BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Phú
TỪ LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN ĐẾN VIỆC
GIẢNG DẠY TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG ỨNG DỤNG
DẠY TÁC PHẨM THƠ VIỆT NAM
HIỆN ĐẠI Ở SGK CÁC LỚP THPT
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn Văn
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TSKH. LÊ NGỌC TRÀ
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong bối cảnh nền kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật phát triển với
tốc độ chóng mặt thì nhu cầu hội nhập, hợp tác với các quốc gia trên thế
giới ngày càng cao. Để đáp ứng được nhu cầu hội nhập, vấn đề nguồn nhân
lực là vấn đề ưu tiên phát triển hàng đầu. Đào tạo nguồn nhân lực không
chỉ chú trọng việc phát triển kỹ thuật nghề nghiệp mà còn chú trọng phát
triển vốn sống, phát triển những kỹ năng mềm để thích ứng tốt với m
ôi
trường làm việc và môi trường sống. Để thực hiện được điều đó, chương
trình giáo dục phải thay đổi từ gốc đến ngọn, giải quyết vấn đề triết lý, tầm
nhìn. Không chỉ chạy đua theo bề nổi thành tích để khỏa lấp những lỗ hổng
vốn đã có từ trước, g
iáo dục cần phải đổi mới từ chương trình đào tạo, từ
phương pháp (PP) dạy học đến vấn đề kiểm tra đánh giá. Và phải bắt đầu
thực hiện từ bậc học thấp nhất đến cao nhất.
Nhằm mục đích giáo dục con người toàn diện với các yếu tố Đức,
Trí, Thể, Mỹ; học để biết, học để làm v
à học để sống, phát huy tính chủ
động, tích cực, sáng tạo của học sinh, đào tạo những con người năng động,
tài năng để làm chủ tương lai của đất nước, nhà nước ta đã thực hiện nhiều
cuộc cải cách giáo dục, mới nhất là cuộc cải cách giáo dục phổ thông với
việc biên soạn chương trình, sách giáo khoa (SGK) phân ban ở trung học
phổ thông (THPT) và được thực hiện đại trà vào năm học 2006-2007 sau
ba năm thực hiện thí điểm.
Cùng với việc biên soạn lại chương trình, SGK cho phù hợp với
khuynh hướng phát triển của thế giới, đổi mới PP giảng dạy là nhu cầu cấp
bách của giáo dục phổ thông nước ta hiện nay. Những năm gần đây, không
ít dư luận phàn nàn về chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở nhà trường
lớn trong việc phát huy vai trò của người học, nâng cao năng lực văn học
cho HS. Vì thế, luận văn chọn đề tài “Từ lý thuyết tiếp nhận đến việc
giảng dạy tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông - Ứng dụng
giảng dạy phần thơ Việt Nam hiện đại ở sách giáo khoa các lớp trung học
phổ thông”
2. Lịch sử vấn đề:
Tác phẩm văn chương thực sự trở thành tác phẩm khi bắt đầu dòng
đời của nó xuất phát từ tác giả đến tay người đọc. Hoạt động tiếp nhận là
hoạt động tương tác giữa người đọc và tác phẩm và tương tác với cả tác
giả. Có thể nói lý luận văn học chỉ chú trọng lý thuyết tiếp nhận nghiên cứu
vai trò của người tiếp nhận, nghiên cứu quá trình biện chứng của các mối
quan hệ trong tiếp nhận. Hoạt động tiếp nhận vốn phong phú, đa chiều do
bản chất của văn học là một t
ác phẩm nghệ thuật; do mỗi người tùy vào
tình cảm, tri thức, kinh nghiệm, vốn sống của bản thân mà tiếp nhận tác
phẩm mỗi
khác. Tiếp nhận văn học đề cao vai trò của người tiếp nhận,
chính người tiếp nhận quyết định số phận tác phẩm. Và việc dạy học tác
phẩm văn chương trong nhà trường là một hoạt động tiếp nhận khá đặc
biệt. Sở dĩ chúng tôi cho rằng nó đặc biệt bởi lẽ đối tượng tiếp nhận ở đây
là học sinh, với lứa tuổi còn trẻ người, ít vốn sống,
ít kinh nghiệm, tư duy
của các em phần nào còn non nớt thì việc tiếp nhận tác phẩm phụ thuộc vào
những yếu tố nhất định.
