1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LƢƠNG THỊ BÌNH
PHƢƠNG PHÁP GIẢI CÁC BÀI TOÁN HOÁ HỌC
VÔ CƠ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
(Bộ môn Hoá học)
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM HOÁ HỌC
HÀ NỘI - 2011
3
DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BT : Bài tập
BTHH : Bài toán hóa học
dd : Dung dịch
đktc : Điều kiện tiêu chuẩn
ĐC : Đối chứng
ĐLBT : Định luật bảo toàn
HS : Học sinh
GV : Giáo viên
THPT : Trung học phổ thông
TN : Thực nghiệm
TNSP : Thực nghiệm sư phạm
PTPƯ : Phương trình phản ứng.
3
6. Vấn đề nghiên cứu.
3
7. Giả thuyết nghiên cứu
3
8. Phương pháp chứng minh luận điểm.
3
9.Đóng góp mới của đề tài
4
10. Cấu trúc luận văn
4
Chƣơng 1: BÀI TẬP HÓA HỌC VÀ BÀI TOÁN HÓA HỌC
VÔ CƠ.
5
1.1. Bài tập hóa học
5
1.1.1. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học
5
1.1.2. Phân loại bài tập hóa học
6
1.1.3. Xu hướng phát triển của bài tập hóa học trong giai đoạn hiện nay
7
1.1.4. Bài toán hóa học và tình hình giải bài toán hóa học của học sinh
THPT hiện nay
8
1.2. Phương pháp chung giải các bài toán hoá học THPT
9
1.2.1. Những công thức cần thiết khi giải bài toán hóa học
29
2.3. Phân loại các bài toán hóa học vô cơ lớp 12
31
2.4. Bài toán về phản ứng của kim loại
33
2.4.1. Bài toán về kim loại tác dụng với phi kim
33
2.4.2. Bài toán về kim loại tác dụng với axit
39
2.4.3. Bài toán kim loại tác dụng với dung dịch muối
52
2.4.5. Bài toán kim loại tác dụng với nước và dung dịch kiềm.
60
2.5. Bài toán về phản ứng của hợp chất kim loại
66
2.5.1. Bài toán về phản ứng của hiđroxit kim loại kiềm và kim loại
kiềm thổ với CO
2
(hoặc SO
2
)
66
2.5.2. Bài toán về phản ứng của muối cacbonat(CO
2
3
; HCO
3
rộng đào sâu kiến thức ( trong giờ luyện tập, ôn tập)
110
2.7.3. Sử dụng BTHH nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ vận dụng
kiến thức của học sinh (trong giờ kiểm tra )
111
Tiểu kết chương 2
118
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
119
3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
119
3.1.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm
119
3.1.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
119
3.2. Quá trình tiến hành thực nghiệm sư phạm
119
6
3.2.1. Chuẩn bị cho quá trình thực nghiệm
119
3.2.2. Tiến hành thực nghiệm
120
3.2.3. Kết quả các bài kiểm tra
120
3.2.4. Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm
121
3.2.5. Tính các tham số đặc trưng thống kê
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong dạy học hóa học, có thể nâng cao chất lượng dạy học và phát
triển năng lực nhận thức của học sinh bằng nhiều biện pháp và phương pháp
khác nhau.Trong đó, giải bài tập hóa học với tư cách là một phương pháp dạy
học, có tác dụng rất tích cực đến việc giáo dục, rèn luyện và phát triển tư duy
của học sinh.
Trong thực tiễn dạy học hóa học ở trường phổ thông, bài toán hóa học
giữ vai trò rất quan trọng, nó vừa là nội dung vừa là phương pháp dạy học
hiệu quả, nó không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức mà còn mang lại
niềm vui cho học sinh trong quá trình giải các bài toán hóa.
Hiện nay hình thức kiểm tra bằng trắc nghiệm khách quan đang được
triển khai thực hiện thì số sách viết về giải toán hóa học được tăng lên đáng
kể. Các sách đều có một kết cấu giống nhau là chia thành nhiều cách giải như
cách giải dựa vào các định luật bảo toàn trong hóa học (định luật bảo toàn
khối lượng, định luật bảo toàn điện tích, định luật bảo toàn nguyên tố, định
luật bảo toàn electron ), phương pháp tăng giảm khối lượng, phương pháp
trung bình,phương pháp đường chéo, phương pháp qui đổi v.v.Nhiều phương
pháp được đưa ra gây khó khăn cho người đọc nhất là các em học sinh.
Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng việc giải bài toán có
thể thực hiện theo một phương pháp chung là dựa vào quan hệ giữa số mol
của các chất phản ứng và dựa vào các công thức biểu thị quan hệ giữa số mol
chất với các đại lượng như thể tích, khối lượng, nồng độ, của chất. Quan hệ
giữa số mol các chất phản ứng có thể dễ dàng được thiết lập khi đã viết được
phương trình phản ứng, còn số công thức cần sử dụng không nhiều (4- 5 công
thức) do đó việc giải BTHH theo phương pháp trên rất đơn giản, dễ sử dụng
- Quan sát :
+ Tình hình giải toán hóa học của học sinh phổ thông.
+ Hứng thú của học sinh khi học phương pháp giải các bài toán hóa học
vô cơ lớp 12.
- Xây dựng phương pháp chung giải toán hóa học vô cơ.
- Xây dựng hệ thống các bài toán hóa học vô cơ lớp 12 .
3
- Điều tra: Phát phiếu điều tra về hứng thú của học sinh với phương
pháp giải toán hóa vô cơ.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá chất lượng, tính hiệu quả của đề tài
4. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất phương pháp chung giải bài tập hóa học THPT-
phần hóa vô cơ lớp 12.
5. Mẫu khảo sát
- Học sinh lớp 12 trường THPT
6. Vấn đề nghiên cứu
Lựa chọn và sử dụng phương pháp chung giải bài tập hóa học THPT
như thế nào để học sinh có thể áp dụng giải được dễ dàng hầu hết các bài toán
hóa vô cơ ?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Khả năng ứng dụng phương pháp chung giải các bài toán hóa học vô cơ
ở trường THPT là rất khả quan. Áp dụng phương pháp này học sinh có thể
giải được dễ dàng hầu hết các bài toán hóa vô cơ. Mặt khác khi học sinh và
giáo viên thống nhất phương pháp giải thì công việc giảng dạy sẽ thuận lợi
hơn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học phổ thông.
8. Phƣơng pháp chứng minh luận điểm
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn.
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
- Phương pháp thu thập và xây dựng các nguồn tài liệu.
5
Chƣơng 1: BÀI TẬP HÓA HỌC VÀ BÀI TOÁN HÓA HỌC VÔ CƠ
1.1. Bài tập hóa học
1.1.1. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học
Bài tập hóa học là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu
hỏi, hoặc đồng thời cả bài toán và cả câu hỏi, mà trong khi hoàn thành chúng,
học sinh nắm được một tri thức hay kỹ năng nhất định và hoàn thiện chúng.
Trong quá trình dạy học ở trường THCS hay THPT không thể thiếu bài
tập hóa học. Bài tập hóa học là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao
chất lượng dạy học, nó giữ vững một vai trò lớn lao trong việc thực hiện mục
tiêu đào tạo: Nó vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại là phương pháp dạy học
hiệu nghiệm. Bài tập hóa học không những cung cấp cho học sinh kiến thức
mà còn là con đường giành lấy kiến thức và cả hứng thú say mê học tập. Bài
tập hóa học có những ý nghĩa và vai trò quan trọng trong việc thực hiện các
nhiệm vụ trí dục, đức dục và giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
a. Tác dụng trí dục
- Bài tập hóa học có tác dụng giúp cho học sinh hiểu sâu hơn các kiến
thức ,khái niệm, tính chất đã học, củng cố kiến thức đã học một cách thường
xuyên và hệ thống kiến thức một cách có hiệu quả
- Ôn tập hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất, đào sâu, mở
rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú và không làm cho học sinh
buồn chán khi học môn hóa học.
- Bài tập hóa học thúc đẩy thường xuyên sự rèn luyện các kỹ năng, kỹ
xảo cần thiết về hóa học cho học sinh.
