sự nghiệp nghiên cứu của nhiều cơ quan và nhà khoa học. Đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu và có những thành tựu quan trọng về vấn đề này.
Với góc độ lý luận quản lý giáo dục, các nhà khoa học Việt Nam đã tiếp cận
quản lý trường học chủ yếu dựa trên nền tảng lý luận giáo dục học. Phần lớn các
cuốn giáo dục học của các tác giả Việt Nam có đề cập tới chất lượng và phương
thức nâng cao chất lượng cán bộ quản lý trường học thông qua việc phân tích
thành tố lực lượng giáo dục, cụ thể như cuốn Phương pháp luận khoa học giáo
dục của Phạm Minh Hạc - Tổng chủ biên - 1981 - Viện Khoa học giáo dục ấn
hành; Quá trình sư phạm - Bản chất, cấu trúc và tính quy luật của tác giả Hà Thế
Ngữ; Giáo dục học đại cương của các tác giả Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê;
Tuyển tập Giáo dục học - Một số vấn đề lý luận thực tiễn của tác giả Hà Thế
Ngữ; Kiểm định chất lượng giáo dục đại học của tác giả Nguyễn Đức Chính
(chủ biên); các công trình như: “Đại cương về quản lý”, “Quản lý đội ngũ” của
các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc.
Một số luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục cũng đã nghiên cứu về vấn đề
phát triển đội ngũ CBQL giáo dục như đề tài: “Các giải pháp quản lý của Phòng
Giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học” của
tác giả Nguyễn Văn Toàn, năm 2006; đề tài: “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý 7
Theo Henry Fayon (1841 – 1925), “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu
của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo
(lãnh đạo) và kiểm tra”. Tác giả còn khẳng định “Khi con người lao động hợp
tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn
thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải làm là mắt lưới dệt nên mục tiêu
của tổ chức”.
Theo H. Koontz, “Quản lý là hoạt động đảm bảo phối hợp những nỗ lực
cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức trong một môi trường và đối với
những điều kiện nguồn lực cụ thể” [28, tr.2].
Theo Mary Parker Pollett, “Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc
thông qua người khác”.
Theo từ điển Bách khoa về Giáo dục học, khái niệm quản lý nhà nước về
giáo dục được giải nghĩa là việc “Thực hiện công quyền để quản lý các hoạt
động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội”.
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra định nghĩa
kinh điển nhất về quản lý là: Quá trình tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ
thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (đối tượng quản lý) - trong một tổ chức -
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của mình [11, tr.1].
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý
đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Trong giáo dục nhà
trường đó là tác động của người quản lý đến tập thể giáo viên và các lực lượng khác
nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục.
Các chức năng cơ bản của quản lý:
Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí : quản lý là hệ
thống gồm bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá (planning); tổ chức
(organizing); lãnh đạo/chỉ đạo (Leading) và kiểm tra (controlling).
viên trong tập thể hăng hái làm việc.
Chức năng kiểm tra là việc đánh giá và điều chỉnh các hoạt động nhằm
đạt tới các mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Kiểm tra là đánh giá kết quả của việc
Kế hoạch
hóa
Chỉ đạo
Tổ chức
Kiểm tra
Thông
tin 9
thực hiện các mục tiêu của tổ chức nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, hạn chế để
điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo. Để công tác kiểm tra đánh giá
chính xác, sử dụng kết quả đánh giá sao cho có lợi cần xây dựng các tiêu chí
(chuẩn) để thực hiện kiểm tra đánh giá, sử dụng các phương pháp phù hợp, thu
thập thông tin đầy đủ, sau đó phân tích thông tin để đánh giá.
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý và có mối quan hệ
biện chứng, tạo sự kết nối giữa các chu trình theo hướng phát triển. Trong đó
thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các
chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định trong quản lý.
