1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Ngữ văn là một trong những môn học quan trọng bậc nhất ở nhà trường
phổ thông. Ngoài việc cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản như các
môn học khác, môn Ngữ văn còn tác động sâu sắc đến tâm hồn, tư tưởng, tình
cảm của HS; đem lại niềm vui, sự hứng thú và góp phần trực tiếp vào việc giáo
dục đạo đức, nhân cách cho người học. Tuy nhiên, trong thực tế dạy học văn ở
nhà trường phổ thông hiện nay, môn Ngữ văn vẫn chưa phát huy hết tiềm năng,
thế mạnh đó. Nhiều học sinh không có hứng thú học văn, hoặc học đối phó...
Làm thế nào để khắc phục được tình trạng này? Đổi mới phương pháp dạy học
Ngữ văn nói chung, dạy đọc - hiểu nói riêng theo hướng vận dụng các kĩ thuật
dạy học tích cực nhằm tạo cơ hội cho học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong
quá trình học tập, vì vậy, là một giải pháp cần thiết và cấp bách.
Trong những năm gần đây, dạy học áp dụng các kĩ thuật tích cực được sử
dụn rộng rãi. Mỗi phương pháp, kĩ thuật dạy học có những ưu điểm, hạn chế
riêng; mỗi môn học cũng có những đặc trưng, đặc thù cụ thể. Vì vậy, nghiên cứu
vận dụng một cách phù hợp và hiệu quả các kĩ thuật dạy học này vào từng môn
học, từng phần kiến thức cụ thể là một yêu cầu tất yếu.
Bên cạnh các kĩ thuật dạy học tích cực như “hợp tác”, “động não”, “mảnh
ghép”, “khăn phủ bàn” thì “KWL” là một trong những kĩ thuật dạy học có nhiều
ưu thế trong việc khuyến khích học sinh chủ động bày tỏ cảm xúc, ý kiến, nhu
cầu nhận thức, nhu cầu khám phá của mình về tác phẩm; đồng thời cho phép GV
thu nhận được những thông tin phản hồi kịp thời để điều chỉnh và thiết kế nội
dung bài học một cách hiệu quả. Hơn nữa, kĩ thuật KWL hiện đã có nhiều phiên
bản cho phép giáo viên kiểm soát đa dạng hơn các kĩ năng đọc - hiểu của học
sinh.
Trong chương trình Ngữ văn lớp 9, phần thơ Việt Nam hiện đại chiếm
một vị trí và thời lượng khá quan trọng. Hướng dẫn HS phát hiện và cảm nhận
mạch cảm xúc trữ tình là mở ra cho HS con đường đi vào và giải mã thế giới
nghệ thuật trong bài thơ. Tuy nhiên, trong thực tế dạy học tác phẩm thơ trữ tình
ở nhà trường phổ thông hiện nay, giáo viên thường cảm thụ tác phẩm và truyền
2
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
Dạy học theo hướng tích cực là một trong những yêu cầu cần thiết của
các nền giáo dục phát triển trên thế giới. Kharlamop trong cuốn “Phát huy
tính tích cực của học sinh như thế nào” (tập 1, NXB GD, Hà Nội 1978) đã
nêu rõ: “Việc nghiên cứu khoa học giáo dục làm sáng tỏ những vấn đề có liên
quan tới việc cải tiến hoạt động nhận thức và nâng cao tính tích cực, trí tuệ
của học sinh là trung tâm chú ý của các nhà nghiên cứu giáo dục và giáo
viên”. Bên cạnh đó, hàng loạt những công trình nghiên cứu về vấn đề phát
huy tính tích cực của học sinh cũng nêu cao vai trò chủ động, sáng tạo của
học sinh, như: “Những cơ sở của dạy học hiệu nghiệm ở nhà trường Xô Viết”
của L.V. Sacôp (1959); “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề” (V.Ô kôn,
NXB GD, Hà Nội 1976)…
Kĩ thuật dạy học KWL do Donna Ogle giới thiệu năm 1986, vốn là một
hình thức tổ chức dạy học hoạt động đọc - hiểu. KWL là kĩ thuật dạy học nhằm
tạo điều kiện cho người học phát huy cao độ tính chủ động, sáng tạo bằng cách
nêu những điều đã biết liên quan đến chủ đề, những điều muốn biết về chủ
đề trước khi học và những điều đã học được sau khi học. Dựa trên sơ đồ KWL,
người học tự đánh giá được sự tiến bộ của mình trong việc học, đồng thời GV
biết được kết quả học tập của người học, từ đó điều chỉnh việc dạy học cho phù
hợp. Học sinh bắt đầu bằng việc động não tất cả những gì các em đã biết về chủ
đề bài học.
Trong cuốn “Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kĩ thuật dạy
học” của Bộ GD&ĐT theo dự án Việt - Bỉ (NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội,
2010), các tác giả đã giới thiệu khá đầy đủ về một số phương pháp và kĩ thuật
dạy học tích cực, trong đó có trình bày về mục tiêu, tác dụng, cách thức tiến
hành và những lưu ý khi vận dụng kĩ thuật dạy học KWL.
cảm nhận được cho học sinh. Đôi lúc nghiêng về khai thác nội dung tư tưởng.
Có khi học sinh không cần đọc văn bản, giáo viên vẫn tổ chức cho học sinh thực
hiện theo các bước đã định sẵn. Thậm chí, giáo viên chỉ gọi các em đọc lướt qua
vài phút rồi lập tức đi vào tìm hiểu, phân tích để kịp thời lượng trên lớp. Vì vậy,
sẽ không có thời gian để học sinh suy nghĩ, tìm tòi, nêu ý kiến bản thân theo yêu
cầu của các cột trong các phiên bản của KWL.
Như vậy, việc đổi mới phương pháp, kĩ thuật trong dạy học và kiểm tra
đánh giá Ngữ văn nói chung, thơ hiện đại ở lớp 9 nói riêng vẫn chưa thực sự
chuyển biến, nhiều khi còn dừng ở hình thức, chưa có chiều sâu. Phương pháp
dạy đọc - hiểu chưa có hiệu quả, giáo viên chưa chú ý đến việc hình thành cho
HS phương pháp đọc văn. Việc kiểm tra đánh giá vẫn chủ yếu là kiểm tra kiến
thức nhớ, tái hiện, làm theo, chép lại,... học tác phẩm nào thi đúng tác phẩm đó,
chưa đánh giá đúng được sự vận dụng kiến thức, chưa chú trọng việc đánh giá
thường xuyên trên lớp học và sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh nội dung,
phương pháp dạy và học. Việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong đó có
KWL còn rất hạn chế.
- Về phía học sinh: Thể loại, thi pháp thơ hiện đại có nhiều điểm gần gũi
với học sinh, tuy nhiên vẫn có những mã khóa nghệ thuật mà học sinh khó có
thể cảm nhận hết. Vốn sống, kinh nghiệm thực tế học sinh còn ít, học sinh khó
khăn khi tái hiện hoàn cảnh ra đời bài thơ, hiểu các hình ảnh, những ẩn dụ, ví
von... được sử dụng trong bài thơ. Học sinh học văn theo kiểu học theo, làm theo
4
kết quả phân tích của thầy chứ chưa chủ động, sáng tạo. Việc học này làm mất
khả năng tự học và sự tìm tòi khám phá của các em, bởi người thầy dù tài năng
đến mấy thì kết quả phân tích tác phẩm vẫn mang tính cá nhân, chủ quan.
KWL là một kĩ thuật dạy học mới, khi triển khai thường phải kết hợp với
các phương pháp và kĩ thuật dạy học khác một cách linh hoạt. Để học sinh vận
cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Vì thế, hiệu quả giáo dục đạo đức cho
học sinh qua những giờ học thơ có lúc, có chỗ giảm sút.
5
Ngoài ra, sự quan tâm, cách nhìn nhận của phụ huynh học sinh là chú
trọng học các môn Khoa học tự nhiên cũng có những ảnh hưởng không tích cực
đến việc nỗ lực phấn đấu của HS đối với môn Ngữ văn. Trình độ học sinh không
đều, quan niệm lệch lạc coi trọng các môn tự nhiên và ngoại ngữ nhiều hơn các
môn xã hội, ngay cả phụ huynh cũng không đầu tư nhiều cho con học môn này;
mạng internet đã có rất nhiều trò chơi rất hấp dẫn, tất cả đã ảnh hưởng đến hứng
thú học nói chung, học thơ trữ tình nói riêng ở THCS. Các em thiếu sự tìm tòi,
khám phá những phương pháp và kĩ thuật dạy học mới để cùng với giáo viên
xây dựng bài học, cảm thụ, cảm nhận những cung bậc cảm xúc của nhà thơ qua
tác phẩm văn chương.
Tất cả những khó khăn, bất cập trên đòi hỏi phải có những giải pháp tích
cực để vận dụng hiệu quả hơn kĩ thuật KWL trong dạy học thơ Việt Nam hiện
đại nói riêng, dạy học Văn nói chung, nhằm nâng cao chất lượng học Ngữ văn
của học sinh.
2.3. Các khái niệm
2.3.1 Khái niệm kĩ thuật
Kĩ thuật chỉ tổng thể nói chung những phương pháp, phương thức sử dụng
trong một lĩnh vực hoạt động nào đó của con người. Theo cách sử dụng ngôn
ngữ thông thường, từ “kĩ thuật” thường đi kèm với các từ mang nghĩa máy móc
công nghệ, chỉ sự phát triển hiện đại.
2.3.2. Khái niệm kĩ thuật dạy học và phương pháp dạy học
Khái niệm phương pháp dạy học có khi được sử dụng để chỉ những cách
thức, con đường hoạt động; có khi được dùng như một kĩ thuật cụ thể, các mô
hình hành động cụ thể. Phương pháp dạy học cũng bao gồm những phương pháp
Vận dụng kĩ thuật KWL chính là vận dụng những kĩ thuật, phương thức
dạy học theo hướng tích cực, hiện đại nhằm nâng cao chất lượng dạy và học,
phát huy chủ thể sáng tạo của học sinh.
2.4. Các giải pháp và tổ chức thực hiện
2.4.1. Quy trình thực hiện
Bước 1: Hướng dẫn học sinh tạo bảng KWL theo mục tiêu cần đạt.
Bước 2: Cho học sinh động não, liệt kê những điều đã biết về tác giả, bài
thơ/chủ đề vào cột K.
Bước 3: Cho học sinh động não và nêu câu hỏi, những điều muốn biết về
nhà thơ, bài thơ vào cột W.
Bước 4: Cho học sinh đọc, giải thích, phân tích giá trị nội dung, nghệ
thuật của văn bản và hệ thống hóa kiến thức cơ bản vào cột L.
2.4.2. Hướng dẫn học sinh trình bày những điều đã biết (K) về văn bản
2.4.2.1. Mục tiêu
Thơ ca là cuộc sống được đúc kết trong một hình thức ngôn ngữ hàm súc,
giàu hình ảnh và nhịp điệu. Thơ ca là kho tàng cảm xúc của con người. Vì vậy,
để hiểu thơ phải có vốn sống, để cảm thơ phải có sự nhạy cảm, phải “lấy hồn tôi
để hiểu hồn người” (Hoài Thanh). Hơn nữa, học sinh lớp 9 đã có một vốn sống,
vốn kiến thức về thơ ca, về văn chương nghệ thuật tương đối. Vấn đề là cần phải
quan tâm và có cách khơi gợi, đánh thức những hiểu biết đó phục vụ cho việc
đọc - hiểu các văn bản thơ hiện đại. Vì vậy, tiếp xúc với một văn bản thơ, yêu
cầu đầu tiên đối với học sinh là phải huy động những kiến thức tối thiểu về bài
thơ đó như: Hiểu biết nhất định về tác giả, chủ đề liên quan, hoàn cảnh sáng tác,
cũng có thể là điều mà các em đã trải qua. Nội dung yêu cầu ở cột K (điều đã
biết) nhằm giúp học sinh huy động vốn sống, vốn hiểu biết về bối cảnh xã hội,
7
tác giả, tác phẩm và những vấn đề liên quan đến tác giả, tác phẩm làm tri thức
nền cho việc hiểu và cắt nghĩa văn bản sau này.
2.4.2.3. Cách thức thực hiện
Tạo bảng KWL theo mục tiêu cần đạt. Giáo viên cần giải thích rõ mục
tiêu, yêu cầu cho học sinh. Học sinh có thể tự kẻ bảng vào vở hoặc giấy nháp,
hoặc giáo viên phát phiếu học tập. Tuy nhiên, không nhất thiết giờ học nào, bài
8
học nào, hoạt động nào cũng yêu cầu học sinh điền đầy đủ cả các cột. Sau một
thời gian ngắn nhất định, giáo viên yêu cầu học sinh điền kết qủa vào cột K.
Học sinh làm việc độc lập hoặc theo nhóm, chia sẻ trong nhóm, sau đó
giáo viên có thể chuẩn bị trước một hệ thống câu hỏi gợi mở, định hướng dẫn
dắt học sinh khởi động theo yêu cầu của bài đọc - hiểu. Nói cách khác, giáo viên
hướng dẫn học sinh huy động kiến thức, hiểu biết bằng cách trả lời các câu hỏi,
chẳng hạn:
- Tôi đã biết gì về nhà thơ?
- Tôi đã học, đã đọc tác phẩm nào khác của nhà thơ này?
- Bài thơ này được viết trong hoàn cảnh nào?
- Nội dung gì trong bài thơ gần gũi, thân thiết với tôi?
- Tôi có kỉ niệm nào liên quan đến nội dung bài thơ?
- Cảm xúc của tôi lần đầu đọc bài thơ?
Giáo viên khuyến khích học sinh giải thích, vì những điều học sinh nêu ra
có thể mơ hồ, xa lạ, khó hiểu hoặc ít liên quan đến văn bản.
Ví dụ: Khi dạy “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, giáo viên giúp học
sinh huy động kiến thức, hiểu biết bằng cách tự đặt ra và trả lời các câu hỏi:
- Tôi đã biết gì về Phạm Tiến Duật?
- Tôi đã học, đã đọc tác phẩm nào khác của Phạm Tiến Duật?
- “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được viết trong hoàn cảnh
nào?
- Bài thơ có điều gì gần gũi, thân thiết với tôi?
của thế hệ các nhà thơ trẻ nhà thơ Phạm Tiến
thời chống Mĩ.
Duật.
- Tôi đã học, đã đọc tác
- Tác phẩm: Vầng trăng - Các tác phẩm tiêu
phẩm nào khác của nhà
quầng lửa, Ở hai đầu
biểu.
thơ này?
núi.
- “Bài thơ về tiểu đội xe
- “Bài thơ về tiểu đội xe - Hoàn cảnh sáng tác
không kính” được viết
không kính” in trong tập bài thơ.
trong hoàn cảnh nào?
“Vầng trăng quầng lửa”
(1970)
- Nội dung gì trong bài
- Hình ảnh người chiến sĩ - Xác định được nhân
thơ gần gũi, thân thiết với lái xe Trường Sơn trong vật trữ tình trong bài
tôi?
kháng chiến chống Mĩ.
thơ.
