Đổi mới phương pháp dạy học môn hóa học phân tích theo hướng tích cực ở trường Cao đẳng Dược - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM VĂN MỪNG
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN HÓA
HỌC PHÂN TÍCH THEO HƯỚNG
TÍCH CỰC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG DƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN HÓA HỌC)
Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Xuân Trường
HÀ NỘI – 2012 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TNSP
Thực nghiệm sư phạm
TT
Thông tin
TW
Trung Ương 4
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
4. Giả thuyết khoa học
2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
3

1.4. Quan điểm dạy học “Lấy sinh viên làm trung tâm”
10
1.5. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóa người học
13
1.6. Phương pháp dạy học tích cực
14
1.6.1. Tính tích cực
14
1.6.2. Tích cực học tập
14
1.6.3. Biểu hiện tính tích cực của sinh viên Cao đẳng Dược
15
1.7. Một số phương pháp tích cực
17
1.7.1. Dạy học phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề
18
1.7.2. Phương pháp nghiên cứu
21
1.7.3. Các phương pháp trực quan
22
1.7.4. Dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ
22 5
1.7.5. Dạy học theo lí thuyết kiến tạo
31
1.7.6. Dạy học theo dự án
32
1.7.7. Lược đồ tư duy

57
2.3.2. Phương pháp phân tích thể tích
59
2.3.3. Đại cương về phương pháp chuẩn độ
62
2.3.4. Định lượng bằng phương pháp acid – base
64
2.3.5. Định lượng bằng phương pháp kết tủa
66
2.3.6. Định lượng bằng phương pháp oxy hoá - khử
68
2.4. Một số phương hướng sử dụng phương pháp dạy học theo hướng tích
cực cho môn Hóa học phân tích ở trường Cao đẳng Dược

70
2.4.1. Phương hướng sử dụng lý thuyết và bài tập trong bài dạy học hình
thành khái niệm

70
2.4.2. Một số giáo án tiến hành dạy lý thuyết và thực hành ở hệ Cao đẳng
72
Tiểu kết chương 2
110
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆP SƢ PHẠM
111
3.1. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm
111
3.1.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm
111
3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

PHỤ LỤC

7
DANH MỤC BẢNG

Trang
Bảng 3.1. Kết qủa điểm kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC
117
Bảng 3.2. Kết qủa điểm kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC
117
Bảng 3.3. Phân loại kết quả điểm kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC
118
Bảng 3.4. Bảng tần suất của lớp TN và lớp ĐC
118
Bảng 3.5. Bảng % số SV đạt điểm X


8
DANH MỤC HÌNH

Trang
Hình 3.1. Biểu đồ tần số biểu diễn kết qủa điểm kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC
117
Hình 3.2. Biểu đồ tần số biểu diễn kết qủa điểm kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC
117
Hình 3.3. Biểu đồ tần suất biểu diễn phân loại kết qủa điểm kiểm tra của
lớp TN và lớp ĐC

118
Hình 3.5. Đường lũy tích biểu diễn kết qủa của lớp TN và lớp ĐC
119
Hình 3.7. Biểu đồ tần số biểu diễn kết qủa điểm kiểm tra của lớpTN và lớp ĐC
119
Hình 3.8. Biểu đồ tần suất phân loại kết qủa điểm kiểm tra của lớp TN và
lớp ĐC

120
Hình 3.10. Đường luỹ tích biểu diễn kết quả của lớp TN và lớp ĐC
121
Hình 3.11. Biểu đồ tần số biểu diễn kết qủa điểm kiểm tra của lớp TN và

