BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Phú
TỪ LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN ĐẾN VIỆC
GIẢNG DẠY TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG ỨNG DỤNG
DẠY TÁC PHẨM THƠ VIỆT NAM
HIỆN ĐẠI Ở SGK CÁC LỚP THPT
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn Văn
Mã số
: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TSKH. LÊ NGỌC TRÀ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2008
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gởi lời tri ân sâu sắc đến GS.TSKH Lê Ngọc Trà, người đã
quan tâm, động viên tôi vượt qua khó khăn; tận tình chỉ bảo, hướng dẫn để
tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô của Trường Đại học Sư phạm
Tp. Hồ Chí Minh đã hết lòng dạy dỗ, giúp đỡ chúng tôi trong thời gian học
Trí, Thể, Mỹ; học để biết, học để làm và học để sống, phát huy tính chủ
động, tích cực, sáng tạo của học sinh, đào tạo những con người năng động,
tài năng để làm chủ tương lai của đất nước, nhà nước ta đã thực hiện nhiều
cuộc cải cách giáo dục, mới nhất là cuộc cải cách giáo dục phổ thông với
việc biên soạn chương trình, sách giáo khoa (SGK) phân ban ở trung học
phổ thông (THPT) và được thực hiện đại trà vào năm học 2006-2007 sau
ba năm thực hiện thí điểm.
Cùng với việc biên soạn lại chương trình, SGK cho phù hợp với
khuynh hướng phát triển của thế giới, đổi mới PP giảng dạy là nhu cầu cấp
bách của giáo dục phổ thông nước ta hiện nay. Những năm gần đây, không
ít dư luận phàn nàn về chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở nhà trường
phổ thông. Học sinh (HS) ngày càng chán học, lơ là với môn Ngữ văn; các
em không biết viết một bài văn như thế nào, làm một lá đơn cũng không
biết phải bắt đầu từ đâu… Vai trò của môn Ngữ văn trong nhà trường đang
ngày càng không được nhìn nhận đúng. Đối với môn Ngữ văn, việc đổi
mới PP giảng dạy là vô cùng cấp thiết. Vấn đề đặt ra là đổi mới như thế
nào? Và phải chăng những PP mà GV dùng để giảng dạy xưa nay là không
phù hợp, không đạt chất lượng?
Trong các phân môn của môn Ngữ văn, phần dạy học tác phẩm văn
chương là phân môn giúp HS có nhiều hứng thú với môn học nhất. Tuy
nhiên, hiệu quả của dạy học tác phẩm văn chương hiện nay cũng là vấn đề
đáng bàn. Hướng đến mục đích phát huy vai trò của người học, góp phần
nâng cao chất lượng dạy học môn Văn ở trường phổ thông, chúng tôi muốn
góp một chút công sức trong việc nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn
chương ở trường phổ thông sao cho chất lượng và hiệu quả. Để nâng cao
chất lượng dạy và học môn Ngữ văn, đã có rất nhiều PP được nêu ra và
đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi như: PP dạy học nêu vấn đề, PP
dạy học thảo luận nhóm, PP dạy học theo dự án… những PP này đều dựa
biệt. Sở dĩ chúng tôi cho rằng nó đặc biệt bởi lẽ đối tượng tiếp nhận ở đây
là học sinh, với lứa tuổi còn trẻ người, ít vốn sống, ít kinh nghiệm, tư duy
của các em phần nào còn non nớt thì việc tiếp nhận tác phẩm phụ thuộc vào
những yếu tố nhất định.
Nghiên cứu vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn chương của HS bắt buộc
chúng ta phải nghiên cứu những vấn đề PP luận dạy học Văn học; nghiên
cứu mối quan hệ giữa lý thuyết tiếp nhận với việc vận dụng các PP dạy học
tác phẩm văn chương để tìm một hướng đi đúng trong dạy học tác phẩm
hiện nay.
