ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐỖ THANH HÒA
PHƢƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TÁC PHẨM VĂN HỌC
HIỆN THỰC PHÊ PHÁN 1930 – 1945 Ở TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2011
Viết tắt Viết đầy đủ
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
NXB: Nhà xuất bản
SGK: Sách giáo khoa
THPT: Trung học phổ thông
PPDH: Phương pháp dạy học
ĐMPPDH: Đổi mới phương pháp dạy học
GS. TS: Giáo sư, Tiến sĩ
PGS. TS: Phó Giáo sư, Tiến sĩ MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 39
3.2. Những đề xuất nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy tác phẩm văn học
hiện thực phê phán trong chương trình lớp 11 THPT ban Cơ bản 40
3.2.1. Phương pháp đọc tác phẩm 40
3.2.2. Phương pháp diễn giảng 45
3.2.3. Phương pháp đàm thoại 47
3.2.4. Phương pháp trực quan 53
3.2.5. Phương pháp dạy học nêu vấn đề 61
3.3. Giáo án thể nghiệm 65
3.3.1 Giáo án 65
3.3.2. Tự đánh giá giáo án thể nghiệm 99
3.3.3 Thể nghiệm sư phạm 99
3.3.4 Kết luận chung về quá trình thể nghiệm 100
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101
1.1. Kết luận 101
1.2. Khuyến nghị 102
1.2.1. Đối với Sở Giáo dục và đào tạo 102
1.2.2. Đối với nhà trường 102
1.2.3. Đối với giáo viên 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Trong những năm gần đây, vấn đề chất lượng giáo dục đã trở thành mối
quan tâm lớn không chỉ của riêng ngành giáo dục mà của toàn xã hội. Chính
phương pháp trong một thời gian khá dài. Tuy nhiên việc giảng dạy phần
chương trình này vẫn chưa thực sự hiệu quả.
Chính vì thế, với việc thực hiện luận văn này, tôi mong muốn tìm ra
được một phương pháp giảng dạy phù hợp, mang tính khoa học và nghệ thuật
với phần chương trình này, góp nâng cao hiệu quả giờ giảng dạy Ngữ Văn,
bồi dưỡng cho học tình yêu với môn học này, cũng là góp thêm một phần tích
cực nhằm nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
Đổi mới phương pháp dạy học đang là một vấn đề trọng tâm, một đòi
hỏi cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của nền giáo dục Việt
Nam. Nhiều tác giả tham gia nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học nói
chung hoặc những hình thức, biện pháp góp phần đổi mới phương pháp dạy
học:
- Đổi mới phương pháp dạy học – chương trình và sách giáo khoa (Trần
Bá Hoành, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2006)
3
- Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm (Nguyễn Kì,
Trường Cán bộ Quản lí giáo dục và đào tạo, 1996)
- Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại (Thái Duy Tuyên, Nhà
xuất bản Giáo dục, 1999)
- Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ Văn trung học phổ
thông (Đỗ Ngọc Thống, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006)
2.2. Phương pháp giảng dạy tác phẩm văn học hiện thực phê phán 1930-
1945
Phương pháp giảng dạy tác phẩm văn học hiện thực phê phán 1930-
1945 đã được một số tác giả quan tâm, nghiên cứu, tuy nhiên mới chỉ dừng lại
ở góc độ từng bài học tác phẩm cụ thể hoặc áp dụng một phương pháp nhất
định nào đó trong dạy học một tác phẩm:
- Vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết hiện thực 1930-1945 (Tạp chí
Nghiên cứu văn học số 2, 2003)
- Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam (Nguyễn Đức Đàn,
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1968)
2.4. Về tác giả Vũ Trọng Phụng và tiểu thuyết Số đỏ
Vũ Trọng Phụng là một tác giả lớn, có tên tuổi và vị trí vững chắc trong
nền văn học hiện đại Việt Nam, chính vì thế, việc nghiên cứu về tác giả và
những tác phẩm của ông trong đó có Số đỏ thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu
với các phê bình, tiểu luận, báo, tạp chí hay giáo trình:
5
- Giáo trình Văn học Việt Nam 1930-1945 (Phan Cự Đệ, Trần Đình
Hượu, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007)
- Tìm hiểu nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng qua tiểu thuyết
Số đỏ (Luận văn Thạc sĩ Văn học, Choi Young Lan, Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn, 2009)
- Vũ Trọng Phụng – nhà văn hiện thực (1912-1939) (Tiểu luận Văn
Tâm, Kim Đức 1957)
- Điển hình hóa – một trong những thành công xuất sắc của Vũ Trọng
Phụng trong Giông tố và Số đỏ (Nguyễn Thị Bích Nga, Tạp chí khoa học xã
hội, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 5, 1999)
- Số đỏ - tác phẩm và lời bình (Tôn Thảo Miên, Nhà xuất bản văn học,
2007)
2.5. Về tác giả Nam Cao và truyện ngắn Chí Phèo
Nam Cao cũng là một nhà văn lớn, là một trong những nhà văn đem lại
nhiều cái mới, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của văn xuôi Việt Nam
hiện đại. Các tác phẩm của ông, trong đó tiêu biểu là Chí Phèo thể hiện rất rõ
quan điểm sáng tác tiến bộ, cách viết chân thực, với một tầm khái quát cao.
