Các biện pháp quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khoá cho học sinh các trường trung học phổ thông thành phố Nam Định - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
TRẦN THỊ LAN DUNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN
VỊ THÀNH NIÊN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS- TS. NGUYỄN VÕ KỲ ANH HÀ NỘI - 2008
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU Ì
1. Lý do chọn đề tài Ì
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

2.3.2. Vấn đề quản lý giáo dục sức khoe sinh sản vị thành niên thông qua hoạt
động ngoại khoa trong các trường trung học phổ thông thành phố Nam
Định 46
2.33. Những tồn tại và nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên 54
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH
SẢN VỊ THÀNH NIÊN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH 58

3. 1. Cơ sở lý luận đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản
vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khoa 58
3.1.1. Cơ sở lý luận 58
3.1 .2. Cơ sở thực tiễn 61
3.2. Hệ thống các biện pháp quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
thông qua hoạt động ngoại khoa trong trường Trung học phổ thông
thành phố Nam Định 61
Biện pháp 1: Giáo dục nâng cao nhận thức và bồi dưỡng động cơ tham gia 61
Biện pháp 2: Quản lý xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động 63
Biện pháp 3: Quản lý nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành 66
Biện pháp 4: Quản lý thành phần tham gia giáo dục 68
Biện pháp 5: Quản lý quá trình tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên 70
Biện pháp 6: Quản lý các điều kiện tổ chức 71
Biện pháp 7. Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá 74
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp 76
3.4. Thẩm định tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 78

KẾT LUẬN VÀ KHUYÊN NGHỊ 81

1, Kết luận 81
2. Khuyến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Lây qua đường tình dục
13. NT
Nhà trường
14. QHTD
Quan hệ tình dục
15. SK
Sức khoẻ
16. SKBMTE
Sức khoẻ bà mẹ trẻ em
17. SKSS
Sức khoẻ sinh sản
18. SKTD
Sức khoẻ tình dục
19. SKSS VTN
Sức khoẻ sinh sản vị thành niên
20. SK VTN
Sức khoẻ vị thành niên
21. THPT
Trung học phổ thông
22. THCS
Trung học cơ sở
23. TN
Thanh niên
24. TNXH
Tệ nạn xã hội
25. VTN
Vị thành niên

các kỹ năng sống như ra quyết định, giải quyết vấn đề, xác định các giá trị, sự
thuyết phục trong quan hệ tình dục, trong hôn nhân
Ở Việt Nam nói chung và Tỉnh Nam Định nói riêng hiện nay cũng đang
phải đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến sức khoẻ sinh sản như vấn đề có
thai ngoài ý muốn, tình trạng nạo phá thai cao ở lứa tuổi vị thành niên, tệ nạn
mại dâm Theo Bộ y tế, tình trạng nạo hút thai ở lứa tuổi vị thành niên đang
gia tăng.
Các kết quả điều tra gần đây cho thấy đối tượng vị thành niên còn thiếu
kiến thức hiểu biết về sức khoẻ sinh sản, mặc dù đa số vị thành niên là học
sinh đang theo học ở các nhà trường từ THCS đến THPT. Nguyên nhân của
tình trạng trên là do các hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên
trong nhà trường phổ thông nói chung còn ít, lẻ tẻ, mới chỉ lồng ghép, tích hợp
trong các môn Sinh học, Giáo dục công dân, Địa lý, Ngữ văn. Việc giáo dục
sức khoẻ sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp mang tính bột phát, cục bộ chưa có kế hoạch chi tiết. Hiệu quả của các
hoạt động trên đều chưa được kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm. Công tác
quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên trong các trường còn chậm
đổi mới, kém hiệu quả.
Từ cơ sở lý luận và tình hình thực tiễn trên, tôi chọn đề tài “Các biện
pháp quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động
ngoại khoá cho học sinh các trường THPT thành phố Nam Định” làm luận
văn tốt nghiệp cao học.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên
thông qua hoạt động ngoại khoá trong các trường THPT thành phố Nam Định.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành

ở bậc học THPT. Tiến hành áp dụng, so sánh, đối chiếu tại một số trường
THPT của Nam Định.