Xét về mặt lịch sử, so với các môn khoa học kỹ thuật thì môn Văn –
Tiếng việt (hiện nay gọi là Ngữ văn) vốn được giảng dạy trong nhà trường
từ rất sớm. Các nhà giáo giảng dạy trên cơ sở tích lũy những tri thức, kinh
nghiệm thẩm bình, dạy học qua các hoạt động bình giảng, ngâm vịnh của
các nhà nho xưa. Dần dần, môn Ngữ văn chiếm một vị trí quan trọng trong
chương trình giáo dục phổ thông. Điểm số của môn Ngữ văn và Toán ở nhà
trường luôn có hệ số điểm như nhau và gấp đôi các môn học khác. Thế nhưng,
một thời gian dài chúng ta dạy học văn theo kiểu học hỏi kinh nghiệm, tích
lũy những kiến thức của người đi trước chứ chưa có một hệ PP luận soi đường
nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề dạy học môn Ngữ văn nói chung và tác
phẩm văn chương nói riêng. Mãi đến những năm 60 của thế kỷ XX mới xuất
hiện những bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Nếu tính từ năm 1950 khi cuốn Giảng văn Chinh phụ ngâm khúc của
giáo sư Đặng Thai Mai được ấn hành ở liên khu trong thời kì kháng chiến
chống Pháp đến nay, phải đến cuối thập kỉ 60 của thế kỉ XX, nhiều chuyên
luận lần lượt ra đời như “Rèn luyện tư duy học sinh qua giờ giảng dạy văn
học” (1969) của Phan Trọng Luận; “Vấn đề giảng dạy văn học theo loại
thể” (1970) Trần Thanh Đạm chủ biên; “Phân tích tác phẩm văn học trong
nhà trường (1977) của Phan Trọng Luận... Những công trình đó bước đầu
Mục tiêu nghiên cứu:
Mỗi một nghệ sĩ khi sáng tác thường là bộc lộ những tâm tư, tình
cảm, suy nghĩ của mình với người đọc. Nhưng bên cạnh đó người nghệ sĩ
còn có nhu cầu giao cảm, chính nhu cầu giao cảm đó tác động đến người
đọc. Bản chất của văn học nghệ thuật chính là sự hô ứng, sự giao cảm.
Người đọc chịu sự tác động của nhà văn qua tác phẩm, từ đó có sự tiếp
nhận của riêng mình. Việc giảng dạy tác phẩm văn chương không thể bỏ
qua yếu tố này. Mỗi HS là một chủ thể độc lập trong tiếp nhận, sự tác động
của nhà văn, của hình tượng văn học, của tác phẩm đến mỗi học sinh là
không giống nhau. Vì thế khai thác vai trò chủ thể tiếp nhận, vai trò chủ
động của người học là một khuynh hướng phù hợp với tiến trình đổi mới
giáo dục hiện nay.
Trên cơ sở kết hợp giữa lý thuyết tiếp nhận với PP dạy học tích cực
lấy HS làm trung tâm, đề tài khai thác vai trò của sự tác động của hình
tượng văn học trong việc giảng dạy tác phẩm văn chương. Phân tích, đánh
giá cơ sở lý luận của vấn đề này và những hình thức biểu hiện của nó trong
thơ ca. Ứng dụng thực tế vào vấn đề giảng dạy tác phẩm thơ Việt nam hiện
đại ở trường THPT. Qua đó đánh giá, rút ra những cơ sở lý luận để dạy học
tác phẩm văn chương và đề xuất một số hướng ứng dụng vấn đề này vào
thực tế dạy học tác phẩm văn chương ở trường phổ thông.
3.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu các vấn đề cơ sở lý luận của lý thuyết tiếp nhận, đặc biệt
là tính chất tác động của hình tượng nghệ thuật và vị trí của nó trong
việc dạy học tác phẩm văn chương.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: thực hành soạn giảng một số
bài dạy các tác phẩm văn chương ở trường phổ thông theo sự chi phối của
lý thuyết tiếp nhận.
Phương pháp thống kê toán học.
Phương pháp phân tích, đánh giá: phân tích hiệu quả của việc khai
thác thi pháp tác động trên cơ sớ lý thuyết tiếp nhận và sự kết hợp của nó
với phương pháp dạy học hiện đại trong dạy học tác phẩm văn chương và
đánh giá những đóng góp của luận văn.
6.
Giới hạn của đề tài:
Đề tài: “Từ lý thuyết tiếp nhận đến việc giảng dạy tác phẩm văn
chương ở nhà trường phổ thông - Ứng dụng giảng dạy phần thơ Việt
Nam hiện đại ở SGK các lớp THPT” nhằm đưa ra một hướng tiếp cận
mới trong việc giảng dạy tác phẩm văn chương ở nhà trường. Đề tài phân
tích những vấn đề lý luận về lý thuyết tiếp nhận, và những khả năng ứng
dụng của nó trong việc giảng dạy tác phẩm văn chương ở trường phổ thông
như thế nào, kết hợp vận dụng vào việc giảng dạy các tác phẩm thơ hiện
đại ở chương trình sách giáo khoa lớp 11, 12 THPT. Do giới hạn của một
luận văn cao học và thời gian có hạn nên đề tài chỉ ứng dụng giảng dạy
phần thơ hiện đại, còn những thể loại khác nếu có cơ hội chúng tôi sẽ
nghiên cứu ớ những đề tài tương tự.
7. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài:
7.1.
Cơ sở khoa học:
Luận văn thể hiện sự kết hợp giữa lý thuyết tiếp nhận với PP dạy học
đối tượng nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và
phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giới hạn của đề tài, cơ sở
khoa học và thực tiễn của đề tài và bố cục của luận văn.