Nghiên cứu vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn chương của HS bắt buộc
chúng ta phải nghiên cứu những vấn đề PP luận dạy học Văn học; nghiên
cứu mối quan hệ giữa lý thuyết tiếp nhận với việc vận dụng các PP dạy học
tác phẩm văn chương để tìm
một hướng đi đúng trong dạy học tác phẩm
hiện nay.
thẩm mỹ của người đọc với tác phẩm, tính chủ quan, sáng tạo của tiếp nhận
và những khái quát về đặc điểm cũng như tiêu chí phát triển văn học ở
người đọc. Qua chặng đường dài, để hình thành l
ý luận dạy học văn học ở
nước ta có thể kể đến những ảnh hưởng của các tài liệu hướng dẫn như
“Phương pháp dạy văn học ở trường phổ thông” của V.A.Nhikônxki,
“Phương pháp luận dạy văn học” do Z.Ia.Rez chủ biên…
Nghị quyết Trung Ương II (khoá 8) về giáo dục và khoa học công
nghệ, vấn đề nội dung và PP giáo dục đã được đặc biệt lưu ý. Vấn đề đổi
mới PP được đặt ra một cách chính thức trong văn kiện của Đại hội Đảng
cũng như những văn bản pháp quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đổi mới
PP đã trở thành vấn đề thời sự khoa học. Những bài viết nhỏ lẻ đăng trên
các báo, các tạp chí về mối quan hệ giữa tác phẩm với HS, hướng đổi mới
dạy học văn chương trong nhà trường phổ thông… đã được đúc kết lại
trong tài liệu bồi dưỡng chính thức cho các giáo viên toàn quốc trong các
chu kì bồi dưỡng thường xuyên.
Theo xu hướng phát triển của xã hội, việc dạy học phải đáp ứng
những yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật, những
PP giảng dạy truyền thống trong nhà trường không còn thích hợp. Nên từ
nghị quyết TW lần thứ tư về "Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào
tạo tháng 1-1993 chỉ rõ xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế
hoạch nội dung phương pháp gi
áo dục và đào tạo”. Yêu cầu phải có một PP
dạy học thích hợp - PP dạy học tích cực phát huy tính chủ động sáng tạo
của HS, lấy HS làm
trung tâm để đào tạo ra những con người năng động,
làm chủ đất nước trong tương lai.
Trước sự đòi hỏi phải đổi mới PP dạy học, vận dụng những PP phát
huy vai trò của HS trong giờ học, tạo điều kiện để HS hoạt động, làm chủ
giờ học, hạn chế việc thuyết giảng một chiều của GV đặt việc dạy học t
qua yếu tố này. Mỗi HS là một chủ thể độc lập trong tiếp nhận, sự tác động
của nhà văn, của hình tượng văn học, của tác phẩm đến mỗi học sinh là
không giống nhau. Vì thế khai thác vai trò chủ thể tiếp nhận, vai trò chủ
động của người học là một khuynh hướng phù hợp với tiến trình đổi mới
giáo dục hiện nay.