Từ những khái niệm trên, ta có thể rút ra kết luận chung về quản lý như
sau: Quản lý là quá trình đạt tới mục tiêu trên cơ sở thực hiện các hoạt động
(chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo/lãnh đạo hoặc quản lý là quá trình
tác động có định hướng, có mục đích, có tổ chức, có lựa chọn của chủ thể quản
lý đến đối tượng (khách thể) quản lý nhằm giữ cho sự vận hành của tổ chức
được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao
nhất.
1.2.1.2. Quản lý giáo dục
ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ
sở giáo dục khác;
+ Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà
giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản,
in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng,
chứng chỉ;
+ Tổ chức, QL việc bảo đảm chất lượng GD và kiểm định chất lượng GD;
+ Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo
dục;
+ Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;
+ Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, QL nhà giáo và cán bộ
QLGD;
+ Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp GD;
+ Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ
trong lĩnh vực giáo dục;
+ Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục; 11
+ Quy định việc tặng các danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao
đối với sự nghiệp giáo dục;
+ Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết
khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục [38, tr.72-
74].
1.2.1.3. Quản lý nhà trường
Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường
hay cơ sở giáo dục là hạt nhân của hệ thống giáo dục quốc dân, là nơi tổ chức
các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện được mục tiêu giáo dục. Khi nghiên cứu
về nội dung quản lý giáo dục, khái niệm đơn vị giáo dục (nhà trường) được hiểu
là tổ chức cơ sở mang tính Nhà nước - Xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục -
Theo Leap, trong thực tế, mỗi một cán bộ sẽ cần có những kiến thức, kĩ
năng và khả năng không ngừng được nâng cao để thực thi tốt không những công
việc hiện hành mà cả những công việc trên các cương vị chức nghiệp về sau cao
hơn có thể có của mình. Sự chuẩn bị lâu dài trong nghề nghiệp của một nhân
viên cho những cương vị này chính là sự phát triển đối với nhân viên.
Theo tác giả Trần Khánh Đức, Phát triển nguồn nhân lực có thể coi là một
lĩnh vực của “quản lý nguồn nhân lực”. Phát triển nguồn nhân lực liên quan đến
Giáo dục - Đào tạo, sử dụng những tiềm năng con người và tiến bộ KT-XH. Vì
vậy, xét về mặt tổng thể, phát triển thường nhấn mạnh vào tương lai. Nó thể hiện
sự đầu tư lâu dài cho phát triển nghề nghiệp của mỗi cán bộ, công chức, viên
chức nhằm đáp ứng những nhu cầu thay đổi của tổ chức. Khác với đào tạo (được
coi là sự bổ trợ ngắn hạn hơn cho quá trình phát triển và thường nhấn mạnh vào
công việc hiện hành); hoặc giáo dục (mà trọng tâm có thể vượt ra khỏi khuôn
khổ công việc hiện hành, trong tương lai) thì phát triển có một phạm vi rộng
hơn. Nó có thể không nhấn mạnh vào công việc cả trong hiện tại cũng như
tương lai nhưng lại nhấn mạnh nhiều hơn vào công việc đáp ứng những nhu cầu,
đòi hỏi trong tương lai tương đối dài của tổ chức. Kết quả mà phát triển mang lại
khó có thể trực tiếp thấy được ngay mà thường được đánh giá trong tương lai. 13
Trong quản lí nguồn nhân lực, các nhà quản lí quan tâm đến việc cung cấp
và nâng cao các kiến thức và kỉ năng cho nhân viên của mình để cải thiện năng
lực thực thi công việc, trong hiện tại cũng như trong tương lai. Phát triển có thể
xem như một sự thúc đẩy nhân viên có những khả năng vượt ra khỏi những đòi
hỏi của công việc hiện hành. Nó thể hiện những nỗ lực nâng cao năng lực nhân
viên để giải quyết những nhiệm vụ được giao khác nhau, mang lại lợi ích cho tổ
chức cũng như cho cá nhân. Thông qua quá trình phát triển, nhân viên cũng như
người lãnh đạo với những kinh nghiệm và khả năng thích ứng sẽ tăng cường
năng lực của tổ chức mình để thích nghi với sự thay đổi của môi trường.