kinh tế Việt Nam, góp phần thực hiện thành công chủ trương, chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.
Sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học - công
nghệ thể hiện qua các lí thuyết, các thành tựu mới và khả năng ứng dụng cao, rộng
và nhanh vào thực tế buộc phải đổi mới cách dạy và cách học tại các trường Cao
đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề.
Trong điều kiện phát triển của các phương tiện truyền thông, trong bối cảnh
hội nhập, mở rộng giao lưu, sinh viên được tiếp nhận nhiều nguồn thông tin đa
dạng, phong phú từ nhiều mặt của cuộc sống, có hiểu biết nhiều hơn, linh hoạt và
thực tế hơn. Trong học tập, họ không thỏa mãn với vai trò người tiếp thu thụ động,
không chỉ chấp nhận các giải pháp đã có sẵn được đưa ra. Như vậy sẽ nảy sinh một
yêu cầu và cũng là một quá trình: Sự lĩnh hội độc lập các tri thức và phát triển kĩ
năng nghề nghiệp để đáp ứng yêu cầu trên phải đổi mới phương pháp dạy học.
Đổi mới phương pháp dạy học phải đi theo hướng của nền giáo dục hiện đại:
Phát huy cao độ tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học, đó vừa là yêu
cầu, vừa là điều kiện để nâng cao chất lượng đào tạo của mỗi trường CĐ, Trung cấp
chuyên nghiệp và Dạy nghề. Đổi mới phương pháp dạy học luôn đặt trong mối quan 2
hệ với đổi mới mục tiêu, nội dung dạy nghề, đổi mới cơ sở vật chất và thiết bị dạy
học, đổi mới các hình thức tổ chức dạy học để phù hợp giữa dạy học cá nhân và các
nhóm nhỏ hoặc cả lớp, giữa dạy học ở trong phòng học và ở phòng thí nghiệm,
xưởng thực hành, sản xuất, đổi mới việc đánh giá kết quả dạy học.
Chất lượng dạy học tại các trường Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy
nghề còn rất hạn chế và đang trở thành bất cập so với yêu cầu trong giai đoạn mới.
Như vậy, để nâng cao chất lượng dạy học ở các trường Cao đẳng, Trung cấp chuyên
nghiệp và Dạy nghề nói chung và dạy học ở các trường CĐ Dược nói riêng thì cần
phải giải quyết đồng bộ về nhiều mặt như: Nội dung dạy học, phương pháp dạy học,
hình thức tổ chức dạy học, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, Từ

đã đề xuất đến chất lượng học tập của sinh viên ở trường Cao đẳng Dược.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Sử dụng nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận: Tổng quan cơ sở lí luận
của các vấn đề có liên quan đến đề tài.
- Sử dụng nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn Điều tra tình hình thực
tế dạy học môn Hóa học phân tích ở các trường Cao đẳng Dược. Sử dụng các
phương pháp như: Quan sát, phỏng vấn, trao đổi kinh nghiệm với các nhà giáo dục,
giảng viên giỏi, lấy ý kiến chuyên gia.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp thống kê toán học xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm.
7. Những đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ thực trạng dạy học môn Hóa học phân tích ở các trường CĐ Dược.
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa học
phân tích ở trường Cao đẳng Dược.
- Đề xuất các biện pháp phát huy tính tích cực của sinh viên trong dạy học môn
Hóa học phân tích ở trường Cao đẳng Dược.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về đổi mới phương pháp dạy học.
Chương 2: Một số biện pháp đổi mới PPDH môn hóa học phân tích ở
trường Cao đẳng Dược.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP
DẠY HỌC
1.1. Vài nét về nền giáo dục chuyên nghiệp [15 - 16]
Nền giáo dục chuyên nghiệp là một bộ phận của nền giáo dục xã hội, do đó

- Giáo dục kĩ thuật tổng hợp là nguyên tắc chủ đạo, cùng với nguyên tắc phát
triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa, nó chi phối cả mục đích và nội dung của
nền giáo dục phổ thông, cả phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Đây chính là
nguyên lí giáo dục cơ bản của nhà trường xã hội chủ nghĩa.
- Học đi đôi với hành.
- Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất.
- Nhà trường gắn với xã hội.
- Nguyên tắc giáo dục kĩ thuật tổng hợp là cơ sở của việc giáo dục lao động,
của việc giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề ở trường phổ thông.
Tóm lại, giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề, cùng với giáo
dục phổ thông đều nhất thiết phải quán triệt tư tưởng kĩ thuật tổng hợp cả về nội
dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thì mới đạt được mục tiêu đào tạo
con người phát triển toàn diện.
1.2.2. Bản chất và nhiệm vụ cơ bản của giáo dục kĩ thuật tổng hợp
- Giáo dục kĩ thuật tổng hợp là thông qua toàn bộ quá trình đào tạo và bằng
quá trình đó mà làm cho sinh viên lĩnh hội được cả về lí thuyết lẫn thực tiễn, những
cơ sở khoa học của nền sản xuất hiện đại. Tổ chức cho sinh viên tham gia lao động
sản xuất cùng với công nhân và nông dân, trên cơ sở đó giáo dục hướng nghiệp.
- Giáo dục kĩ thuật tổng hợp đòi hỏi phải gắn liền thống nhất khoa học và kĩ
thuật, kinh tế và xã hội trong toàn bộ nội dung và phương pháp đào tạo nhằm thực
hiện được mục tiêu đào tạo toàn diện.
- Giáo dục kĩ thuật tổng hợp có ba nhiệm vụ cơ bản sau đây:
+ Cho sinh viên tìm hiểu cả lí thuyết và thực tiễn những nguyên tắc cơ sở của
nền sản xuất hiện đại.
+ Tổ chức giáo dục lao động, lao động sản xuất và tham gia ở mức độ vừa sức
vào lao động xã hội của công, nông nghiệp.
+ Giáo dục hướng nghiệp.