Trên cơ sở kết hợp giữa lý thuyết tiếp nhận với PP dạy học tích cực
lấy HS làm trung tâm, đề tài khai thác vai trò của sự tác động của hình
tượng văn học trong việc giảng dạy tác phẩm văn chương. Phân tích, đánh
giá cơ sở lý luận của vấn đề này và những hình thức biểu hiện của nó trong
thơ ca. Ứng dụng thực tế vào vấn đề giảng dạy tác phẩm thơ Việt nam hiện
đại ở trường THPT. Qua đó đánh giá, rút ra những cơ sở lý luận để dạy học
tác phẩm văn chương và đề xuất một số hướng ứng dụng vấn đề này vào
thực tế dạy học tác p
hẩm văn chương ở trường phổ thông.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu các vấn đề cơ sở lý luận của lý thuyết tiếp nhận, đặc biệt
là tính chất tác động của hình tượng nghệ thuật và vị trí của nó trong
việc dạy học tác phẩm văn chương.
- Nghiên cứu những đặc điểm của thơ ca từ góc độ của hoạt động nghệ
thuật nhắm vào người đọc, người học.
- Tiến hành thực nghiệm s
oạn giảng một số bài giảng ứng dụng lý
thuyết trên trong giảng dạy tác phẩm thơ Việt Nam hiện đại ở trường
THPT. Phân tích, đánh giá mức độ tiếp nhận của người học qua thực
nghiệm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Với đề tài này, chúng tôi nghiê
n cứu cơ sở lý luận của lý thuyết tiếp
nhận, sự cộng hưởng giữa lý thuyết tiếp nhận và các PP dạy học hiện đại,
đặc biệt là tính chất tác động của hình tượng văn học lên người học trong
dụng của nó trong việc giảng dạy tác phẩm văn chương ở trường phổ thông
như thế nào, kết hợp vận dụng vào việc giảng dạy các tác phẩm thơ hiện
đại ở chương trình sách giáo khoa lớp 11, 12 THPT. Do giới hạn của một
luận văn cao học và thời gian có hạn nên đề tài chỉ ứng dụng giảng dạy
phần thơ hiện đại, còn những thể loại khác nếu có cơ hội chúng t
ôi sẽ
nghiên cứu ớ những đề tài tương tự.
7. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài:
7.1. Cơ sở khoa học:
Luận văn thể hiện sự kết hợp giữa lý thuyết tiếp nhận với PP dạy học
hiện đại lấy học sinh làm trung tâm, đặc biệt tính chất tác động của hình
tượng văn học trong dạy học tác phẩm văn chương góp phần tạo nên hứng
thú, say mê, phát huy năng lực cảm t
hụ của học sinh đáp úng yêu cầu đổi
mới giảng dạy văn chương trong nhà trường.
7.2. Cơ sở thực tiễn:
Luận văn thực hiện theo chương trình sách giáo khoa THPT của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, khảo sát, thực nghiệm giảng dạy tại các trường THPT
tại Tp.HCM năm học 2006-2007, 2007-2008.
8. Đóng góp của luận văn:
Vai trò của người tiếp nhận, mối tương quan giữa nguời tiếp nhận và
chủ thể sáng tác, vấn đề cảm thụ văn học của HS đã được nghiên cứu nhiều
trong những năm gần đây. Tuy nhiên, vấn đề kết hợp, cộng hưởng giữa lý
thuyết tiếp nhận với các PP dạy học hiện đại lấy HS làm trung tâm, phát
huy năng lực tiếp nhận của HS qua dạy học tác phẩm văn chương thì chưa
có một công trình nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu. Trong giới hạn có thể,
luận văn cung cấp một cái nhìn chi tiết hơn về vấn đề này nhằm
góp một
1.1. Lý thuyết tiếp nhận và những vấn đề lý luận:
1.1.1. Một số vấn đề về lý thuyết tiếp nhận.
1.1.1.1 Sơ lược về nguồn gốc và cơ sở lý luận:
Tác phẩm văn học được sáng tác ra để thưởng thức, tiếp nhận. Một
tác phẩm sau khi được tác giả hoàn thành còn ở dưới dạng văn bản, nó thật
sự trở thành tác phẩm chỉ khi đến tay người đọc, bắt đầu đời sống của nó.