Một số công trình nghiên cứu về tác giả và tác phẩm:
- Giáo trình Văn học Việt Nam 1930-1945 (Phan Cự Đệ, Trần Đình
11 ở trường THPT.
5.3. Phạm vi nghiên cứu
7
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hai bài học Hạnh phúc của một tang
gia (trích Số đỏ - Vũ Trọng Phụng) và Chí Phèo (Nam Cao) trong chương
trình Ngữ Văn 11 ban Cơ bản.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Vận dụng các phương pháp trong dạy học tác phẩm văn học hiện thực
phê phán 1930-1945 ở trường THPT như thế nào để có hiệu quả tích cực?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Việc vận dụng linh hoạt, phù hợp các phương pháp trong dạy học tác
phẩm văn học hiện thực phê phán 1930-1945 ở trường THPT sẽ góp phần tạo
hiệu quả tích cực trong việc nâng cao chất lượng dạy học phần văn học hiện
thực phê phán nói riêng và dạy học Ngữ Văn nói chung.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu lí luận về các phương pháp dạy học Ngữ Văn, vấn đề đổi
mới phương pháp dạy học, văn học hiện thực phê phán, vấn đề tác giả, nội
dung và nghệ thuật hai tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ -
Vũ Trọng Phụng) và Chí Phèo (Nam Cao)… Các tài liệu trong quá trình
nghiên cứu sẽ được phân tích, tổng hợp một cách có hệ thống để thấy rõ được
yêu cầu và sự phù hợp của việc ĐMPPDH qua hai bài học này.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn giáo viên ở một số trường THPT
về thực trạng việc dạy học các tác phẩm văn học hiện thực phê phán trong
chương trình lớp 11 THPT ban Cơ bản.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng bảng hỏi điều tra học
sinh và GV dạy Văn khối 11 ở trường THPT Vân Tảo – Hà Nội. Qua đó phần
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC GIẢNG DẠY TÁC PHẨM
VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN 1930-1945 Ở TRƢỜNG TH PT
1.1. Quan niệm về đồi mới phƣơng pháp dạy học
Đổi mới phương pháp dạy học được hiểu là đưa các phương pháp dạy
học mới vào nhà trường trên cơ sở phát huy tính tích cực của các phương
pháp dạy học truyền thống, nâng cao hiệu quả đào tạo của giáo dục. Đổi mới
phương pháp dạy học nhằm góp phần thực hiện mục tiêu Giáo dục – đào tạo
trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó nhấn mạnh
đến đào tạo những người lao động có bản lĩnh, có năng lực, chủ động, sáng
tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng thích ứng với những đổi thay trong xã hội
hiện đại Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong hoạt
động học tập để tự phát hiện, tự giải quyết các vấn đề trong học tập và trong
đời sống, từ đó tự chiếm lĩnh và biết vận dụng các kiến thức và kĩ năng cơ bản
với sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên.
Đổi mới phương pháp dạy học không chỉ bó hẹp trong phạm vi hoạt
động của giáo viên và học sinh trong các giờ lên lớp mà bao gồm cả đổi mới
phương pháp trình bày nội dung các tài liệu dạy học, đổi mới cách sắp xếp
các nội dung dạy học cụ thể nhằm tích cực hóa hoạt động của giáo viên và
học sinh trong quá trình dạy học.
Đổi mới phương pháp dạy học được thực hiện dựa trên các định hướng:
- Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông.
- Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể.
- Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh.
- Phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện dạy học của nhà
trường.
10
- Phù hợp với việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả dạy – học.
- Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, hiệu quả các
khó khăn.