7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý giáo dục sức khoẻ
sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khoá, thực trạng quản lý giáo
dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khoá và xây
dựng biện pháp quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên thông qua
hoạt động ngoại khoá cho học sinh các trường trung học phổ thông thành phố
Nam Định.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện đề tài, kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống những
vấn đề lý luận có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài qua tham
khảo: Luật giáo dục, các văn kiện của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào
tạo, sách báo, tài liệu khoa học trong nước và nước ngoài có liên quan.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng mẫu phiếu điều tra với học
sinh, giáo viên, cán bộ quản lý để nắm được thực trạng hoạt động giáo dục sức
khoẻ sinh sản vị thành niên, và công tác quản lý hoạt động.
+ Thống kê, phân tích tổng hợp, xử lý số liệu sau điều tra.
+ Các phương pháp hỗ trợ: Trao đổi kinh nghiệm, lấy ý kiến chuyên
gia, phỏng vấn học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý, phụ huynh học sinh.
9. Cấu trúc luận văn 5
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và khuyến nghị, nội dung luận
văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành

- Trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Harold Koontz lại
nhấn mạnh “Môi trường và hiệu quả kinh tế - xã hội” phải là mục tiêu của hoạt
động quản lý, ông cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo
sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ
chức). Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó
con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật
chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [29, tr.33]. 7
Ở nước ta, khoa học quản lý còn khá mới mẻ, chỉ mới phát triển mạnh
trong vài mươi năm gần đây. Tuy nhiên đến nay, khoa học quản lý nói chung,
khoa học quản lý giáo dục nói riêng đã khẳng định vai trò và hiệu quả kinh tế -
xã hội của nó. Về khái niệm quản lý, cũng đã có không ít tác giả đề cập đến,
chỉ xin dẫn một số ý kiến tiêu biểu, có nhấn mạnh đến khách thể quản lý:
Trong cuốn “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” cố giáo sư
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là sự tác động của chủ thể những
người quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm
thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [27, tr.32].
Hai tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc nhấn mạnh quản
lý là chức năng đặc biệt của mọi tổ chức: “Hoạt động quản lý là tác động có
định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể
quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành
và đạt được mục đích của tổ chức” [21, tr.1].
Như vậy, tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau về quản lý nhưng các tác
giả đều thống nhất quan điểm về hoạt động quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động chuyên biệt, có hƣớng đích của chủ thể quản
lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt
ra của một tổ chức/một hệ thống với hiệu quả cao nhất.
1.1.2. Các chức năng cơ bản của quản lý

cá nhân, một nhóm hoặc tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và
tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Mọi kết quả hoạt
động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến
hành điều chỉnh, uốn nắn.
Bốn chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, luôn đan xen,
phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành một chu trình của quản lý.
Sơ đồ 1: Các chức năng quản lý

KẾ HOẠCH
THÔNG TIN
KIỂM TRA
CHỈ ĐẠO
TỔ CHỨC 9
Để vận dụng khái niệm quản lý và các chức năng của quản lý vào trong
công tác quản lý cơ sở đào tạo của trường THPT, chúng ta còn cần khảo sát
các khái niệm cụ thể hơn là quản lý giáo dục và quản lý nhà trường.

* Quản lý giáo dục:
Quản lý giáo dục với tư cách là một bộ phận của quản lý xã hội đã xuất
hiện và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước đã đưa ra một số định nghĩa về quản lý giáo dục như sau:
Theo tác giả M.I. Kônđacốp thì: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện
pháp tổ chức cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính nhằm đảm bảo sự vận
hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát
triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [31, tr.
22].
Ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục là