- Bài tập hóa học tạo điều kiện cho học sinh phát triển năng lực tư duy.
như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa, suy luận
b. Tác dụng đức dục.
lựa chọn đáp án đúng trong số các phương án đã cho sẵn. Thời gian làm một
bài trắc nghiệm rất ngắn, chỉ khoảng 1-2 phút. Bài tập trắc nghiệm có các
dạng sau: bài tập điền khuyết, bài tập đúng sai, bài tập ghép đôi và bài tập
nhiều lựa chọn.
7
- Bài tập thực nghiệm: là những bài tập cần vận dụng kiến thức lí thuyết
để giải quyết các vấn đề về thực nghiệm. Bài tập thực nghiệm là những bài
tập vừa mang tính chất lí thuyết vừa mang tính chất thưc nghiệm.
Tùy theo tính chất của các dạng bài tập mà người ta còn chia thành bài
tập định tính (không có tính chất tính toán), bài tập định lượng (có tính toán)
và bài tập hỗn hợp (có sự kết hợp giữa định tính và định lượng).
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến các bài tập tính toán định
lượng hay các bài toán hóa học.
1.1.3. Xu hướng phát triển của bài tập hóa học trong giai đoạn hiện nay
Thực tế cho thấy có nhiều bài tập hóa học còn quá nặng nề về thuật
toán, nghèo nàn về kiến thức hóa học và không có liên hệ với thực tế hoặc mô
tả không đúng với các quá trình hóa học. Khi giải bài tập này thường mất thời
gian tính toán toán học, kiến thức hóa học lĩnh hội được không nhiều và hạn
chế khả năng sáng tạo, nghiên cứu khoa học hóa học của học sinh. Các dạng
bài tập này dễ tạo lối mòn trong suy nghĩ hoặc nhiều khi lại quá phức tạp, rối
rắm với học sinh làm cho các em thiếu tự tin vào khả năng của bản thân dẫn
đến chán học, học kém.
Định hướng xây dựng chương trình SGK THPT của Bộ Giáo dục và
Đào tạo (2002 ) có chú trọng đến tính thực tiễn và đặc thù của môn học trong
lựa chọn kiến thức nội dung SGK. Xu hướng phát triển chung của bài tập hóa
học trong giai đoạn hiện nay cần đảm bảo các yêu cầu:
- Loại bỏ những bài tập có nội dung trong hóa học nghèo nàn nhưng lại
cần đến những thuật toán phức tạp để giải (hệ nhiều ẩn, nhiều phương trình,
bất phương trình, phương trình bậc hai, cấp số cộng, cấp số nhân…).
giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về các khái niệm cũng như các định luật trên.
Tình hình giả ibài toán hóa học của học sinh THPT hiện nay.
Với số lượng các tiết dạy lí thuyết trên lớp rất nhiều thường cả chương
mới có từ 1-2 tiết luyện tập mà trong tiết luyện tập giáo viên còn phải hệ
thống lại nội dung kiến thức của cả chương chính vì thế thời gian để luyện các
9
BTHH là không nhiều. Giáo viên không có thời gian dạy các em về lí thuyết
phương pháp chung giải BTHH mà chỉ có thể chữa được một số ít các BTHH.
Nên đòi hỏi học sinh phải tự nghiên cứu là chính. Học sinh buộc phải đi học
thêm hoặc mua sách tự nghiên cứu. Nhưng đi học thêm thì mỗi giáo viên lại
có một cách giảng khác nhau, cách giải bài tập khác nhau làm cho học sinh
không biết theo ai. Rồi tự mua sách về nghiên cứu thì có quá nhiều sách tham
khảo học sinh không thể biết được nên chọn lựa và học như thế nào. Cụ thể
phần phương pháp giải BTHH có rất nhiều sách viết về vấn đề này. Nhưng
hầu hết các sách đều đưa ra quá nhiều phương pháp như phương pháp đường
chéo, phương pháp tăng giảm khối lượng, phương pháp bảo toàn khối lượng,
bảo toàn nguyên tố, bảo toàn điện tích, bảo toàn số mol electron, phương pháp
đại số, phương pháp ghép ẩn số… làm cho học sinh cảm thấy rất rối vì phải
hiểu được nội dung, bản chất từng phương pháp và khi nào sử dụng các
phương pháp đó. Đây quả là một khó khăn cho các em. Với bài toán hóa học
vô cơ học sinh còn gặp khó khăn là nhiều trường hợp: không viết được
phương trình phản ứng. không tìm được phương pháp giải phù hợp, không
biết cách trình bày hợp lí và logic việc giải các bài tập.v.v… Trong đó lúng
túng nhất là không tìm được phương pháp giải bài tập.