Đời sống của một tác phẩm văn học diễn tiến từ hai
phía: người sáng tạo ra
nó và phía người tiếp nhận. Nghiên cứu văn học cũng xuất phát từ hai phía,
phía sáng tạo và phía tiếp nhận. Thế nhưng, từ trước đến nay lý luận văn
học chủ yếu tập trung nghiên cứu khâu sáng tác, nghiên cứu sáng tác tách
rời với các quy luật tiếp nhận.
Với tư cách là một lý thuyết khoa học, lý thuyết tiếp nhận là một bổ
sung cần thiết cho khoa nghiên cứu văn học nhằm khám
pháp đầy đủ hơn
tác phẩm văn học và sự vận hành của nó trong đời sống. Lý luận tiếp nhận
không phủ nhận mối quan hệ giữa tác phẩm với nhà văn, với môi trường
sinh thành ra nó, không phủ định tác phẩm như một quá trình sáng tạo và
như một cấu trúc thẩm mỹ.
Lý thuyết tiếp nhận vốn không xa lạ. Ở phương Đông, từ thế kỷ I
trước CN l
ý luận tiếp nhận văn học đã hình thành hai quan niệm: Tri âm và
Kí thác. Quan niệm tri âm cho rằng nhiệm vụ tiếp nhận văn học là cảm và
hiểu cuộc sống được gợi lên trong tác phẩm như chính tác giả. Vì sao Bá
Nha đập vỡ cây đàn khi Chung Tử Kỳ chết? Vì đã không còn người tri âm,
thấu hiểu nỗi lòng của cầm gia thì đàn còn ý nghĩa gì nữa. Quan niệm ký
thác thì xem tác phẩm như nơi để gởi gắm tư tưởng, tình cảm của người
đọc. Ở phương Tây, trường phái phê bình ấn tượng do J.Lemaitre chủ
xướng chủ trương tái hiện cảm xúc tinh khôi, tươi mới của người đọc trong
việc tiếp nhận tác phẩm. Hoạt động cảm t
bài Tiếp nhận văn học
trong giáo trình Lý luận văn học, trong khi trước đó các giáo trình nghiên
cứu Lý luận văn học đều không đề cập đến vấn đề tiếp nhận. Và trong thế
kỷ XX, lý luận tiếp nhận văn học đã được hình thành và phát triển có hệ
thống dần dần trở thành một hướng nghiên cứu có triểm vọng.
Mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc là vấn đề trung tâm
của lý
thuyết tiếp nhận, là cơ sở lý luận của lý thuyết tiếp nhận. Nghiên cứu lý
thuyết tiếp nhận tức là nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa tác phẩm
và người đọc. Tác phẩm văn học đến tay độc giả, được độc giả đọc, thẩm
bình. Sau đó tác phẩm lại quay về với nhà văn, tác động ngược trở lại nhà
văn. Có trường hợp nhà văn phải viết những chuyên luận để giải thích cho
bạn đọc những vấn đề đã thể hiên trong tác phẩm. Tuy nhiên, việc tiếp
nhận văn học vốn vận động, bất biến. Qua mỗi thời đại, mỗi hoàn cảnh xã
hội lịch sử khác nhau, mỗi con người khác nhau thì việc tiếp nhận đã hoàn
toàn đổi khác. Nhà văn không thể sống mãi với thời gian và cũng không thể
giải thích hết được những vấn đề người đọc suy nghĩ.
Có thể thấy vai trò của người đọc quyết định số phận tác phẩm. Vì
sao Chiến tranh và hòa bình (L. Tolstoi), Những người khốn khổ
(V.Huygo)… sống mãi với thời gian, trở thành những kiệt tác vượt qua mọi
thời đại, mọi đối tượng tiếp nhận? Vì sao lại có những tác phẩm mới đến
tay người đọc hôm
nay hôm sau đã không còn một dư âm nào về nó cả? Ở
đây, người tiếp nhận là người thẩm định tốt nhất giá trị tác phẩm. “Hữu xạ
tự nhiên hương”, đối với những tác phẩm lớn thì cuộc đời nó luôn ẩn chứa
những khả năng mới sẽ bộc lộ khi nó tiến hành cuộc hành trình qua không
gian và thời gian.