Luật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục
quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch
của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục. Nhà nước tạo điều kiện để
trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân” [11,
chương 3].
Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính Nhà nước - xã hội, trực
tiếp làm công tác giáo dục từ Trung ương đến địa phương. Vì vậy, nhà trường
nói chung vừa là khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý, vừa là một hệ
thống độc lập tự quản của xã hội. Do đó, quản lý nhà trường nhất thiết phải
vừa có tính chất Nhà nước, vừa có tính chất xã hội.
Hoạt động đặc trưng của trường học là hoạt động dạy học. Đó là hoạt
động có tổ chức, có nội dung, có phương pháp, có mục đích, có sự lãnh đạo
của nhà giáo dục đồng thời có sự hoạt động tích cực, tự giác của người học
trong tất cả các loại hình hoạt động học tập. 11
Trong nhà trường, lực lượng quyết định là người dạy, nhân tố trung tâm
nhất là người học. Do vậy để làm tốt chức năng nhiệm vụ của mình, mọi hoạt
động trong nhà trường đều phải xoay quanh đối tượng là người học. Hướng
trung tâm vào hoạt động người học là quan điểm giáo dục hiện đại. Hoạt động
của người học - nhất là người học với tư cách là học sinh THPT không chỉ
hoạt động học tập mà còn bao gồm các hoạt động khác như hoạt động giao
tiếp, hoạt động sinh hoạt tập thể, hoạt động văn hoá thể thao
Để thấy đầy đủ nội dung của quản lý nhà trường, xin dẫn ra quan điểm
tiêu biểu về quản lý nhà trường của M.I. Kônđacốp: “Không đòi hỏi một định
nghĩa hoàn chỉnh chúng ta hiểu quản lý nhà trường là một hệ thống xã hội -
sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế
hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà
trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội - kinh tế, tổ chức

phát triển nhanh về thể chất và hoàn thiện bộ máy sinh sản để thực hiện các
chức năng sinh sản. Đây cũng là thời kỳ mỗi thành viên của nhóm định hình
nhân cách thông qua quá trình, xã hội hoá trong gia đình, ở nhà trường và xã
hội, vươn lên làm chủ bản thân” [24, tr.18].
Tài liệu “GD SKSS VTN” của Bộ GD và ĐT có viết: “Giáo dục sức khoẻ
sinh sản VTN là một loại hình giáo dục tập trung vào bản năng sinh dục của
VTN và con người nói chung”.
Như vậy GD SKSS VTN được hiểu là quá trình mà trong đó người học
được cung cấp những tri thức về SKSS như: “ Sự phát triển cơ thể, sự phát
triển tâm lý, quan hệ tình dục an toàn Và trên cơ sở đó, người học sẽ được
hình thành và phát triển thái độ, các hành vi đúng đắn về đạo đức, lối sống có
liên quan đến đời sống sinh sản, tự giác và chủ động quan hệ lành mạnh và an
toàn trong quan hệ nam nữ.
Mặt khác hoạt động GD SKSS VTN nhằm cung cấp thông tin và kiến
thức cần thiết cho những người làm việc và giao tiếp thường xuyên với VTN
để giúp họ nâng cao kiến thức, hiểu biết và kỹ năng về các chủ đề SKSS và sức
khoẻ tình dục đặc biệt phù hợp với lớp trẻ” [19, tr.14]. 13
1.2. Quản lý hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên
1.2.1. Quan điểm về quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên
Tuổi vị thành niên được hiểu là giai đoạn từ 10 đến 19 tuổi. Như vậy học
sinh trong nhà trường THPT có độ tuổi VTN từ 15 đến 19 tuổi. Tuổi dậy thì là
giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên. Đây là thời gian xảy ra những biến đổi
lớn của cơ thể. Rất nhiều những thay đổi khác, như những phát triển về tinh
thần, tình cảm và khả năng hoà nhập cộng đồng cũng diễn ra trong giai đoạn
này. Tuổi dậy thì đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong đời một con
người. Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em thành một người lớn thể
hiện ở sự phát triển của các cơ quan sinh dục và cơ thể chuẩn bị sẵn sàng cho

- Những biến đổi về tâm lý, tình cảm:
Cùng với những biến đổi về thể chất diễn ra ở tuổi dậy thì, đời sống tinh
thần và tình cảm của tuổi vị thành niên cũng trải qua những biến đổi sâu sắc.
Các em có cảm giác mình không còn là trẻ con nữa và muốn được đối xử như
người lớn, muốn thoát ra khỏi “ràng buộc” của cha mẹ và gia đình. Ở giai đoạn
này, thường xảy ra những xung đột giữa vị thành niên và cha mẹ vì họ vẫn coi
các em là trẻ con.
Các em muốn được độc lập trong suy nghĩ và hành động, muốn thử sức
mình và khám phá những cái mới để khẳng định mình là người lớn. Các em
thích giao tiếp với bạn bè cùng trang lứa, và dễ dàng bộc bạch tâm sự với bạn
bè. Đây là những đặc điểm mà người lớn cần biết để hiểu rõ những nhu cầu,
những mối quan tâm, những vướng mắc và những khát khao trong các em, để
có thể cho những lời khuyên và phương hướng giải quyết.
Cũng chính trong giai đoạn này, vị thành niên bắt đầu quan tâm rất nhiều
đến bạn khác giới và xuất hiện những cảm xúc giới tính mới lạ. Điều này
khiến các em rất có ý thức về cơ thể, giới của mình và có những rung cảm khi
nghĩ tới một người bạn khác giới. Có lúc những rung cảm này trở nên quá 15
mãnh liệt và khi lý trí chưa đủ giúp các em làm chủ được những cảm xúc mới
mẻ này, các em có thể có những hành vi sai trái trong quan hệ với bạn khác
giới.
Môi trường gần gũi chung quanh như gia đình, trường học và xã hội,
đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo nhân cách của tuổi vị thành niên.
Một mặt cha mẹ, gia đình và nhà trường cần hiểu và cảm thông với tuổi mới
lớn; nhưng mặt khác cần có những chỉ bảo và hỗ trợ khuyến khích các em phát
triển đúng hướng, tránh những hậu quả đáng tiếc trong các mối quan hệ ở lứa
tuổi này.
- Vị thành niên ở Việt Nam:

pháp nạo phá thai (thường là trong điều kiện không an toàn với nguy cơ cao)
gây biến chứng lâu dài, nghiêm trọng và thậm chí, có thể dẫn tới cái chết.
Vị thành niên thường dễ mắc các bệnh lây truyền, kể cả HIV/AIDS qua
quan hệ tình dục, do thiếu hiểu biết về các biện pháp phòng tránh, do bị viêm
nhiễm và hậu quả của chúng, hơn nữa họ ít có khả năng tiếp cận các cơ sở y tế
chữa trị.
Mặc dù vị thành niên thuộc cả hai giới đều đối mặt với những nguy cơ
đó, nhưng ở nữ, những nguy cơ này đặc biệt lớn. Về cả thể chất lẫn tinh thần,
các em gái phải chịu đựng những hậu quả bất lợi về sức khoẻ sinh sản do bị
lạm dụng tình dục và những quan hệ tình dục không an toàn, cũng như thiếu
khả năng tiếp cận những dịch vụ sức khoẻ sinh sản, kể cả khả năng tiếp cận
thông tin và nguồn cung cấp các phương tiện tránh thai.
Các hậu quả do thiếu những hiểu biết cần thiết không chỉ ảnh hưởng
nghiêm trọng đối với bản thân vị thành niên, mà còn gián tiếp ảnh hưởng tới
nguồn lực xã hội, sự phát triển kinh tế - xã hội và cả tương lai của đất nước.
Vị thành niên cần những thông tin gì?
Cần cung cấp thông tin và giáo dục về sức khoẻ sinh sản để giúp thanh
thiếu niên tự khám phá những tính cách, các tiêu chuẩn và những chọn lựa của 17
riêng mình, đồng thời cũng nâng cao kiến thức và hiểu biết của các em về các
vấn đề sức khoẻ sinh sản. Ở hầu hết các nước, vị thành niên hiếm khi trao đổi
với cha mẹ mình hoặc những người lớn tuổi hơn về các chủ đề tình dục (ví dụ
như giao hợp, tình dục, những sở thích tình dục, hiện tượng có kinh và “mộng
tinh” ). Hầu hết thông tin về những chủ đề này thường từ bạn bè đồng lứa là
người cũng ít kinh nghiệm và không hiểu biết hoặc hiểu sai như họ, hoặc từ
các phương tiện truyền thông không chính thức với xu hướng đại diện cho
những hình mẫu rập khuôn hay quá khích về tình dục và giới tính.
Thanh thiếu niên thường không biết cơ thể họ thực hiện chức năng sinh