cấp liên hệ ngược cho thầy đánh giá,
có tác dụng khuyến khích tự học.
5 - Thầy là thầy dạy: dạy chữ, dạy nghề,
dạy người
5 - Thầy là thầy học, chuyên gia về
việc học, dạy cách học cho trò tự học
chữ, tự học nghề, tự học nên người.
- Đổi mới PPDH là theo hướng "dạy cách học" là thực hiện việc chuyển dịch
mô hình dạy học từ "truyền thụ một chiều" sang "hợp tác hai chiều”.
Thầy sử dụng sự thông hiểu và kiến thức đang có ở sinh viên làm điểm xuất
phát của việc dạy. Thầy trình bày nội dung môn học theo cách giới thiệu những
quan niệm và những quá trình, chú trọng làm cho lớp học được định hướng vào sự
tương tác và vào hoạt động nhóm, nhằm dẫn dắt sinh viên tự kiến tạo kiến thức cho
mình, hiểu thực tiễn theo cách của mình. 7
Mục đích của việc dạy là làm cho sinh viên biết học đúng cách, tức là hiểu.
Người dạy phải tự hỏi về những tác động của mình đối với người học, trước hết là
có làm cho người học hiểu đúng không? Có biết cách học không ?
Bảng dưới đây cho thấy xu thế phát triển của mô hình dạy học
Sự phát triển mô hình dạy học
Mô hình
Tập trung
vào ai?
Vài trò SV
Phương tiện
Truyền thống
GV
Thụ động

Như vậy việc dạy học Hoá học nói chung và môn Hóa học phân tích nói riêng
ở trường Cao đẳng Dươc cần tập trung nhiều hơn vào việc hình thành năng lực hành
động cho người học. Việc dạy môn Hoá học phân tích ở trường Cao đẳng Dược,
ngoài việc truyền thụ kiến thức, kĩ năng hoá học cơ bản cần chú ý nhiều đến việc
hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức, tiến hành nghiên cứu khoa học hoá học như
quan sát, mô tả, dự đoán, đề ra giả thiết khoa học, giải quyết vấn đề, tiến hành thí
nghiệm từ đơn giản đến phức tạp, giúp người học tự phát hiện được vấn đề và
giải quyết một cách chủ động sáng tạo các vấn đề thực tế có liên quan tới hoá học.
- Đổi mới hoạt động dạy
+ Hoạt động dạy học môn Hoá học phân tích không phải là sự thông báo kiến
thức của giảng viên mà là quá trình giảng viên thiết kế, tổ chức, điều khiển các hoạt
động học tập của sinh viên để đạt được các mục tiêu cụ thể ở mỗi bài học.
- Như vậy hoạt động cụ thể của giảng viên sẽ là:
+ Thiết kế giáo án (kế hoạch giờ dạy học) gồm các hoạt động của sinh viên
theo những mục tiêu cụ thể của mỗi bài học mà sinh viên cần đạt được.
+ Tổ chức các hoạt động trên lớp để sinh viên hoạt động theo cá nhân hoặc
theo nhóm như nêu vấn đề cần tìm hiểu, tổ chức hoạt động tìm tòi, phát hiện tri
thức và hình thành kĩ năng hoá học, kĩ năng nghiên cứu khoa học,
+ Định hướng điều chỉnh các hoạt động của sinh viên, giảng viên có nhiệm vụ
làm chính xác hóa các khái niệm, kết luận, nhận xét về các hiện tượng, bản chất của
quá trình hoá học mà sinh viên đã tự tìm tòi trong hoạt động học tập của mình và
thông báo thêm một số thông tin có liên quan đến bài học mà sinh viên không thể tự
tìm tòi được qua hoạt động trên lớp,
+ Thiết kế và thực hiện việc sử dụng các phương tiện trực quan, thí nghiệm
hoá học, hiện tượng thực tế như là nguồn kiến thức để sinh viên tìm tòi, phát hiện
những kiến thức kĩ năng cần nghiên cứu, tiếp thu.
+ Trong quá trình tổ chức, điều khiển luôn tạo điều kiện để sinh viên được bộc
lộ và vận dụng nhiều hơn những kiến thức đã có của mình để giải quyết các vấn đề
học tập và các vấn đề có liên quan đến hoá học trong đời sống và sản xuất.
- Đổi mới hoạt động học