Bạn đọc, và mối quan hệ giữa bạn đọc và tác phẩm văn học là nguồn
trong sáng tác văn học và trong tiếp nhận văn học. Tiếp nhận chính là tìm
hiểu những tình cảm thẩm mỹ bằng hình tượng thẩm mỹ qua hệ thống ngôn
ngữ. Đây là một qui trình khép kín của tác phẩm văn học từ sáng tác đến
bạn đọc và ngược lại.
Từ qui trình tác động của tác phẩm văn học đối với bạn đọc, chúng ta
nhận thấy qui trì
nh tiếp nhận tác phẩm là quá trình tiếp thu, lĩnh hội những
giá trị mà văn bản tác phẩm văn học mang đến cho người đọc. Nó đòi hỏi
người đọc phải có những năng lực cụ thể. Quá trình đó diễn ra theo một
chiều duy nhất đó đọc văn và tri giác ngôn ngữ. “Tiếp nhận văn học là một
quá trình, vì nó chỉ thực sự diễn ra theo một hoạt động duy nhất là đọc
văn”[34, t
r.35].
Tiếp nhận văn học là giai đoạn hoàn tất qua trình sáng tác - giao
tế của tác phẩm: Nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm là để truyền đạt những khát
quát, rung cảm của mình về cuộc sống cho người đọc, chỉ khi người đọc
tiếp nhận tác phẩm thì quá tình sáng tạo mới hoàn tất. Muốn hiểu rõ bản
chất của quá trình tiếp nhận, cần thấy rõ hình tượng nghệ thuật tồn tại như
một quá trình có nhiều giai đoạn. trước t
iên nó nảy sinh trong ý đồ tác giả,
sau đó được vật chất hóa qua tác phẩm. Tác phẩm chỉ được tồn tại khi đến
tay độc giả, hình tượng văn học bước vào giai đoạn chuyển nội dung văn
bản thành yếu tố tinh thần, biến tác phẩm thành một yếu tố của đời sống ý
thức xã hội.
Sự tiếp nhận văn học không phải là việc sử dụng từ ngữ, tì
m kiếm
kiến thức xã hội, văn hóa, lịch sử, kinh tế, chính trị… mà là sự tiếp nhận,
giao thoa giữa người đọc với tác phẩm, là những kết tinh kinh nghiệm, tư
tưởng tình cảm mà người đọc có được từ tác phẩm.
Tiếp nhận đòi hỏi người đọc phải biết tri giác, cảm thụ tác phẩm,
dễ khiến người đọc rơi vào chủ quan và có thể xuyên tạc tác phẩm.
Văn học phản ánh đời sống xã hội nên vốn mang tính khách quan.
Nội dung tinh thần của tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở ngôn ngữ toàn
dân và các phương tiện tạo hình, biểu hiện nên hoàn toàn có thể truyền đạt
những yếu tố, nội dung tương đồng từ tác giả đến người đọc. Đó là những
cơ sở định hướng tiếp nhận của người đọc. Bằng chứng Lỗ Tấn sau khi
xuất bản AQ chính truyện đã bị rất nhiều độc giả gởi thư mắng chửi tại sao
ông lại đưa họ vào tác phẩm của ông. Thành công của Lỗ Tấn là đã xây
dựng một hình tượng nhân vật phổ chúng, mọi tầng lớp người đều như thấy
dáng dấp của mình trong tác phẩm.
Tiếp nhận là hoạt động khách quan. Người tiếp nhận phải dựa tr
ên
những định hướng giới hạn về nội dung, nghệ thuật tác phẩm để tránh chủ
nghĩa cá nhân và xuyên tạc nội dung tác phẩm. Một tác phẩm luôn có giá
trị tự thân của nó, người đọc phải cảm thụ khách quan và tôn trọng. Không
phải nói tiếp nhận là chủ quan của người đọc thì anh muốn hiểu thế nào
cũng được.