+ Phải độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô
tư, không thành kiến khiến cho cán bộ khỏi bị bỏ rơi.
+ Phải có tinh thần rộng rãi mới có thể gần gũi với những người mình
không ưa.
+ Phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn
kém, giúp cho tiến bộ.
+ Phải sáng suốt mới khỏi bị vu vơ bao vây mà xa cách cán bộ tốt.
+ Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần mình”.
Tóm lại, CBQL là chủ thể quản lý, là người có chức vụ trong tổ chức
được cấp trên ra quyết định bổ nhiệm; người giữ vai trò dẫn dắt, tác động, ra
lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu của đơn vị. Người
cán bộ quản lý phải có phẩm chất và năng lực nổi trội hơn người khác, là tấm
gương cho mọi người noi theo.
15
1.2.2.3. Đội ngũ CBQL Trung tâm GDTX
Đội ngũ cán bộ quản lý gồm tất cả những người có chức vụ trong các tổ
chức, đơn vị trong hệ thống chính trị - xã hội của đất nước. Đội ngũ CBQL được
phân nhiều cấp. Đội ngũ CBQL cấp TW, cấp địa phương (tỉnh, huyện), cấp cơ
sở.
Đội ngũ CBQL là lực lượng nòng cốt của hệ thống chính trị- xã hội đất
nước, trong việc lãnh đạo, quản lý kinh tế, văn hóa, giáo dục…Đội ngũ CBQL
luôn được quan tâm xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng để đủ phẩm chất, trình độ và
năng lực quản lý, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Đội ngũ CBQL giáo dục
là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp GD-ĐT. Đội
ngũ CBQL có vai trò tổ chức, điều khiển các hoạt động của các đơn vị giáo dục.
Đồng thời tác động đến ý thức của khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư
phạm của hệ thống GD-ĐT đạt kết quả mong muốn.
chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú
trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của
nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự
nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những
đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày
11/01/2005 về việc phê duyệt Đề án "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010”, trong đó chỉ ra các
giải pháp để phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục, đó là : “Đổi mới và
nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục”; giải
pháp này đã nêu nội dung: Đổi mới nội dung chương trình, phương pháp đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuyên nghiệp hoá đội ngũ
cán bộ quản lý giáo dục các cấp; Rà soát, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ quản lý
giáo dục các cấp phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý giáo dục; xây
dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ quản lý
giáo dục. 17
Như vậy, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý TTGDTX là một quá trình
liên tục nhằm hoàn thiện, “cách mạng hóa” tình hình để nâng cao chất lượng
đội ngũ theo kịp sự đổi mới, phát triển của nhiệm vụ giáo dục và đáp ứng
được những nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Từ những vấn đề trên, ta có thể quan niệm: Phát triển đội ngũ cán bộ
quản lý Trung tâm GDTX là quá trình sử dụng các biện pháp quản lý đội ngũ
nhằm bảo đảm cho đội ngũ CBQL giáo dục phát triển cả về số lượng và chất
lượng, đồng bộ về cơ cấu để đáp ứng nhu cầu giáo dục và đào tạo trong giai
đoạn hiện nay.
1.3. Trung tâm GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1. Mục tiêu của giáo dục thường xuyên
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin -
truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn;
chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ; chương trình dạy tiếng dân tộc
thiểu số cho cán bộ, công chức công tác tại vùng dân tộc, miền núi theo kế hoạch
hàng năm của địa phương;
- Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học phổ
thông.
2. Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề xuất với
sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình và
hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng.
3. Tổ chức các lớp học theo các chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung
học cơ sở và trung học phổ thông quy định tại điểm d khoản 1 của Điều này dành
riêng cho các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người tàn tật, khuyết tật, theo
kế hoạch hàng năm của địa phương.
4. Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản
xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập.
5. Nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên.