Những nghiên cứu về hành trình cách tân thơ việt nam hiện đại từ sau phong trào thơ mới - Pdf 30

NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH TRÌNH CÁCH TÂN THƠ VIỆT
NAM HIỆN ĐẠI TỪ SAU PHONG TRÀO THƠ MỚI
Dương Thị Thúy Hằng
1

Tóm tắt: Hành trình cách tân thơ Việt Nam hiện đại từ sau 1945 là một hành trình kiên trì và
liên tục. Những nghiên cứu và đánh giá về các hiện tượng trên hành trình này cũng rất phức
tạp. Tìm hiểu về những nghiên cứu ấy sẽ giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về hành
trình cách tân thơ Việt Nam hiện đại từ sau 1945.

1. MỞ ĐẦU
Từ 1945 trở lại đây, thơ ca Việt Nam đã đi một con đường dài, với những bước thăng
trầm gắn liền với số phận lịch sử của dân tộc. Trong khoảng thời gian ấy, bên cạnh những vỉa
tầng truyền thống, các thế hệ thi sĩ luôn có ý thức tìm đến cho thơ ca một chân trời mới. Có
thể khẳng định, hành trình cách tân thơ Việt Nam hiện đại từ sau phong trào Thơ mới là một
hành trình hình sin, có thăng có giáng, có nét đậm nét mờ, nhưng chưa bao giờ bị đứt đoạn,
có chăng chỉ là sự “ủ trấu giữ lửa” (chữ dùng của PGS.TS. Mai Hương). Việc nghiên cứu về
những biểu hiện cách tân thơ cũng mang tính giai đoạn, với sự phức tạp nhiều chiều. Dưới
đây, chúng tôi khảo sát các công trình, bài viết, ý kiến theo tiến trình thời gian, tương ứng với
mỗi chặng tiêu biểu trên hành trình cách tân thơ Việt Nam hiện đại kể từ sau phong trào Thơ
mới.
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Sau 1945, đi vào cuộc kháng chiến, một nhịp thơ mới đã bừng lên, mang theo cái tươi rói
trẻ trung của cuộc đời mới, con người mới. Nhịp sống mới tất yếu đòi hỏi ở thơ những tìm tòi
hình thức biểu hiện mới, hữu hiệu nhất, nhằm diễn tả được đúng tâm hồn con người mới, nói
như Nguyễn Đình Thi là “nội dung mới, tự nó sẽ tìm đến hình thức mới”. Thơ tự do vốn đã
xuất hiện từ trước Cách mạng, đến thời điểm này phát triển mạnh đáp ứng yêu cầu phản ánh
cái khẩn trương, quyết liệt, muôn màu muôn vẻ của cuộc sống mới. Có thể kể những tác
phẩm tiêu biểu: Tình sông núi, Nhớ máu (Trần Mai Ninh), Đèo Cả, Quách Xuân Kì, Những
làng đi qua (Hữu Loan), Hải Phòng 19 - 11 - 1946 (Trần Huyền Trân), Bên kia sông Đuống
(Hoàng Cầm), Không nói (Nguyễn Đình Thi), Nhớ (Hồng Nguyên), Bài ca vỡ đất (Hoàng

