DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ GD-ĐT
: Bộ Giáo dục- Đào tạo
CĐ, ĐH
: Cao đẳng, Đại học
GV
: Giáo viên
GTLN, GTNN
: Giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất
SV
: Sinh viên
TLHDTH
: Tài liệu hướng dẫn tự học
1.1.2. Khái niệm về tự học
10
1.1.3. Khái niệm về năng lực
10
1.1.4. Năng lực tự học là gì?
11
1.1.5. Năng lực tự học toán
14
1.1.6. Cơ sở của việc dạy - tự học
14
1.1.7. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao năng lực tự học toán
của sinh viên
17
1.1.8. Nhiệm vụ của giáo viên trong việc nâng cao năng lực tự học
toán của sinh viên
18
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
18
1.2.1. Thực trạng giảng dạy Toán cao cấp ở trường CĐKT hiện nay
18
1.2.2. Thực trạng phương pháp học và hoạt động tự học của sinh viên
19
1.2.3. Tiềm năng nâng cao năng lực tự học toán trong dạy học nội
dung “Phép tính vi phân và tích phân hàm nhiều biến”
21
3.1.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm
85
3.1.4. Nội dung thực nghiệm sư phạm
86
3.2. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
92
3.2.1. Bài kiểm tra đánh giá
92
3.2.2. Phân tích kết quả thực nghiệm
94
Kết luận chương 3
99
KẾT LUẬN
100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
101 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta bước vào thế kỷ XXI cùng với sự phát triển toàn diện của các
ngành khoa học. Xã hội phát triển ngày một đa dạng, con người phải tìm mọi
cách để thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Dù sinh sống hay làm việc
ở bất cứ môi trường nào, thời đại ngày nay cần những con người có đầy đủ
năng lực, kiến thức sự sáng tạo và tinh thần tự chủ, ý chí vươn lên để có thể
hòa nhập, thích ứng với môi trường. Muốn trở thành một con người làm chủ
tri thức, năng động sáng tạo con người cần khai thác chất xám, phát huy nội
lực bản thân tự học, tự hoàn thiện để vươn lên: Theo tiêu chuẩn giáo dục của
thanh niên thế giới khi bước vào thế kỷ XXI, thì giới trẻ phải đạt được 10 kỹ
của mình đã cho rằng “mục đích cuối cùng phải đạt của giáo dục là học sinh
biết tự học”.
Tài liệu Unesco hay dùng khái niệm “Tự phản ánh”. Tài liệu giáo dục hiện
đại luôn nhắc đến các khái niệm “Tự phát triển”, “Tự giáo dục”, “tự học”.
Như vậy quan hệ giữa cái học và cách học đã được đặt ra như một nguyên tắc
của cuộc đổi mới phương pháp dạy học, người ta đã đổi định nghĩa dạy học
cũ bằng mệnh đề “dạy học là dạy tự học” và “học là tự học”.
Ở nước ta hiện nay, quá trình hiện đại hóa giáo dục đã và đang thôi thúc
nhà trường cải cách thay đổi phương pháp nhằm tăng chất lượng và hiệu quả
giảng dạy. Những cố gắng đổi mới đã đem lại những tiến bộ vượt bậc trong
dạy và học nói chung, dạy và học Toán nói riêng. Nhưng việc dạy và học
Toán cao cấp trong nhà trường hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập:
Thứ nhất, phương pháp giảng dạy chưa đổi mới, nhìn chung vẫn là cách
giảng dạy truyền thụ một chiều, chưa phát huy được tính tích cực hoạt động
của sinh viên. Trong mỗi bài giảng người giáo viên cố gắng truyền thụ cho
sinh viên khối lượng kiến thức trong bài học, những kỹ năng học tập, những
năng lực tư duy của sinh viên chưa được khuyến khích rèn luyện và phát
3
triển. Dạy học bằng cách rèn luyện năng lực tự học cho sinh viên trong giờ
Toán cao cấp chính là con đường đổi phương pháp dạy và học Toán cao cấp
nói riêng hướng hoạt động học về phía sinh viên, phát huy được tính chủ
động, sáng tạo ở sinh viên, biến quá trình dạy học thành quá trình dạy tự học.