Về phía giáo viên, mặc dù đã có ý thức đổi mới phương pháp dạy học
văn nhưng việc thực hiện chỉ mới mang tính chất hình thức, thử nghiệm chứ
chưa đem lại hiệu quả như mong muốn. Một số giáo viên vẫn còn thói quen
dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều: giáo viên giảng giải, học
sinh lắng nghe, ghi nhớ và biết nhắc lại đúng những điều mà giáo viên đã
truyền đạt. Giáo viên chủ động cung cấp kiến thức cho học sinh, áp đặt những
kinh nghiệm, hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới học sinh. Nhiều
giáo viên chưa chú trọng đến việc tiếp thu, vận dụng kiến thức của học sinh
cũng như việc chỉ ra cho người học con đường tích cực chủ động để thu nhận
kiến thức. Do đó, có những giờ dạy được giáo viên tiến hành như một giờ
diễn thuyết, thậm chí giáo viên còn đọc chậm cho học sinh chép lại những gì
có sẵn ở giáo án. Giờ học tác phẩm văn chương vì thế vẫn chưa thu hút được
sự chú ý của người học, một bộ phận không nhỏ học sinh vẫn tỏ ra bàng quan,
thờ ơ với văn chương. Hơn nữa, không ít giáo viên đứng lớp chưa được trang
bị kỹ càng, đồng bộ về quan điểm và lý luận phương pháp dạy học Văn mới.
Vấn đề quan điểm và lý luận phương pháp dạy học Văn mới chỉ đến với
người dạy qua một số tài liệu, thiên về cung cấp lý thuyết hơn là hướng dẫn
thực hành. Một số các giáo trình tài liệu về phương pháp dạy học Văn còn
mang bệnh lý thuyết và sách vở hoặc chịu tác động từ các phương pháp dạy
học của nước ngoài. Nhiều giáo viên còn mơ hồ trước những khối lý luận
phương pháp dạy học chung chung áp dụng lúc nào cũng đúng không chỉ cho
riêng bộ môn Văn mà cả các bộ môn khác.
Tuy không thể phủ nhận rằng trong khoảng một thập niên trở lại đây,
việc đổi mới cách dạy học Văn đã được tiến hành rộng khắp trong cả nước,
12
vai trò và mối quan hệ giữa người dạy và người học đã khác trước, sự chủ
động, tích cực của học sinh trong giờ học được đề cao, các phương tiện dạy
học phong phú hơn. Tuy nhiên, tất cả những gì diễn ra ở môn Văn dường như
cái cũ. Bên cạnh việc vận dụng những phương pháp mới thì cần tận dụng
những nhân tố tích cực của cái cũ, phương pháp cũ để nó có cơ hội phát triển
mạnh mẽ hơn, đồng thời tạo ra cái mới tiến bộ hơn. Nếu phương pháp dạy
học cũ có một ưu điểm lớn là phát huy trí nhớ, tập cho học sinh làm theo một
điều nào đó, thì phương pháp mới vẫn cần những ưu điểm trên. Song cái khác
căn bản ở đây là phương pháp giảng dạy cũ đã phần nhiều “bỏ quên học
sinh”, học sinh bị động trong tiếp nhận. Còn phương pháp giảng dạy mới phải
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Phát huy tính tích cực của học sinh thông qua hàng loạt các tác động
của giáo viên là bản chất của phương pháp giảng dạy mới. Khi nói đến tính
tích cực, chúng ta quan niệm là lòng mong muốn hành động được nảy sinh từ
phía học sinh, được biểu hiện ra bên ngoài hay bên trong của sự hoạt động.
Nhờ phát huy được tính tích cực mà học sinh không còn bị thụ động. Học
sinh trở thành các cá nhân trong một tập thể mang khát vọng được khám phá,
hiểu biết. Muốn vậy, điều khó khăn nhất với người giáo viên là: Trong một
giờ lên lớp, phải làm sao cho những học sinh tốt nhất cũng được thoả mãn
nhu cầu tri thức, thấy tri thức là một chân trời mới, còn những học sinh học
yếu nhất cũng không thấy bị bỏ rơi, họ cũng tham gia được vào quá trình
khám phá cái mới. Điều này là đặc biệt cần thiết, vì học sinh sẽ hào hứng để
đi tìm tri thức chứ không còn bị động, bị nhồi nhét nữa.