nhiên, điều đáng tiếc ở đây là sự khắt khe và ngờ vực đối với những tìm tòi sáng tạo của
Nguyễn Đình Thi lại ở ngay cả những người trước đó từng chán ghét cái cũ, nhiệt thành cổ
vũ cái mới.
Hơn nửa thế kỉ đã qua đi, đã có loạt công trình, bài viết đánh giá về những nỗ lực cách
tân thơ của Nguyễn Đình Thi buổi đầu, tiêu biểu như: Nguyễn Đình Thi, từ quan niệm đến
thơ của Mai Hương (Tạp chí Văn học số 3/1999), Số phận những tìm tòi hình thức trong thơ
Việt Nam sau 1945 - thơ Nguyễn Đình Thi và dư luận của Vương Chí Nhàn (50 năm văn học
Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, nhiều tác giả, Nxb Đại học Quốc gia, 1996), Nguyễn
Đình Thi và một hướng tìm tòi của thơ hiện đại của Chu Văn Sơn (50 năm văn học Việt Nam
sau Cách mạng tháng Tám, Sđd), Nhà văn Nguyễn Đình Thi với những quan niệm về linh
hồn, niềm tin và thơ ca của Vũ Quần Phương (Báo Văn nghệ Công an số 4/2004)… Tuy
nhiên, một tìm hiểu đầy đủ, một đánh giá thỏa đáng về hiện tượng thơ Nguyễn Đình Thi buổi
đầu vẫn còn để ngỏ trong bức tranh lịch sử văn học dân tộc.
Sau sự kiện tranh luận văn nghệ Việt Bắc 1949 gắn liền với việc thơ Nguyễn Đình Thi
“bị” đưa ra phê bình, kiểm thảo, nhìn chung thơ đi theo đúng quỹ đạo mà thời đại và dân tộc
đặt ra lúc bấy giờ: phục vụ cách mạng, cổ vũ kháng chiến, lấy tiêu chí đại chúng hóa làm tiêu
chí hàng đầu. Tuy nhiên, như một quy luật muôn đời, những tìm tòi đổi mới thơ vẫn âm ỉ như
than nóng ủ tro, chỉ chờ điều kiện là bùng cháy. Phong trào sáng tác thơ những năm 1956 ở
miền Bắc, gắn với những tên tuổi như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Tử Phác… là một
minh chứng về điều này. Mặc dù bị chi phối khá mạnh mẽ bởi các tư tưởng chính trị nhưng
với một loạt các “sự kiện” như Trần Dần viết thư định gửi cho lãnh đạo, Trần Dần viết bài
thơ Nhất định thắng (sau được đăng trên số đầu tiên của tập san Giai phẩm), Hoàng Cầm và
một số người khác ra tập san Giai phẩm, sự ra đời của tờ báo tư nhân Nhân văn với những
bài đòi trả văn nghệ cho văn nghệ sĩ, lên tiếng phê phán hệ thống quan điểm lãnh đạo văn
nghệ lúc bấy giờ… thì những người như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm… đã ít hay nhiều,
gián tiếp hay trực tiếp bộc lộ khát vọng cháy lòng muốn đưa đến cho thơ Việt Nam một
khuôn mặt mới. Xét ra, quan điểm của những người chủ chốt của phong trào này chính là sự
nối dài, tiếp tục quan điểm mà nhóm Dạ Đài của Trần Dần đã trình bày trong Bản tuyên ngôn
tượng trưng với tinh thần chung là phản đối kiểu nghệ sĩ lãng mạn không có cách biểu hiện gì
mới mẻ so với cái đã có. Trong hoàn cảnh đất nước chưa thống nhất, mục tiêu chính trị chưa

những yếu tố chính trị, xã hội… chúng ta nhận thấy, Thanh Tâm Tuyền - chủ soái của dòng
thơ tự do trong các đô thị miền Nam thời kì tạm chiếm - đã đem đến những vỉa tầng ngữ
nghĩa hoàn toàn mới lạ cho ngôn từ trong thơ; ở đó đề cao sự đứt gãy của câu thơ nhưng lại là
sự liền mạch của cảm xúc. Thơ Bùi Giáng mấy chục năm trước đã mang dấu vết khá đậm của
yếu tố hậu hiện đại… Nhưng như trên đã nói, số phận của những tìm tòi đổi mới đó khá trắc
trở truân chuyên, bởi chủ yếu các bài nghiên cứu, phê bình về mảng thơ này đều dựa trên tiêu
chí xã hội học, chính trị (điều này cũng không có gì là khó hiểu trong điều kiện lịch sử lúc
bấy giờ).
Trước năm 1975, ở miền Bắc, tác phẩm của những tác giả như Thanh Tâm Tuyền,
Nguyên Sa, Tô Thùy Yên… bị đả phá kịch liệt (việc đề cập đến chuyện cách tân hay không
cách tân là một câu chuyện xa vời). Có thể kể ra các công trình, bài viết tiêu biểu: Vài nét tình
hình chung và tình hình văn học nghệ thuật vùng tạm chiếm miền Nam Việt Nam