Phần nội dung: gồm 3 chương
Chương một: Cơ sở lý luận của lý thuyết tiếp nhận và sự kết hợp
giữa lý thuyết tiếp nhận và phương pháp dạy học tích cực lấy học
sinh làm trung tâm.
Chương hai: Những hình thức tác động của hình tượng văn học tới
người đọc trong thơ ca và việc dạy tác phẩm thơ hiện đại.
Chương ba: Thực nghiệm giảng dạy các tác phẩm thơ hiện đại trong
nhà trường phổ thông.
Phần kết luận.
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VÀ SỰ KẾT
HỢP GIỮA LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VÀ PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC LẤY HỌC SINH LÀM
TRUNG TÂM
1.1. Lý thuyết tiếp nhận và những vấn đề lý luận:
1.1.1. Một số vấn đề về lý thuyết tiếp nhận.
1.1.1.1 Sơ lược về nguồn gốc và cơ sở lý luận:
Tác phẩm văn học được sáng tác ra để thưởng thức, tiếp nhận. Một
tác phẩm sau khi được tác giả hoàn thành còn ở dưới dạng văn bản, nó thật
sự trở thành tác phẩm chỉ khi đến tay người đọc, bắt đầu đời sống của nó.
Đời sống của một tác phẩm văn học diễn tiến từ hai phía: người sáng tạo ra
đặt giả thuyết rằng một tác phẩm đồng thời bao gồm văn bản với tư cách là
một cấu trúc cho sẵn và sự tiếp nhận của người đọc. Ý nghĩa của nó thay
đổi theo điều kiện và lịch sử xã hội của tiếp nhận nên nó không cố định, bất
biến mà mang ý nghĩa của cuộc đối thoại.
Năm 1976-1978, công trình “Xã hội, văn học, sự đọc” của các nhà
nghiên cứu Đức do Manfred Nauman chủ biên đã nêu những vấn đề cốt lõi
nhất của lý thuyết tiếp nhận. Họ cho rằng trung tâm lý thuyết tiếp nhận là
giải quyết vấn đề tương quan chặt chẽ giữa các thành tố khác nhau của quá
trình tiếp nhận văn học. Từ đó cần làm rõ ý nghĩa các thành tố: tác giả, tác
phẩm, người đọc và hiện thực.
Xét về mặt giáo trình giảng dạy ở nhà trường sư phạm, theo Trần
Đình Sử, cấu trúc của các giáo trình lý luận văn học, kể cả sách lý luận của
Viện Văn học Liên Xô như Dẫn luận nghiên cứu văn học (M., 1976, 1983),
Lý luận văn học, 3 tập (M., 1962-1965), Khoa học về văn học của Viện sĩ
Busowmin (1980) đều không nhắc đến vấn đề tiếp nhận văn học. Lý luận
văn học với tư cách là một khoa học ra đời vào buổi giao thời thế kỷ XVIIIXIX (P.Nikolaiek, 1983) thì lý luận tiếp nhận phải đến đầu thế kỷ XX mới
được ý thức và đến năm 1986 ở nước ta mới có bài Tiếp nhận văn học
trong giáo trình Lý luận văn học, trong khi trước đó các giáo trình nghiên
cứu Lý luận văn học đều không đề cập đến vấn đề tiếp nhận. Và trong thế
kỷ XX, lý luận tiếp nhận văn học đã được hình thành và phát triển có hệ
thống dần dần trở thành một hướng nghiên cứu có triểm vọng.
Mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc là vấn đề trung tâm của lý
thuyết tiếp nhận, là cơ sở lý luận của lý thuyết tiếp nhận. Nghiên cứu lý
thuyết tiếp nhận tức là nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa tác phẩm
và người đọc. Tác phẩm văn học đến tay độc giả, được độc giả đọc, thẩm
bình. Sau đó tác phẩm lại quay về với nhà văn, tác động ngược trở lại nhà
văn. Có trường hợp nhà văn phải viết những chuyên luận để giải thích cho
bạn đọc những vấn đề đã thể hiên trong tác phẩm. Tuy nhiên, việc tiếp
những năng lực hoạt động nhận thức chung mà cần đến những năng lực đặc
thù qua hình tượng thẩm mỹ vốn là một hình tượng nhận thức phát triển ở
mức cao hơn những hoạt động nhận thức bằng lý luận. Tác phẩm văn học
là một sáng tạo tinh thần của cá nhân người nghệ sĩ. Nó không phải là một
vật thể thẩm mỹ cụ thể mà là một tồn tại phi vật thể thông qua hình tượng
thẩm mỹ được vật chất hoá bằng hệ thống tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật.