Như vậy nghiên cứu đưa ra một phương pháp chung giải BTHH đơn
giản và dễ sử dụng đối với học sinh THPT là một nhiệm vụ rất cần thiết. Mục
đích của luận văn này là nhằm đóng góp một phần vào giải quyết nhiệm vụ
nêu trên.
1.2. Phƣơng pháp chung giải các bài toán hoá học THPT
ct
) và thể tích dung dịch (V).
STT
Công thức
Số mol chất
1
m = M.n
m
n
M
2
V
0
= n.22,4
0
22,4
V
n
3
()
ct
M
n
C
Vl
) và khối lượng hay thể tích dung dịch (m
dd
, V
dd
).
Chú ý: Trong công thức (3), V tính bằng lít còn trong công thức (4), V
tính bằng ml, d tính bằng g/ml.
Áp dụng công thức trên cho trường hợp hỗn hợp các chất, ví dụ hỗn
hợp gồm 2 chất có khối lượng là m
1
, m
2
có khối lượng mol là M
1
, M
2
và số
mol là n
1
, n
2
ta có:
1 1 2 2 hhm n M n M
1 1 2 2
12
hh
hh
hh
m n M n M
A B C D
a a a
n n n n
b c d
D A B C
ddd
n n n n
a b c
Ví dụ 1: Xét phương trình:
2Al + 6HCl → 2AlCl
3
+ 3H
2
n
Al
=
1
3
n
HCl
=
3
AlCl
n
=
2
2
O
3
+ 3H
2
O (4)
Giả sử cần thiết lập quan hệ giữa n
Fe
và
23
Fe O
n
Ta thấy: n
Fe
=
2
FeCl
n
,
2
FeCl
n
=
2
()Fe OH
n
,
2
()Fe OH
loãng thu được 1 chất khí và dung dịch D. Thêm dung dịch
NaOH vào dung dịch D cho tới dư, lọc lấy kết tủa, đem nung trong không khí
đến khối lượng không đổi, thu được một chất rắn.
Thiết lập quan hệ giữa khối lượng hỗn hợp, số mol chất khí và số mol
chất rắn với số mol các kim loại trong hỗn hợp ban đầu
Lời giải:
2Na + H
2
SO
4
Na
2
SO
4
+ H
2
. (1)
2Al +3 H
2
SO
4
Al
2
(SO
4
)
3
+3 H
+ NaOH
NaAlO
2
+ 2H
2
O (5)
FeSO
4
+ 2 NaOH
Na
2
SO
4
+ Fe(OH)
2
(6)
4 Fe(OH)
2
+ O
2
+ 2H
2
O
4Fe(OH)
3
(7)
2Fe(OH)
Theo (8), (7), (6) và (3) :
23
Fe O
1
nz
2
(c)
13
Các phương trình (a), (b), (c) biểu thị các quan hệ cần tìm.
Qua các ví dụ trên, nhận thấy khi đã viết và cân bằng được các phương
trình phản ứng thì dễ dàng thiết lập được quan hệ giữa số mol của các chất
phản ứng. Dựa vào các quan hệ này và các công thức đã nêu ở trên có thể giải
quyết được các BTHH .
1.2.3. Phương pháp chung giải toán hóa học
Các BTHH có thể chia thành 2 loại là bài toán hỗn hợp và “không hỗn
hợp” .
- Bài toán “không hỗn hợp” là loại bài toán liên quan đến phản ứng của
1 chất qua một giai đoạn hay 1 dãy biến hóa. (như ví dụ 1, ví dụ 3 ở trên).