của nhiều
tác giả (Ban Văn hóa - Trường Chính trị, 1973), Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân
mới trên mặt trận văn hóa tư tưởng

của nhiều tác giả (Nxb Văn hóa, 1980)… Trường Lưu
đánh giá về thơ Thanh Tâm Tuyền như sau: “Những trào lưu sáng tác điên loạn gieo rắc sự
hoài nghi và chán chường, không nói được cái gì tốt đẹp và phong phú của tâm hồn con
người và của dân tộc, mà thực ra, cũng chẳng có gì tốt đẹp để nói, thế thì việc gì phải thi hành
cái quyền nhận lãnh, phải hòa đồng nhân loại với thứ thơ quái gở đó” [3, tr.161].

Trong khi
đó, ở miền Nam, việc tiếp nhận thơ tự do, những nỗ lực cách tân làm mới thơ Việt sau thời
Thơ mới của các thi sĩ cũng rất khác biệt, tạo ra những cuộc tranh luận và cãi vã cả trong thơ
và ngoài thơ. Nhiều người dành hết lời ngợi khen, tán dương những sáng tác của nhóm Sáng
tạo. Một số cuốn sách tiêu biểu cho điều này: Thơ Việt Nam hiện đại 1900 - 1960

của Uyên

Việt (4 tập) của Thi Vũ (Nxb Quê mẹ, Paris, 1993)…
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, chiến tranh lùi xa, thơ trở về với địa hạt của cuộc
sống đời thường, với những trăn trở, suy tư mới. Đối diện với hiện thực mới, với độc giả
mới… yêu cầu đổi mới, tìm tòi và cách tân thơ được đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết. Điệu
tâm hồn đã khác đi, thơ cũng cần tìm cho mình một con đường biểu đạt khác so với mấy chục
năm trước đó. Có nhiều khuynh hướng tìm tòi sáng tạo trong thơ hơn ba mươi năm qua. Tựu
trung lại, có thể quy những nỗ lực sáng tạo cách tân thơ sau năm 1975 thành hai dạng cơ bản:
thứ nhất, đổi mới trên nền truyền thống thơ ca dân tộc, thứ hai, đổi mới hiện đại hóa thơ trên
cơ sở tiếp thu thành tựu thơ ca hiện đại thế giới. Cách đổi mới thứ nhất thường dễ được chấp
nhận hơn vì kết quả của nó là những sản phẩm nghệ thuật vừa quen vừa lạ. Cách đổi mới thứ
hai dễ gây “sốc” với nhiều người vì đó là những sản phẩm khoác trên mình những y phục xa
lạ. Để hiểu nó, người ta phải tạo nên được những “lỗ tai mới” như Lê Đạt từng đề nghị. Các
công trình tìm hiểu về những hiện tượng, dấu hiệu đổi mới thơ, theo xu hướng thứ hai, cũng
phức tạp, đa chiều nhiều kiểu như chính bản thân hiện tượng.
Những thể nghiệm cách tân đầu tiên gây được sự chú ý của dư luận xuất hiện vào khoảng
giai đoạn 1988 - 1991, với những tập thơ như Ngựa biển (Hoàng Hưng - 1988), Ba sáu bài
tình (Lê Đạt, Dương Tường - 1989), Đêm mặt trời mọc (Nguyễn Quốc Chánh - 1990), Bến lạ
(Đặng Đình Hưng - 1991)… Những tác phẩm này ngay lập tức chịu búa rìu dư luận, chủ yếu
nhấn đến sự lập dị trong cách tạo hình, việc xuất hiện yếu tố tình dục lộ liễu, việc biến ngôn
ngữ thành trò chơi âm thanh bí hiểm, tắc tị… Các bài viết của Chu Giang Nguyễn Văn Lưu
đối với thơ Dương Tường