Các quan điểm quản lý GD SKSS VTN là:
- Quản lý GD SKSS VTN phải bám sát vào chiến lược quốc gia
+ Đầu tư cho sức khoẻ nói chung và SKSS VTN là đầu tư cho phát triển.
+ Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc SKSS VTN nhằm giảm các
hậu quả về sinh học và xã hội ở VTN làm ảnh hưởng đến sự phát triển của
giống nòi.
+ Lấy tuyên truyền, giáo dục làm chính, nhằm nâng cao nhận thức của
VTN và cộng đồng, trên cơ sở này làm thay đổi thái độ và hành vi của họ
trong việc bảo vệ, chăm sóc SKSS VTN.
+ Bảo vệ, chăm sóc SKSS VTN là sự nghiệp chung của toàn xã hội, là
trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng, của các cấp uỷ Đảng,
Chính quyền cũng như của các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội và nghề
nghiệp.
+ Dự phòng tích cực và chủ động trong mọi khâu của công tác bảo vệ,
chăm sóc SKSS VTN.
- Quản lý GD SKSS VTN để thiết thực phục vụ cho ngành và địa phương
- Quản lý GD SKSS VTN phải đảm bảo tính hệ thống, mục đích và tính kế hoạch.
1.2.2. Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên
thông qua hoạt động ngoại khoá 19
- Theo từ điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học, 2004) thì: Hoạt động ngoại
khoá là môn học hoặc hoạt động giáo dục ngoài chương trình chính thức trong
nhà trường. Như vậy, hoạt động ngoại khoá là những hoạt động giáo dục
không thuộc chương trình chính thức mà nhà trường đang thực hiện.
- Hoạt động ngoại khoá do đó khác với hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp ở chỗ:
+ Không được xây dựng thành một chương trình cụ thể như hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp mà hiện nay nhà trường đang thực hiện theo kế

chống đối, trốn học, bỏ nhà, càn quấy, hung bạo, phá quy tắc xã hội
Mục tiêu 8: Phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi bóc lột lao
động, lạm dụng tình dục và bóc lột tình dục VTN.
Mục tiêu 9: Cải thiện tình trạng SKSS VTN có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn, đảm bảo cho các em được hưởng sự bình đẳng về chăm sóc sức khoẻ.
Mục tiêu 10: Phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi bạo lực gia đình
và buôn bán trẻ VTN.
1.2.2.2. Nguyên tắc quản lý GD SKSS vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khoá
Quản lý các tổ chức( kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục) thực chất là
quản lý con người hoạt động trong tổ chức đó- đối tượng đích của quản lý.
Khi tiến hành quản lý, các nhà quản lý đều phải đưa ra những nguyên tắc
cơ bản sau:
- Đảm bảo tính pháp lý: Đây là nguyên tắc quản lý được xây dựng trên
những quy định, luật pháp và các chế tài của pháp luật. Chẳng hạn như các
văn bản dưới luật, các chế tài có liên quan đến giáo dục, các chỉ thị, nghị định
của Chính phủ, của Bộ GD và ĐT về giáo dục, các văn bản chỉ đạo thực hiện
chương trình. Đây là hành lang pháp lý để các nhà quản lý thực hiện chức
năng quản lý, đảm bảo tính hiệu lực của cơ chế quản lý nhà nước, dựa trên các
chủ trương, đường lối, chính sách của nhà nước, các văn bản chỉ đạo của
ngành để thực hiện vai trò quản lý của nhà nước trong quá trình quản lý.
- Đảm bảo tính tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc quan trọng tạo
khả năng quản lý một cách khoa học, có sự kết hợp chặt chẽ quyền lực của

Trích đoạn Được học trong trường 
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status