- Bài toán hỗn hợp là loại bài toán liên quan đến phản ứng của hỗn hợp
chất.( như ví dụ 3 ở trên ).
1.2.3.1. Loại bài toán “không hỗn hợp”
Phương pháp giải các bài toán loại này là: Lập biểu thức tính đại
lượng mà bài toán yêu cầu rồi dựa vào quan hệ giữa số mol của “chất cần tính
toán” với số mol của “chất có số liệu cho trước” và dựa vào các công thức để
giải.
Ví dụ 1:
Hòa tan vừa đủ 2,4 gam Mg vào 100 ml dung dịch HCl nồng độ aM.
1. Tính thể tích khí H
= 22,4 . 0,1 = 22,4 ( lit).
2.a=
0,1
HCl
H
n
=
0,2
0,1
= 2M
14
Ví dụ 2:
Oxi hóa hoàn toàn 11,2l khí NH
3
(ở đktc) có xúc tác thu được khí A,
oxi hóa khí A thu được khí B màu nâu. Hòa tan toàn bộ khí B vào 146ml H
2
O
với sự có mặt của oxi tạo thành dung dịch HNO
3
.
1. Tính nồng độ % của dung dịch axit
2. Tính nồng độ mol của dung dịch HNO
3
biết tỉ khối của dung dịch là 1,2
g/ml
Lời giải:
Ptpư: 4NH
3
Theo ptpư (1), (2), (3):
33
11,2
0,5
22,4
HNO NH
nn
mol
3 2 2 2
(3)
ddHNO NO O H O
m m m m
0,5
46.0,5 32. 146 173
4
g
Suy ra :C% ddHNO
3
=
0,5.63
.100% 18,2%
173
2.
3
M,ddHNO
Ví dụ 3:
Cho m gam hỗn hợp gồm Mg và MgO tác dụng vừa đủ với 1 lít dung
dịch HCl 1M thu được 3,36 lít khí H
2
(đktc) và dung dịch Y.
1. Tính m?
2. Tính C
M
chất có trong dung dịch Y? Coi thể tích dung dịch không
đổi.
Lời giải:
Ptpư:
Mg + 2HCl → MgCl
2
+ H
2
↑ (1)
MgO + 2HCl → MgCl
2
+ H
2
O (2)
1. Đặt số mol Mg và MgO là x , y ta có:
n
HCl
= 2x + 2y = 1. (a)
2
H
n
= x = 0,15 (b)
3
thu được 2,464 lít khí ( đktc) và hỗn hợp rắn A. Hòa tan A bằng
một thể tích vừa đủ dung dịch H
2
SO
4
0,1M thu được 1,568 lít khí (đktc) và
2,33 gam một chất kết tủa.
16
1. Tính khối lượng các chất trong hỗn hợp ban đầu.
Tính thể tích dung dịch H
2
SO
4
0,1M cần để hòa tan hỗn hợp rắn A.
Lời giải:
1. Khi nhiệt phân hỗn hợp:
BaCO
3
BaO + CO
2
(1)
MgCO
3
MgO + CO
2
(2)
+ H
2
SO
4
→K
2
SO
4
+ H
2
O + CO
2
(4)
BaO + H
2
SO
4
BaSO
4
+ H
2
O (5)
MgO + H
2
SO
4
22,4
(b)
Theo (3) và (4) :
2
CO
1,568
n 0,07 x y
22,4
(c)
Theo (5) và (1):
4
BaSO
2,33
n 0,01 z
233
(d)
Giải 4 phương trình (a), (b), (c), (d) thu được:
x = 0,05; y = 0,02; z = 0,01; t = 0,1
Suy ra:
23
Na CO
m
= 106. 0,05 = 5,3(g);
23
K CO
m
= 138. 0,02 = 2,76 (g).
a. Giải hệ kết hợp với biện luận dựa vào các điều kiện của ẩn số.