(in trong Luận chiến văn chương, Nxb Văn học, 1995), của Thanh
Nhãn đối với thơ Nguyễn Quốc Chánh (Đêm mặt trời mọc, Tạp chí Văn nghệ Quân đội số
4/1991)… đều phủ nhận yếu tố cách tân trong các sáng tác này. Đến những năm 1993 - 1994,
phê bình lại một lần nữa “nóng” lên, với sự xuất hiện của những tập thơ mang đậm dấu ấn
chủ nghĩa hiện đại như Sự mất ngủ của lửa (Nguyễn Quang Thiều - 1992), Ô mai (Đặng Đình
Hưng - 1993), Bóng chữ (Lê Đạt - 1994), Người đi tìm mặt (Hoàng Hưng - 1994)… Những
cuộc thảo luận về các tác giả - tác phẩm kể trên là tiêu điểm kéo dài đến đầu năm 1995, tạm
lấy mốc kết thúc là bài tổng kết của Ban Lí luận và phê bình văn học trên báo Văn nghệ số


của Trần Mạnh Hảo (Nxb. Văn học,
1995).
3. KẾT LUẬN
Ở trên, chúng tôi đã điểm qua một hành trình khá dài lịch sử tiếp nhận những nỗ lực cách
tân thơ Việt Nam hiện đại, kể từ sau phong trào Thơ mới. Qua đây, chúng tôi một lần nữa
khẳng định lại một điều không mới: cách tân là lẽ sống của thơ, đã và sẽ luôn nhận được sự
quan tâm của bạn đọc và giới nghiên cứu, dù trong mọi hoàn cảnh. Thực tế, việc nhận chân
những nỗ lực cách tân thơ có công lao rất lớn của các nhà nghiên cứu, phê bình. Nếu như để
làm mới làm đẹp thơ, nhà thơ cần đến khát vọng - mĩ cảm mới, lương tâm nghề nghiệp, dám
“sống chết” với thơ thì để nhận chân ra các giá trị cách tân thơ thực sự, người đọc, nhà
nghiên cứu, phê bình cũng cần có bản lĩnh, sự công tâm và tất yếu là một trí tuệ sắc sảo. Cuối
cùng, tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu những nỗ lực cách tân trong thơ Việt Nam hiện đại cũng
sẽ góp phần đúc kết những bài học kinh nghiệm thẩm mĩ quý báu vào vấn đề mang tính thời
sự: sáng tác, tiếp nhận - phê bình thơ cách tân hôm nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Trọng Đăng Đàn, Văn hóa văn nghệ… Nam Việt Nam 1954 - 1975, Nxb Văn hóa
Thông tin, H., 2000.
2. Hà Minh Đức và Trần Khánh Thành (giới thiệu và tuyển chọn), Tranh luận về thơ
Nguyễn Đình Thi, in trong “Nguyễn Đình Thi - tác gia và tác phẩm”, Nxb Giáo dục, H.,
2000.
3. Trường Lưu, Văn hóa văn nghệ một thời hai trận tuyến, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa
Thông tin, H., 2001.
4. Nguyễn Thanh Sơn, Phê bình văn học của tôi, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh, 2002.
5. Trần Đình Sử, Văn học và thời gian, Nxb Văn học, H., 2001.
6. Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Đình Thi - một cánh én bay qua mùa xuân, Tạp chí Ngôn ngữ (9),
2003.
THE RESEARCHES ON VIETNAM’S POETRY MODERN INNOVATION CRUISE
AFTER NEW POETRY MOVEMENT
Duong Thi Thuy Hang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status