Thứ hai, khối lượng kiến thức Toán cao cấp trong chương trình lớn, thời
gian dành cho môn học có hạn. Hơn nữa, kiến thức Toán cao cấp vừa tổng
hợp, vừa khái quát, vừa trừu tượng. Vấn đề đặt ra là người giáo viên ở mỗi bài
học hướng dẫn sinh viên để các em có thể tự học, tự mình nắm bắt một phần
nào đó kiến thức trong bài, đặt sinh viên ở thế chủ động tìm tòi nắm bắt tri
thức. Có như vậy sinh viên không những nắm bắt tri thức sâu rộng mà các em
còn có điều kiện phát triển năng lực tư duy và kỹ năng học tập, biến quá trình
và Jeannette Vos, “Tự học như thế nào”của Rubakin, bản dịch của Nguyễn
Đình Côi, xuất bản năm 1982…
Ở Việt Nam, chúng ta có một Tạp chí “Tự học” của Trung tâm nghiên
cứu và phát triển tự học được Bộ văn hóa thông tin cấp phép ngày
10/03/2000, do Nguyễn Cảnh Toàn chịu trách nhiệm xuất bản. Tạp chí ra đời
thu hút đông đảo các nhà quản lý, các giáo sư, nhà giáo quan tâm đến vấn đề
tự học. Chúng ta có thể tìm thấy những bài viết của Cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng “Phương pháp tự học và lòng ham học đó là cái quý giá nhất”( T/c TH-
9/5/2000); của Hoàng Ngọc Hiến “ Hãy nâng cao việc tự học”(T/c TH –
7/3/2000); của Nguyễn Cảnh Toàn “ Vài kinh nghiệm tự học – tự nghiên cứu”
(T/c TH số 7/3/2000); của Nguyễn Tấn Phát “Tự học, tự bồi dưỡng suốt đời
trở thành một quy luật ”( T/c TH số 8/4/2000)…Trong năm 2001, Nguyễn
Cảnh Toàn cho ra đời hai cuốn sách “ Học và dạy cách học”, “ Tuyển tập tác
phẩm tự giáo dục, tự học”. Ngoài ra, còn rất nhiều các tác giả khác: Nguyễn
Hiến Lê với “ Tự học là một nhu cầu của thời đại”, tác giả Nguyễn Duy Cần
và Thu Giang với “ Tôi tự học”,
5
Trên cơ sở lý thuyết mà các nhà toán học, tâm lý học, giáo dục học đã
nghiên cứu và thực trạng dạy Toán cao cấp trong các trường Cao đẳng kỹ
thuật trong giai đoạn hiện nay – khi việc đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tích cực hóa hoạt động của người học là vô cùng cần thiết. Chính vì
vậy, trong luận văn này tôi chỉ xin trình bày một ý tưởng rất hẹp là: nghiên
cứu tìm cách nâng cao năng lực tự học toán của sinh viên Cao đẳng khối kỹ
thuật thông qua dạy học nội dung “Phép tính vi phân và tích phân hàm nhiều
biến”.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu:
Xây dựng tài liệu hướng dẫn tự học và đề xuất một phương án dạy học
nội dung “Phép tính vi phân và tích phân hàm nhiều biến” nhằm nâng cao
theo cách hướng dẫn sinh viên tự nghiên cứu qua tài liệu hướng dẫn tự học
thì sẽ giúp nâng cao năng lực tự học toán của sinh viên.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận:
+ Nghiên cứu các tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài: triết học, giáo
dục học, tâm lý học, phương pháp luận nghiên cứu khoa học, lý luận dạy học
bộ môn Toán,…để làm rõ cơ sở lý luận của phương án đề xuất.
+ Nghiên cứu chương trình, giáo trình và các tài liệu khác có liên quan
đến nội dung “Phép tính vi phân và tích phân hàm nhiều biến” trong giáo
trình Toán cao cấp dành cho các trường Cao đẳng khối kỹ thuật để đánh giá
tính thực tiễn của đề tài.
- Phương pháp thực nghiệm:
+ Tổ chức dạy thực nghiệm sư phạm cho sinh viên năm thứ nhất hệ
Cao đẳng của Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội và Trường Đại học Điện
lực để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của phương án đề xuất.