Tính sáng tạo của tiếp nhận văn học: Như ta đã biết, tiếp nhận văn
học là hoạt động chủ quan của người đọc, người đọc lí giải tác phẩm bình
giảng tác phẩm v
ì thế nó là một hoạt động tích cực. Tùy vào tri thức, kinh
nghiệm sống của mỗi người mà việc lý giải có thể sâu sắc, cũng có thể hời
hợt, phiến diện tác phẩm văn học khi mới đến tay người đọc tự bản thân nó
mang những ý tưởng m
à tác giả thể hiện. Thế nhưng, khi người đọc bắt đầu
can thiệp vào tác phẩm bằng những suy nghĩ cá nhân thì tác phẩm không
còn ý nghĩa như ban đầu nữa. Tiếp nhận văn học không chỉ đọc tác phẩm,
mà còn phân tích, bình giải những nội dung ý tưởng của tác phẩm.
Do tính tương tác, do những yếu tố tự thân của tác phẩm, do trình độ
a? Vì sao rất nhiều chàng trai muốn mình
được một lần “mắt trừng gởi mộng qua biên giới”? Có phải do tác động
của hình tượng người anh hùng Tây Tiến quá bay bổng, quá lãng mạn trong
lòng người đọc?
Tác phẩm văn chương được biểu đạt bằng hệ thống hình tượng,
những hình tượng này tác động tích cực hay tiêu cực lên người đọc tùy
thuộc vào hoàn cảnh, tâm trạng của người tiếp nhận, tùy thuộc vào bối cảnh
mà người tiếp nhận thực hiện quá trình tiếp nhận.
Để phản ánh và nhận thức hiện thực, các khoa học đều chịu tác động
của các quy luật nhận thức nhưng phương thức phản ánh của khoa học v
à
văn học không giống nhau. Tính hình tượng là một trong những thuộc tính
cơ bản của văn học nghệ thuật. Văn học phản ánh bằng hình tượng. Hình
tượng được xây dựng bằng vật liệu ngôn ngữ, bằng hư cấu và theo lý tưởng
thẫm mỹ của nhà văn. Trong khoa học, cái đơn lẻ được phản ánh thông qua
cái chung, dưới hình thức khái quát của các quy luật, các khái niệm, cô
ng
thức… Ngược lại, trong văn học cái đơn lẻ, cá thể lại trở thành hình thức
phản ánh cái chung. Hình tượng văn học vừa có tính khái quát sâu vừa
mang tính cụ thể. Tính chất tác động của hình tượng văn học lên người đọc
chính là cơ sở để hình thành sự tiếp nhận.
Tính chất tác động của hình tượng văn học lên người đọc là một đặc
tính của vấn đề tiếp nhận. Nếu không có sự tác động, không có sự hô ứng
của hình tượng văn học lên tri giác, cảm giác, xúc giác của n
gười đọc thì
quá trình tiếp nhận sẽ không thể diễn ra. Có thể thấy, tính chất tác động của
hình tượng đến người đọc, người học là hạt nhân của sự tiếp nhận. Nghiên
cứu lý luận tiếp nhận không thể bỏ qua vấn đề tác động của hình tượng lên
người đọc.
1.2.
nghĩa xã hội của tác phẩm.
Như chúng ta đã biết, người tiếp nhận là HS có tính chất đặc thù
riêng. Thứ nhất, tuổi đời các em còn rất trẻ, tâm lý đang giao thoa giữa tính
cách còn trẻ con trên bước đường thành người lớn nên chưa ổn định. Thứ
hai là do non tuổi đời nên những tri thức về lịch sử xã hội còn khá hạn hẹp.