các phương pháp dạy học theo hướng tích cực đóng vai trò quan trọng, có tính chất
quyết định đến chất lượng dạy và học môn Hoá học phân tích. Trong dạy học môn 10
hoá học phân tích có nhiều phương pháp được sử dụng theo hướng dạy học tích cực
như sử dụng thí nghiệm, sử dụng phương tiện dạy học, sử dụng bài tập hoá học …
Bản tuyên ngôn toàn cầu về giáo dục đại học trong thế kỉ 21 do UNESCO
công bố có nội dung: Các trường đại học nên giáo dục sinh viên trở thành các công
dân được thông tin tốt, tích cực, tận tụy và có khả năng độc lập suy nghĩ, phân tích
các vấn đề của xã hội, áp dụng chúng và chịu trách nhiệm trước xã hội.
Giáo dục thế giới đi vào thế kỉ 21 dựa trên 4 cột trụ:
+ Học để biết (cốt lõi là hiểu). Nay điều chỉnh thành học để học cách học.
+ Học để làm (trên cơ sở hiểu)
+ Học để cùng sống với nhau (trên cơ sở hiểu nhau).
+ Học để làm người (trên cơ sở hiểu bản thân). Nay điều chỉnh thành học để
sáng tạo.
- Xây dựng xã hội học tập.
Trên sách báo nhiều nước đã xuất hiện khái niệm “người công dân toàn cầu”
với 3 kĩ năng toàn cầu là Ngoại ngữ - Máy tính - Giao tiếp. Với mỗi người thì cần 3
kĩ năng xuyên suốt cuộc đời là Học - Làm - Sống.
Tóm lại, quan điểm mới của giáo dục hiện đại: Coi người học là lí do tồn tại
của người dạy, là chủ thể của quá trình dạy học. Người dạy là tác nhân của quá trình
dạy học, học là xuất phát điểm để thiết kế việc dạy đổi mới PPDH phải được thể
hiện đồng thời 3 hướng sau:
- Quán triệt quan điểm dạy học “Lấy sinh viên làm trung tâm”.
- Dạy cách học, học cách học, học cách tư duy thông qua việc sử dụng các
PPDH tích cực.
- Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học.
1.4. Quan điểm dạy học “Lấy sinh viên làm trung tâm” [14; 17; 21]

trước hết đến hệ thống kiến thức lí thuyết, sự phát triển tuần tự của các khái niệm.
(II) Người ta chú trọng các kĩ năng thực hành vận dụng kiến thức, năng lực
giải quyết các vấn đề thực tiễn, hướng vào sự chuẩn bị thiết thực cho tìm kiếm việc
làm, hoà nhập và phát triển cộng đồng.
+ Về phương pháp dạy học:
(I) Phương pháp dạy học chủ yếu là thuyết trình, giảng giải, thầy nói, trò ghi,
GV lo trình bày rõ ràng, cặn kẽ nội dung bài học, truyền thụ vốn hiểu biết và kinh
nghiệm của mình. SV tiếp thu thụ động, cố hiểu và nhớ những điều GV đã dạy, 12
thỉnh thoảng trả lời những câu hỏi GV nêu ra về những vấn đề đã giảng. Giáo án
được thiết kế theo trình tự đường thẳng, chung cho mọi SV, trên lớp, GV chủ động
thực hiện một mạch theo các bước đã chuẩn bị.
(II) PPDH coi trọng việc rèn luyện cho SV phương pháp tự học, phát huy sự
suy nghĩ tìm tòi độc lập hoặc theo nhóm nhỏ thông qua thảo luận, thí nghiệm, thực
hành, thâm nhập thực tế. GV quan tâm vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của
từng cá nhân và tập thể SV để xây dựng bài học. Giáo án được thiết kế nhiều
phương án theo kiểu phân nhánh, được GV linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến của
tiết học với sự tham gia tích cực của SV, thực hiện giờ học phân hoá theo trình độ
năng lực của SV, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cá nhân.
- Về hình thức tổ chức dạy học:
(I) Bài lên lớp được tiến hành chủ yếu trong phòng học mà bàn GV và bảng đen
là trung tâm thu hút chú ý của mọi SV. SV trên bàn ghế dài, 5 chỗ, bố trí cố định.
(II) SV thường có bàn ghế cá nhân, hình thức bố trí lớp học được thay đổi linh
hoạt cho phù hợp với hoạt động học tập trong tiết học, thậm chí trong từng phần của
tiết học. Có nhiều bài học được tiến hành ở phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất.
- Về kiểm tra – đánh giá:
(I) GV là người độc quyền đánh giá kết quả học tập của SV, chú ý chủ yếu tới
khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức.