Ví dụ ẩn số là số mol chất thì phải luôn dương, ẩn số là hoá trị của kim
loại thì hóa trị chỉ nhận giá trị từ 1,2 hoặc 3, dựa vào các điều kiện như vậy
có thể biện luận để giải được hệ phương trình vô định.
b. Giải hệ dựa vào việc tính khối lƣợng mol trung bình của hỗn
hợp.
Thí dụ, với hỗn hợp gồm hai chất 1 và 2:
hh 1 1 2 2
hh
hh 1 2
m M n M n
M
n n n
Tính
hhM
và bất đẳng thức M
1
<
hhM
< M
2
sẽ giải được hệ phương
trình vô định.
Phương pháp này thường được sử dụng khi đã biết khối lượng và số
mol của hỗn hợp, đặc biệt với bài toán hỗn hợp các kim loại hoặc muối của
O + CO
2
(1)
BCO
3
+ 2HCl → BCl
2
+ H
2
O + CO
2
(2)
Ta có hệ 2 phương trình, 4 ẩn số:
m
hh
= (A + 60) x + (B + 60) y = 28,4 (a)
2
CO
n
x + y = 0,3 (b)
Cách 1: Từ (a), (b) suy ra: Ax + By = 10,4.
Thay x= 0,3 – y thu được: y =
10,4 0,3A
BA
Với điều kiện 0 < y < 0,3 ; 0,3A < 10,4 hay A < 34,67
Các kim loại nhóm IIA thỏa mãn điều kiện trên chỉ có Be (A= 9) hoặc
Mg(A=24).
28,4
94,67
0,3
ta có bất đẳng thức
A + 60 < 94,67 < B+ 60 hay A< 34,67 < B.
19
Hai kim loại A, B thỏa mãn điều kiện trên và điều kiện của đề bài chỉ có thể
là Mg ( A=24) và Ca ( B=40).
Thay A= 24, B= 40 vào (a) và giải hai phương trình (a), (b) thu được x=0,1;
y= 0,2; từ đó tính được phần trăm khối lượng của hai muối như cách 1
Cách 3 : Có thể giải bài toán trên nhanh gọn hơn bằng cách đặt CTPTTB hai
muối là
R
CO
3
, với số mol là a :
R
CO
3
+ 2HCl
R
Cl
2
+ CO
2
+ H
* *
*
Hiện nay, hình thức thi trắc nghiệm ngày càng phổ biến mà đặc điểm
của loại hình kiểm tra này là số lượng câu hỏi nhiều vì thế thời gian làm bài
rất ngắn. Ngoài việc áp dụng phương pháp chung giải các BTHH nêu trên,
20
học sinh cần kết hợp, vận dụng hợp lí các định luật sẵn có trong hóa học như :
định luật bảo toàn khối lượng, định luật bảo toàn số mol electron, định luật
bảo toàn nguyên tố, định luật bảo toàn điện tích, và sử dụng phương trình ion
thu gọn để giải nhanh các BTHH.
1.3. Áp dụng các định luật bảo toàn trong hóa học để giải nhanh các bài
toán hóa học
1.3.1. Định luật bảo toàn khối lượng
“Tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng bằng tổng khối lượng
các chất tạo thành sau phản ứng”.
Ví dụ 1:
Hòa tan hoàn toàn 23,8 gam hỗn hợp A gồm hai muối cacbonat của hai
kim loại hóa trị I và II trong dung dịch HCl. Sau phản ứng thu được 4,48 lit
khí (ở đktc). Đem cô cạn dung dịch thu m gam muối khan. Tính m.
Lời giải:
Gọi công thức của 2 muối là M
2
CO
3
và RCO
3
, ta có:
M
2
= n
CO2
= 0,2 mol
Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng ta có:
m
hh
+ m
HCl
= m+ m
CO2
+ m
H2O
m = 23,8 + 0,4.36,5 – (0,2.44 + 0,2.18) = 26 gam
Ví dụ 2:
Khử hoàn toàn 16g bột oxit sắt bằng CO ở nhiệt độ cao, sau khi phản
ứng kết thúc khối lượng chất rắn giảm 4,8g. Xác định công thức oxit sắt và
thể tích khí CO cần dùng (đktc).
Lời giải:
Fe
x
O
y
+ y CO
xFe + y CO
2