Tóm lại, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học luôn là một đòi hỏi bức
thiết, một trong những nhiệm vụ quan trọng của cải cách giáo dục, cải cách
cấp trung học phổ thông nói chung và môn Ngữ Văn nói riêng, nhằm nâng
cao chất lượng dạy và học. Thực tế việc thực hiện của giáo viên ở các nhà
14
trường đã có nhiều cố gắng và đạt được những tiến bộ nhất định. Tuy nhiên
cần phải có sự tích cực hơn nữa từ phía các giáo viên để việc đổi mới phương
pháp dạy học Ngữ Văn thực sự đem lại hiệu quả lâu dài và toàn diện.
1.3. Tổng quan về văn học hiện thực phê phán 1930-1945
phạm vi ảnh hưởng và tầm bao quát hiện thực của văn học hiện thực còn
tương đối hạn hẹp. Tác phẩm chưa chỉ ra được những mâu thuẫn cơ bản, chưa
đặt ra được những vấn đề lớn mang tầm khái quát và chưa có nhiều tác phẩm
gây được sự chú ý cao. Thế giới nhân vật hướng đến tầng lớp thị dân nghèo
và nhà văn mới chỉ nhìn thấy con người họ trong sự hèn kém, yếu đuối, dễ bị
lưu manh hóa. Tính chiến đấu của văn học giai đoạn này theo đó cũng chưa
cao. Một số tác phẩm tiêu biểu: truyện ngắn Kép Tư Bền (Nguyễn Công
Hoan); phóng sự Tôi kéo xe (Tam Lang); kịch Không một tiếng vang, phóng
sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây (Vũ Trọng Phụng)
Từ 1936 đến 1939: Thời kì Mặt trận dân chủ đấu tranh công khai đã tạo
điều kiện cho văn học hiện thực phát triển hơn hẳn so với giai đoạn trước về
đề tài, thể loại và nội dung phản ánh hiện thực, đã có nhiều tác phẩm có tầm
bao quát hiện thực rộng lớn. Tuy còn một số hạn chế, nhưng đây là chặng
đường chủ nghĩa hiện thực đạt tới đỉnh cao, các nhà văn đã xây dựng được
nhiều tác phẩm có tiếng nói trực tiếp, thời sự và có tính chiến đấu, trong đó đã
xuất hiện nhiều điển hình văn học: Nghị Hách (Giông tố), Xuân tóc đỏ (Số
đỏ) của Vũ Trọng Phụng; chị Dậu, Nghị Quế trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố;
anh Pha, nghị Lại trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan
Từ 1940 đến 1945: Đây là giai đoạn văn học hiện thực phát triển theo
chiều hướng đi xuống bởi hoàn cảnh xã hội, chính trị tác động. Chế độ kiểm
duyệt gắt gao đã làm cho nhiều nhà văn hiện thực hoang mang, tư tưởng bị
dao động dần suy thoái và bế tắc. Các nhà văn thiên về “hướng nội và giàu
16
chất tự truyện”. Thời kì này chỉ duy nhất các tác phẩm của Nam Cao là có
được tầm hiện thực và tính chiến đấu mãnh liệt nhất. “Nam Cao đã dựng lên
bức tranh chân thực về nông thôn việt Nam trên con đường phá sản, bần cùng,
không lối thoát, hết sức thê thảm vào những năm 1940-1945” [31, tr. 48].
Những tác phẩm tiêu biểu: Chí Phèo, Lão Hạc, Tư cách mõ, Giăng sáng,
Sống mòn Trong đó, Chí Phèo xứng đáng được coi là một kiệt tác của nền
Đối với đội ngũ sáng tác, việc tạo nên được cho mình một phong cách,
là cả một quá trình đòi hỏi sự nỗ lực trong sáng tạo, là cuộc hành trình để
khẳng định cái bản ngã cá nhân trong nghệ thuật của người cầm bút. Phấn đấu
để có được một phong cách nghệ thuật cá nhân, đó là sự đóng góp đích thực
của mỗi người viết cho sự phát triển chung của cả nền văn học. Bởi vì, một
nền văn học càng có nhiều phong cách cá nhân thì càng có nhiều khả năng trở
thành một nền văn học lớn. Và cũng vì thế, nếu như mỗi nhà văn tự xóa đi cái
dấu ấn cá nhân trong tác phẩm thì tác phẩm nói riêng và sự phát triển của cả
nền văn học nói chung sẽ không có chỗ đứng trong lòng người đọc. Nói cách
khác nó sẽ khiến cho tính phát triển bền vững của nền văn học đi xuống. Sở dĩ
có nhiều tác phẩm trải qua thời gian, qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử
vẫn vẹn nguyên giá trị, vẫn đứng vững trong lòng người đọc là nhờ tâm huyết
sáng tạo của nhà văn. Người đọc tôn vinh tài năng, nét riêng trong mỗi nhà
văn chứ không phải cái chung chung, mờ nhạt, dễ dàng bị trộn lẫn, hòa tan
của những nhà văn không phong cách viết ra.