+ Trong giờ học cần sử dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động của người
học như thí nghiệm, dự đoán lí thuyết, mô hình hoá, giải thích, thảo luận nhóm, …
giúp người học được hoạt động tích cực, chủ động.
+ Tăng thời gian hoạt động của người học trong giờ học. Hoạt động của giảng
viên chú trọng đến việc thiết kế, hướng dẫn điều khiển các hoạt động và tư duy hay
hoạt động nhóm. Giảng viên cần động viên sinh viên hoạt động nhiều hơn trong giờ
học, giảm tối đa các hoạt động nhận thức thụ động.
+ Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động của sinh viên thông qua việc lựa
chọn nội dung và hình thức sử dụng các câu hỏi, bài tập có sự suy luận, vận dụng
kiến thức một cách sáng tạo.
Như vậy, tư tưởng chủ đạo của định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng hoạt động hoá người học là người học được phát huy tính tích cực nhận thức học
tập đến mức tối đa thông qua các hoạt động chủ động, độc lập, sáng tạo trong giờ học. 14
1.6. Phƣơng pháp dạy học tích cực [6; 19]
Phương pháp dạy học tích cực, gọi tắt là phương pháp tích cực, đó là các
PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên.
1.6.1. Tính tích cực
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người. Con người không chỉ
tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của
cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, chủ động cải biến môi
trường tự nhiên, cải tạo xã hội.
Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của
giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát
triển xã hội.
1.6.2. Tích cực học tập
Tính tích cực trong hoạt động học tập là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát
vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.

- Khao khát học
- Hay nêu thắc mắc
- Chủ động vận dụng
- Tập trung chú ý
- Kiên trì
Biểu hiện - Bắt tr-ớc
- Tìm tòi
- Sáng tạo
Cấp độ 16
- Chủ động vận dụng sáng tạo những kiến thức, kĩ năng đã học vào hoàn cảnh
mới. Từ mức cố gắng làm theo sự hướng dẫn của giảng viên, đến việc tự lực, độc
lập giải quyết vấn đề theo những cách khác nhau, đến mức sáng tạo, tìm cách giải
quyết vấn đề hiệu quả hơn.
Dấu hiệu đặc trưng của các phương pháp tích cực (PPTC)
Các PPTC có 4 dấu hiệu đặc trưng cơ bản để phân biệt với các phương pháp
thụ động.
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của sinh viên (SV).
Trong PPTC, SV được đặt vào vị trí chủ thể của hoạt động học tập, giảng viên
(GV) là tác nhân, là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, động viên để SV tự lực
khám phá những điều mình chưa biết, chứ không thụ động tiếp thu những tri thức
do GV sắp đặt sẵn và thông báo.
Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, SV trực tiếp quan sát các
đối tượng nghiên cứu, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách
suy nghĩ của mình, qua đó vừa nắm được kiến thức, kĩ năng mới vừa nắm được

Trong hệ thống các PPDH hóa học truyền thống có một số PPTC, đó là:
- Nhóm phương pháp trực quan (đặc biệt là sử dụng thí nghiệm hay các
phương tiện trực quan theo PP nghiên cứu).
- Nhóm phương pháp thực hành. Về mặt hoạt động nhận thức thì các PP thực
hành là “tích cực” hơn các PP trực quan, các PP trực quan là “tích cực” hơn các PP
dùng lời.
Trong nhóm các PP thực hành, SV được trực tiếp tác động vào đối tượng (quan
sát mẫu chất, lắp dụng cụ thí nghiệm, làm thí nghiệm, …) tự lực khám phá tri thức
mới.
- Vấn đáp tìm tòi. Trong số các PP dùng lời thì vấn đáp tìm tòi là một PPTC.
Trong vấn đáp tìm tòi, GV là người tổ chức sự tìm tòi, còn SV là người tự lực phát
hiện kiến thức mới.
- Dạy học phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề.
- Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ.
Trong số các PPTC thì “Dạy học phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề” được
các nhà sư phạm quan tâm nhiều hơn cả vì nó được coi là một tổ hợp các PPTC có
giá trị trí - đức dục to lớn.
18
1.7.1. Dạy học phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay
gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là
một năng lực bảo đảm sự thành đạt trong cuộc sống, đặc biệt trong kinh doanh. Vì
vậy, tập dượt cho SV biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải
trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý
nghĩa ở tầm PPDH mà phải được đặt ra như một mục tiêu giáo dục và đào tạo.
Dạy học phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề giúp cho SV không chỉ nắm
được tri thức mới mà còn nắm được cả phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status