7
+ Tiến hành kiểm tra để đánh giá kết quả học tập của sinh viên sau khi
tiến hành dạy cùng một nội dung bằng hai phương pháp: phương pháp truyền
thống và phương pháp đề xuất.
+ Gửi phiếu điều tra để thu thập thông tin từ sinh viên và đồng nghiệp.
- Phương pháp chuyên gia:
+ Dự giờ, tổng kết rút kinh nghiệm việc dạy nội dung này.
+ Điều tra, quan sát, thu thập ý kiến chuyên gia, giảng viên, sinh viên
về thực trạng dạy học nội dung này ở trường cao đẳng; nhận thức về phương
pháp dạy học tích cực của giảng viên và kỹ năng vận dụng phương pháp này
vào dạy học.
+ Nghiên cứu các công trình khoa học của các đồng nghiệp đi trước.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham
tiếp cận cùng với ba quan niệm chủ yếu sau đây:
- Cách tiếp cận thứ nhất quan tâm đến kết quả cuối cùng đạt được là
sản phẩm học hay hành vi nhận biết được.
- Cách tiếp cận thứ hai quan tâm đến quá trình học bằng cách tìm hiểu
những gì đã xảy ra trong trí óc người học- tức là cách tiếp cận về trí tuệ, theo
bước chân Piaget với cơ chế đồng hóa, điều ứng, cân bằng…hay Vưgôski với
vùng phát triển gần: “Học là quá trình biến đổi và cân bằng cấu trúc nhận thức
để thích nghi với môi trường”, hoặc “Học là tích hợp, đồng hóa, điều ứng, “nhập
nội” những dữ liệu mới làm biến đổi cấu trúc nhận thức nội tại hiện có”.
- Cách tiếp cận thứ ba có xu hướng kết hợp hai cách tiếp cận trên thành
một mô hình quá trình thông tin với các thuật ngữ: thu nhận, xử lý, chương
trình hóa,… “Học là tự tạo ra khả năng xác định vấn đề cần giải quyết, thu
nhận, xử lý thông tin và ứng dụng chương trình giải quyết”.[7]
Cũng cần lưu ý đến cách tiếp cận của bản thân người học, người trong
cuộc: người học vừa học vừa xem mình học, vừa làm vừa tự xem mình làm,
9
vừa tư duy vừa nhận biết mình tư duy ra sao. Qua điều tra người ta đã tập hợp
được sáu định nghĩa “Học” của sinh viên- đã được phân loại và sắp xếp theo
trình độ nhận thức từ đơn giản đến phức tạp- như sau:
(1) Học là chiếm lĩnh thông tin càng nhiều càng tốt. Càng học càng nắm
được nhiều thông tin. Học là thu nhận, tích lũy, gia tăng số lượng kiến thức.
(2) Học là ghi nhớ, lặp lại và thuộc lòng. Học là quá trình tích lũy thông
tin mà ta có thể tái hiện như là những mẫu kiến thức tách biệt nhau.
(3) Học là quá trình chiếm lĩnh, ứng dụng hay sử dụng kiến thức. Học là
nắm bắt sự kiện, kỹ năng hay quy trình có thể lưu trữ và sử dụng khi cần. Học
là tích lũy thông tin vào bộ nhớ để sử dụng mỗi khi có tình huống đòi hỏi.
(4) Học là quá trình trừu tượng hóa, định hướng, định giá trị. Học là liên
kết cái đang học với cái đã biết và với thực tiễn cuộc sống. Học là hiểu bản
chất sự vật, nối liền sự vật với nhau, lý giải và kiểm nghiệm giá trị của sự vật
tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có ý
chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa
học, ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh
vực đó thành sở hữu của mình”.[16]
Vậy có thể nói: tự học là cách học với sự tự giác, tính tích cực và độc
lập cao của từng cá nhân- khi nói đến học thì việc tự học là rất quan trọng,
không ai học thay được. Kết quả tự học cao hay thấp còn phụ thuộc vào năng
lực của mỗi cá nhân. Vậy năng lực là gì?
1.1.3. Khái niệm về năng lực
Trước tiên ta cần tìm hiểu khái niệm kỹ năng.