Các em chỉ mới tích lũy được những kiến thức được dạy ở nhà trường,
những tri thức khác nếu có cũng ở mức độ giới hạn. Và nhất là các em còn
rất non kinh nghiệm, vốn sống, trải đời nên việc hiểu nghĩa, liên tưởng
trong học tập tác phẩm văn chương, hiểu hết được ý nghĩa lịch sử xã hội
của tác phẩm là một thách thức không nhỏ.
Tuy vậy, ở lứa tuổi này, các em đã bắt đầu hình thành tính chủ định
trong quá trình tư duy nhận thức. L.I. Boj
ovich thừa nhận:
Khác với thiếu niên, là lứa tuổi trong một chừng mực đáng
kể, vẫn hướng về việc tự nhận thức bản thân mình, cảm xúc của
mình, khác với các em học sinh nhỏ hoàn toàn bị cuốn hút vào thế
giới bên ngoài, học sinh các lớp lớn trong nhà trường lại cố gắng
tìm hiểu cái thế giới bên ngoài ấy nhằm tìm thấy chỗ đứng của
mình trong đó, và cũng có thể một chỗ dựa mà xác lập quan điểm
và niềm ti
n của mình” [75, tr.75]
.
Cùng với sự phát triển về nhận thức, các em bắt đầu hình thành tâm
lý tự ý thức. Các em có nhu cầu tự khám phá những đặc điểm tâm lý và lý
giải nó theo quan điểm riêng, theo mục đích sống và theo lý tưởng của các
em. Việc biết tự nhìn nhận, đánh giá thể hiện khả năng cảm thụ, sáng tạo
của các em trong học tập.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và internet đã tạo ra những trào
lưu mới trong HS. Những thú vui giải trí vì thế cũng đặc thù như game,
phẩm là đối tượng chung để giáo viên lẫn HS cùng nhau khai thác. GV
trong tư cách là người đọc trước có kinh nghiệm nắm vững kiến thức sẽ là
người hướng dẫn, truyền thụ kinh nghiệm cho HS, chỉ cho các em con
đường tiếp cận tác phẩm
. HS chính là trung tâm của dạy học, bằng mọi con
đường trực tiếp tác động lên tác phẩm để tìm ra chân lý dưới sự hướng dẫn
của giáo viên. Chúng ta có thể thấy mối quan hệ đó qua mô hình sau:
Tác phẩm văn chương được xây dựng từ ngôn từ nghệ thuật. Dạy
đọc hiểu tác phẩm văn chương là dạy cho HS cách thức tiếp nhận tác phẩm
văn chương trên cơ sở đọc hiểu ngôn từ nghệ thuật là chủ yếu. Muốn hiểu
được tác phẩm văn chương phải đi từ ngôn từ nghệ thuật và vận dụng
những kiến thức về loại thể, xã hội, Tiếng Việt, Làm
văn để tìm hiểu nghĩa
từ và nắm bắt thông tin tác phẩm muốn truyền đạt.
Muốn dạy học tác phẩm văn chương, trước tiên đòi hỏi GV phải nắm
rõ những đặc điểm của quá trình tiếp nhận; nắm rõ đặc tính của bạn đọc
HS; nắm rõ mối quan hệ biện chứng, tương tác giữa thầy giáo, tác phẩm và
HS; và cuối cùng là phải nắm rõ đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn
chương, những vấn đề nội dung, nghệ thuật, hình tượng mà tác phẩm
chuyển tải.
Tác phẩm văn chương tự bản thân người thầy tiếp nhận đã khó,
chuyển tải cho HS những vấn đề xương sống và nhất là cái thần của tác
phẩm càng khó. Và lý giải cho HS cảm thụ trong các mối tương tác của quá
trình dạy học càng là một việc khó hơn nữa.
Một thời gian dài chúng ta dạy học tác phẩm t
heo kiểu truyền thụ
một chiều, thầy giảng trò nghe. Thầy nói theo khả năng của thầy, thầy hiểu
đến đâu thì giải nghĩa đến đó, không chú ý đến vai trò của HS trong tiến