Tác phẩm văn chương nào cũng nhằm mục đích thông báo tình cảm thẩm
mỹ. Nhà văn gửi đến cho người đọc nhiều xúc động mãnh liệt nhất về cuộc
sống, con người dưới ánh sáng của một lý tưởng thẩm mỹ. Nội dung đó nó
được thể hiện qua hình tượng thẩm mỹ được hệ thống hoá qua hệ thống
ngôn ngữ nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên. Nó là một đặc trưng riêng
trong sáng tác văn học và trong tiếp nhận văn học. Tiếp nhận chính là tìm
hiểu những tình cảm thẩm mỹ bằng hình tượng thẩm mỹ qua hệ thống ngôn
ngữ. Đây là một qui trình khép kín của tác phẩm văn học từ sáng tác đến
bạn đọc và ngược lại.
Từ qui trình tác động của tác phẩm văn học đối với bạn đọc, chúng ta
nhận thấy qui trình tiếp nhận tác phẩm là quá trình tiếp thu, lĩnh hội những
giá trị mà văn bản tác phẩm văn học mang đến cho người đọc. Nó đòi hỏi
người đọc phải có những năng lực cụ thể. Quá trình đó diễn ra theo một
chiều duy nhất đó đọc văn và tri giác ngôn ngữ. “Tiếp nhận văn học là một
quá trình, vì nó chỉ thực sự diễn ra theo một hoạt động duy nhất là đọc
văn”[34, tr.35].
Tiếp nhận văn học là giai đoạn hoàn tất qua trình sáng tác - giao
tế của tác phẩm: Nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm là để truyền đạt những khát
quát, rung cảm của mình về cuộc sống cho người đọc, chỉ khi người đọc
tiếp nhận tác phẩm thì quá tình sáng tạo mới hoàn tất. Muốn hiểu rõ bản
chất của quá trình tiếp nhận, cần thấy rõ hình tượng nghệ thuật tồn tại như
một quá trình có nhiều giai đoạn. trước tiên nó nảy sinh trong ý đồ tác giả,
đề tri âm, người tri âm là người thấu hiểu nỗi lòng của người sáng tạo.
Nhưng trong đời sống văn học nghệ thuật, có được bao nhiêu Bá Nha với
Chung Tử Kỳ? Quan niệm đọc văn lấy lòng mình mà đọc không quan tâm
đến dụng tâm của tác giả giải phóng sức sáng tạo, liên tưởng của người
đọc. Có lẽ nhờ cách đọc văn, bình văn như thế mà Tây Sương Ký trở thành
tuyệt tác qua lời bình của Kim Thánh Thán. Tuy nhiên, cách tiếp nhận này
dễ khiến người đọc rơi vào chủ quan và có thể xuyên tạc tác phẩm.
Văn học phản ánh đời sống xã hội nên vốn mang tính khách quan.
Nội dung tinh thần của tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở ngôn ngữ toàn
dân và các phương tiện tạo hình, biểu hiện nên hoàn toàn có thể truyền đạt
những yếu tố, nội dung tương đồng từ tác giả đến người đọc. Đó là những
cơ sở định hướng tiếp nhận của người đọc. Bằng chứng Lỗ Tấn sau khi
xuất bản AQ chính truyện đã bị rất nhiều độc giả gởi thư mắng chửi tại sao
ông lại đưa họ vào tác phẩm của ông. Thành công của Lỗ Tấn là đã xây
dựng một hình tượng nhân vật phổ chúng, mọi tầng lớp người đều như thấy
dáng dấp của mình trong tác phẩm.
Tiếp nhận là hoạt động khách quan. Người tiếp nhận phải dựa trên
những định hướng giới hạn về nội dung, nghệ thuật tác phẩm để tránh chủ
nghĩa cá nhân và xuyên tạc nội dung tác phẩm. Một tác phẩm luôn có giá
trị tự thân của nó, người đọc phải cảm thụ khách quan và tôn trọng. Không
phải nói tiếp nhận là chủ quan của người đọc thì anh muốn hiểu thế nào
cũng được.
Tính sáng tạo của tiếp nhận văn học: Như ta đã biết, tiếp nhận văn
học là hoạt động chủ quan của người đọc, người đọc lí giải tác phẩm bình
giảng tác phẩm vì thế nó là một hoạt động tích cực. Tùy vào tri thức, kinh
nghiệm sống của mỗi người mà việc lý giải có thể sâu sắc, cũng có thể hời
hợt, phiến diện tác phẩm văn học khi mới đến tay người đọc tự bản thân nó
mang những ý tưởng mà tác giả thể hiện. Thế nhưng, khi người đọc bắt đầu
vật, những rung cảm rất tinh tế, nhạy cảm của tác giả kéo chúng ta vào tác
phẩm, vào cùng cảm giác giao mùa? Vì sao rất nhiều chàng trai muốn mình
được một lần “mắt trừng gởi mộng qua biên giới”? Có phải do tác động
của hình tượng người anh hùng Tây Tiến quá bay bổng, quá lãng mạn trong
lòng người đọc?