Kỹ năng chính là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được
trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn. [4]
Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý hoặc kỹ năng của con người để
thực hiện thành công một hoạt động nào đó. Năng lực gắn với khả năng hoàn
thành một hoạt động cụ thể, chỉ nảy sinh và quan sát được trong hoạt động
11
giải quyết những yêu cầu mới mẻ và do đó nó gắn liền với tính sáng tạo tuy
khác nhau về mức độ. Năng lực có thể rèn luyện và phát triển được, với các
cá nhân khác nhau thì năng lực cũng khác nhau.
1.1.4. Năng lực tự học là gì?
1.1.4.1. Khái niệm chung
Khả năng tự học tiềm ẩn trong mỗi con người, năng lực tự học chính là
nội lực phát triển bản thân người học. Năng lực tự học là những thuộc tính
tâm lý hoặc kỹ năng mà nhờ chúng người học tự mình xử lý các thông tin, các
vấn đề được đặt ra trong học tập cũng như trong cuộc sống nhằm biến kiến
thức của nhân loại thành sở hữu riêng của mình một cách hiệu quả nhất.
1.1.4.2.Các loại năng lực tự học
Lâu nay, khi nói đến “học” mọi người đều nói đến “ học kiến thức”
hoặc “học kỹ năng”. Kiến thức và kỹ năng dĩ nhiên là quan trọng, là mục tiêu
được thêm kinh nghiệm, thêm kiến thức nhờ cọ xát với thực tiễn. Cách học
không thầy, không sách như vậy cũng có thể có kết quả tích cực, nhưng kết
quả lâu đến vì không có hệ thống và không có chiều sâu, kế thừa được ít
thành quả của người đi trước. Vì vậy, phải học một cách hệ thống với thầy ,
với sách để nắm chắc các kiến thức cơ bản rồi từ đó bằng năng lực tự học mà
tự mình tìm đến những kiến thức khác nhờ cả vào công phu sưu tầm lẫn công
phu tự mình nghĩ ra.
“ Tự học hoàn toàn” là mức mà mọi người phải đạt đến nếu muốn học
suốt đời, nhưng muốn “tự học hoàn toàn” tốt , trước hết hãy hình thành cho
mình năng lực tự học thật tốt qua việc tự học có hướng dẫn.
Tự học có hướng dẫn
- Tự học có hướng dẫn là gì?
13
Là hình thức hoạt động tự lực của người học để chiếm lĩnh tri thức và
hình thành kỹ năng tương ứng dưới sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của giáo
viên thông qua tài liệu hướng dẫn tự học.
Có hai mức độ:
+ Mức 1: người học có SGK và có thêm những ông thầy ở xa hướng
dẫn tự học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin viễn thông khác.
Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến
thức, hướng dẫn tự phê bình về tính cách trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức
dưới dạng phản ánh thắc mắc, giải đáp thắc mắc, làm bài, chấm bài.
+ Mức 2: Người học có SGK và có thầy giáp mặt một số tiết trong
ngày, trong tuần bằng những hình thức thông tin trực tiếp không qua máy
móc hoặc ít nhiều có sự hỗ trợ cử máy móc đặt ngay trên lớp, thầy làm việc
hướng dẫn như ở mức 1 thông qua tài liệu hướng dẫn tự học riêng. Đó chính
là quá trình dạy - tự học và cũng là nội dung nghiên cứu chính của luận văn.
1.1.4.3.Vai trò của năng lực tự học
Năng lực tự học đã làm nên bao nhà quân sự, chính trị, khoa học, văn
Năng lực toán học: được đặc trưng bằng tri thức toán học, kỹ năng, kỹ
xảo, cách học, kỹ năng vận dụng các thao tác tư duy…làm chỗ dựa cho hoạt
động nhận thức. Đó là những công cụ, phương tiện mà người học nhờ đó có
thể tự lĩnh hội được những tri thức toán học mới.