Tóm lại, phong cách nghệ thuật được biểu hiện ở cái nhìn, cách cảm thụ
giàu tính khám phá nghệ thuật đối với cuộc đời của nhà văn; giọng điệu riêng
gắn liền với cảm hứng sáng tác; nét riêng trong sự lựa chọn, xử lí đề tài, xác
định chủ đề, xác định đối tượng miêu tả, thể hiện chính; tính thống nhất, ổn
định trong cách sử dụng các phương thức và phương tiện nghệ thuật. Qua
18
phong cách nghệ thuật, người đọc không những nhận ra tài năng, bản lĩnh của
tác giả mà còn nhận ra được cả cách nhìn cuộc sống, cảm quan về cuộc sống,
cách khám phá thế giới của mỗi cá nhân tác giả. Đó là cả một chặng đường
sáng tạo không mệt mỏi với bao tâm huyết, trí lực của nhà văn. Mỗi nhà văn
ưu tú luôn luôn có ý thức xây dựng cho mình một phong cách nghệ thuật
riêng biệt – đó cũng là một cách dẫn dắt độc giả đến với thế giới hình tượng,
những suy nghĩ, tình cảm mà tác giả muốn gửi gắm. Do đó, trong quá trình
tìm hiểu, tiếp nhận tác phẩm văn học nói chung và đọc hiểu văn bản văn học
Từ quan điểm đó, nhất quán trong các tác phẩm của ông, hiện thực
đương thời được hiện lên bằng sự “tả thực cái xã hội khốn nạn, công kích cái
xa hoa, dâm đãng của bọn người có nhiều tiền, kêu ca những sự thống khổ
của dân nghèo bị bóc lột, bị áp chế, bị cưỡng bức, muốn cho xã hội công bình
hơn nữa, đừng có những chuyện ô uế, dâm đãng ”, một hiện thực vừa có
chiều rộng, vừa có chiều sâu, vừa có chất liệu sự kiện ngồn ngộn, vừa thể hiện
một cách nhìn nhất quán và đầy bản lĩnh. Điểm nhìn đầy sắc sảo cùng thái độ
quyết liệt đã khiến cho các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng có ý nghĩa xã hội
sâu sắc, đúng như Tố Hữu đã nhận xét: “Vũ Trọng Phụng đã vạch rõ cái thực
tại xấu xa, thối nát của xã hội lúc ấy”. Ông đã đi vào từng ngóc ngách của cái
xã hội nhố nhăng, đồi bại đương thời với lối âu hóa, tư sản hóa một cách kệch
cỡm, bênh hoạn bên cạnh cuộc sống của vô số những người nghèo khổ. Với
ông, văn học không thể tách rời cuộc sống, tuy “không yêu cầu văn học phải
sao chép y nguyên cuộc sống, như thư kí trung thành của thời đại. Nhưng nhà
văn phải miêu tả cuộc sống với những bản chất cơ bản của nó. Không bao giờ
văn học được quyền xa rời sự thật ở đời”. Quan niệm này chi phối toàn bộ
sáng tác của Vũ Trọng Phụng. Tiểu thuyết của ông luôn đậm đà màu sắc hiện
thực, ông có một tư duy mang tầm khái quát lớn, và khả năng chiếm lĩnh hiện
thực sâu sắc. Vũ Trọng Phụng không ngần ngại thực thi quan niệm đó vào
20
trong sáng tác của mình, động cơ, mục đích của lối viết tả chân. Hơn hẳn các
nhà văn trước năm 30, tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng đã xông xáo, táo bạo, lột
mặt nạ dơ dáy của xã hội thực dân nửa phong kiến. Và ông xuất hiện như một
khắc tinh của xã hội kim tiền ô trọc đó.
Vũ Trọng Phụng đã đạt được thành công lớn về nghệ thuật tiểu thuyết
phóng sự, là đã xây dựng được những một số điển hình sinh động bất hủ về xã
hội tư sản thành thị Việt Nam lúc bấy giờ. Và không thể kết án nhà văn khi họ
miêu tả những cái xấu của xã hội, những cái đê tiện của người đời và gọi
chúng bằng tên thật của nó. Với sự căm ghét đối với xã hội thượng lưu tư sản