Năng lực tổ chức tự học: bao gồm kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng thực
hiện kế hoạch, kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá,…
1.1.6. Cơ sở của việc dạy - tự học
Để người học có ý thức tự giác cao trong việc tự học thì người thầy
phải kích thích lòng ham hiểu biết trong quá trình dạy học. Việc dạy - tự học
dựa trên các cơ sở sau:
1.1.6.1. Cơ sở tâm lý học sư phạm
Trong cuốn sách “Lý luận dạy học Đại học”, các tác giả đã chỉ rõ: khả
năng ghi nhớ ở sinh viên có tính khái quát độc lập, mang tính chọn lọc cao và
15
có phê phán hơn học sinh phổ thông. Sinh viên chỉ tri giác những thông tin
trong bài giảng của giảng viên hay tài liệu có liên quan đến hứng thú nhận
thức, có ích cho hoạt động nghề nghiệp. Tư duy hoạt động của sinh viên thể
hiện ở những dấu hiệu sau
- Tự đặt ra vấn đề
- Tự tìm cách giải quyết vấn đề đó theo nhiều chiều, nhiều phương thức
khác nhau.
- Có ý chí theo đuổi mục đích đến cùng.
- Tự đánh giá kết quả từng điểm.
Phẩm chất tư duy sáng tạo cũng bộc lộ trong hoạt động của sinh viên,
phẩm chất này biểu hiện ở chỗ họ học tập vượt ra khỏi giới hạn những tài liệu
cơ bản, tìm thấy những mối liên quan, quan hệ mới giữa các đối tượng. Sinh
viên biết huy động rộng rãi, hợp lý các tri thức và các kinh nghiệm giải quyết
vấn đề.
Những đặc điểm tâm lý trên rất thuận lợi cho việc dạy - tự học vì:
Kết hợp quá trình dạy với quá trình tự học là nhằm làm cho “dạy” và
“tự học” cộng hưởng được với nhau tạo ra chất lượng và hiệu quả cao để đạt
mục tiêu đào tạo con người tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực tư duy,
năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học.
1.1.6.3. Cơ sở sinh lý học
Mô hình dạy – tự học (hướng dẫn tự học) có cơ sở sinh học là “Học
thuyết về phản xạ có điều kiện chủ động” của B.F.Skiner. Theo học thuyết
này, bài học vì chính lợi ích người học; mục đích học, nội dung học do chính
nhu cầu của người học. Đó chính là dạy – tự học trong đó việc học (tự học)
thực chất là một quá trình:
- Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kỹ xảo nhận thức, tạo ra các cầu nối
nhận thức trong tình huống học.
17
- Tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử
lý thông tin từ môi trường sống xung quanh mình.
- Tự học, tự nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức bằng hành động của chính
mình, cá nhân hóa việc học đồng thời hợp tác với các bạn trong cộng đồng
lớp học, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo.
Còn việc dạy thích hợp với quá trình học nói trên là một quá trình có
bản chất là:
- Kết hợp quá trình dạy học với quá trình tự học, quá trình giáo dục với
quá trình tự giáo dục.
- Kết hợp hữu cơ quá trình cá nhân hóa với quá trình xã hội hóa việc
học
- Cộng hưởng dạy học với tự học, tạo ra chất lượng và hiệu quả giáo
dục cao.
Tóm lại, trên cơ sở hiểu được các vấn đề liên quan đến năng lực tự học,
ta có thể vận dụng vào giảng dạy để nâng cao năng lực tự học cho sinh viên.
1.1.7. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao năng lực tự học toán của
tính vi phân và tích phân hàm nhiều biến” ở các trường Cao đẳng Công
nghiệp Hà Nội và Cao đẳng Điện lực. Nhìn chung, giáo viên có chuyển biến
trong nhận thức về phương pháp giảng dạy tích cực nhưng việc vận dụng thì
chưa đầy đủ và kết quả còn rất hạn chế. Thể hiện:
Giáo án: Thường nặng về nội dung, phần tổ chức hoạt động của sinh
viên bị xem nhẹ. Bài soạn chủ yếu là liệt kê tóm tắt kiến thức giáo trình, chưa
dự kiến được nhiều biện pháp tổ chức sinh viên hoạt động học tập tự học.
Phương pháp dạy học của giáo viên: Đa số giáo viên nắm chắc về
phương pháp dạy học tích cực, nhưng còn ngại khó do dạy theo phương pháp
mới thì phải đầu tư nhiều thời gian, công sức cho bài dạy. Mặt khác, một số
giáo viên còn cho rằng: sinh viên chưa chăm chỉ, khả năng nhận thức hạn chế,
19
cơ sở vật chất còn thiếu thốn nên rất khó hướng dẫn cho sinh viên tự học và
áp dụng những phương pháp dạy học mới. Chính vì thế, trong nhiều năm qua,
lối dạy kiểu “thầy đọc - trò chép” là thực trạng chung hàng ngày trong nhà
trường, trở thành thói quen của nhiều giáo viên. Hầu hết thời gian của một tiết
học là phần trình bày của giáo viên, còn sinh viên ít có cơ hội tham gia đóng
góp ý kiến của mình, do đó sức ì của sinh viên là rất lớn, các em thụ động, giao
tiếp sư phạm kém, đồng thời giáo viên chưa có phương pháp khuyến khích sinh
viên tự học ở nhà, tự thu nhận và xử lý thông tin từ các nguồn khác nhau.
Việc sử dụng giáo trình, tài liệu: Giáo viên chỉ thường hướng dẫn sinh
viên sử dụng giáo trình để học bài cũ, hoàn thành các câu hỏi, bài tập trong
giáo trình, tự đọc trước nội dung bài mới. Rất hiếm khi giáo viên chuẩn bị
một hệ thống câu hỏi – bài tập để hướng dẫn sinh viên cách tự nghiên cứu
trước nội dung bài mới.
Trên lớp, giáo trình chủ yếu được sử dụng để sinh viên đọc, nhớ lại
kiến thức cũ, tự học những kiến thức đơn giản, ghi nhớ định nghĩa, khái niệm.
Giáo trình còn ít được sử dụng để yêu cầu sinh viên gia công, xử lý thông tin
trong đó để trả lời các câu hỏi bài tập do giáo viên thiết kế theo ý đồ dạy học.
tham khảo cho sinh viên, phòng đọc của nhà trường là địa điểm tốt nhất cho
sinh viên đọc sách, tự học, tự nghiên cứu. Tuy nhiên, đa số sinh viên chỉ đến
mượn sách, còn tại phòng đọc lại khá vắng. Trong số sinh viên đến thư viện,
phòng đọc hàng ngày, chúng tôi trao đổi và quan sát thấy:
- Ít sinh viên có phương pháp tự học, tự nghiên cứu tốt, đa số các em
đến để học bài cũ hoặc đọc trước bài mới một cách thụ động.
- Nhiều sinh viên đến thư viện, phòng đọc chỉ nhằm mượn và đọc
những sách báo giải trí.
- Đại bộ phận sinh viên chưa biết cách tập hợp, phân loại, hệ thống hóa
và có kế hoạch sử dụng tài liệu tham khảo
21
Việc tự học của sinh viên ở ký túc xá: Đa số sinh viên ở ký túc xá sử
dụng 1-3 tiếng cho tự học ở nhà. Tuy nhiên, việc tự học của sinh viên chưa
đạt hiệu quả cao vì chưa có phương pháp học tốt, chưa ý thức được vai trò của
tự học, tự nghiên cứu và đặc biệt là chưa có sự hướng dẫn việc tự học của
giáo viên.
1.2.3. Tiềm năng nâng cao năng lực tự học toán trong dạy học nội dung
“Phép tính vi phân và tích phân hàm nhiều biến”
1.2.3.1. Giới thiệu nội dung kiến thức
Khác với ở phổ thông, các trường Cao đẳng không học chung một giáo
trình mà chủ yếu là học theo giáo trình của trường biên soạn. Đối với môn
Toán cao cấp nói chung, nội dung “Phép tính vi phân và tích phân hàm nhiều
biến” nói riêng ở mỗi trường Cao đẳng kỹ thuật cũng giảng dạy theo giáo
trình của trường biên soạn theo định hướng của Bộ GD-ĐT. Tuy nhiên, vì là
môn học đại cương nên chương trình giảng dạy nội dung này ở các trường
Cao đẳng khối kỹ thuật là tương tự nhau.
Nội dung “Phép tính vi phân và tích phân hàm nhiều biến” có 2 phần:
Phần: Phép tính vi phân hàm nhiều biến bao gồm các kiến thức
- Hàm nhiều biến số
kiến thức lý thuyết và kỹ năng làm bài tập, điều này tạo điều kiện thuận lợi
cho các em trong quá trình tự học.