- Nghe ông kể chuyện
- Tôi có kỉ niệm gì liên
thời kháng chiến chống
- Có những kỉ niệm
quan đến nội dung bài
Mĩ.
nhất định về nhà thơ.
giả được nối bằng sợi dây đồng cảm kì diệu. Văn chương nói chung, thơ trữ tình
hiện đại nói riêng luôn mang đến sự rung cảm mãnh liệt, sâu xa, giúp cho đời
sống tinh thần con người phong phú, đẹp đẽ hơn. Do đó, đọc một câu thơ hay,
bao giờ chúng ta cũng nghiền ngẫm, suy nghĩ và cảm nhận, lắng lại lòng mình
với những dư âm sâu sắc. Người học Văn là học ở nội dung ý nghĩa đằng sau
câu chữ ấy. Chính vì vậy, điều muốn biết (W) khi học một tác phẩm thơ, đó có
thể là những câu hỏi, những băn khoăn thắc mắc; những hoài nghi về những
điểm hàm ngôn, đa nghĩa, khó nắm bắt, không được nhà thơ nói trực tiếp trong
văn bản; là những vấn đề tư tưởng, đạo đức, lịch sử, văn hóa, xã hội; là giá trị, ý
nghĩa sâu sắc mà nhà thơ gửi gắm thông qua văn bản. Để nắm bắt được nội dung
đó, yêu cầu học sinh phải đọc kĩ bài thơ, tham khảo tài liệu, tìm hiểu về cuộc đời
tác giả, hoàn cảnh sáng tác, đặc biệt là cảm nhận được những rung cảm tinh tế
của nhà thơ, từ đó biết tự xác định mục tiêu, nhiệm vụ đọc - hiểu chi tiết bài thơ.
Chẳng hạn, khi học bài thơ “Con cò” (Chế Lan Viên), để nêu được những
điều muốn biết về tác phẩm, yêu cầu HS phải huy động vốn kiến thức về nhà thơ
Chế Lan Viên, đọc kĩ văn bản, tìm những điểm băn khoăn, khó hiểu và tự đặt ra
một loạt các câu hỏi, hoặc GV gợi ý:
- Tại sao hình ảnh con cò xuất hiện xuyên suốt bài thơ?
- Hình ảnh con cò và lời ru có ý nghĩa như thế nào trong đời sống
của mỗi chúng ta.
- Bài thơ muốn nhắn gửi điều gì đến mỗi người?
- Thể thơ tự do và âm hưởng bài thơ có ý nghĩa như thế nào?
Với các câu hỏi trên, chắc chắn khi chuẩn bị bài học sinh đã có sự định
hướng trả lời theo cảm nhận của riêng mình. Nội dung, phạm vi kiến thức nằm ở
sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, cảm xúc của bản thân. Và các em sẽ nhận ra,
hình ảnh bao trùm, xuyên suốt bài thơ là biểu tượng con cò bay ra từ trong ca
dao truyền thống và những miền cổ tích. Những cánh cò trắng muốt đã đi vào
thơ của Chế Lan Viên gợi về hình tượng những miền quê yên ả, thanh bình,
những xóm làng trù phú. Đồng thời, cánh cò cũng gợi hình tượng những con
người lao động, người vợ, người mẹ, người nông dân, người phụ nữ vất vả, nhọc
Giáo viên hỏi những câu hỏi nối tiếp và gợi mở. Giáo viên cần chuẩn bị
một số câu hỏi then chốt giúp học sinh điền vào cột W để định hướng trong quá
trình phân tích. Vì như đã nói, tự đặt câu hỏi là một vấn đề khó. Kĩ năng này
phải được dần hình thành từng bước. Cuối cùng, học sinh nêu danh sách các câu
hỏi hoặc những điều các em muốn biết thêm trong chủ đề, văn bản này.
Ví dụ: Dạy bài “Sang thu” (Hữu Thỉnh - Tiết 121, Ngữ văn 9), sau khi học
sinh đã điền được nội dung cột K, giáo viên tiếp tục cho học sinh điền nội
dung cột W (Điều muốn biết) theo phiếu học tập:
K
W
L
Điều muốn biết về bài
“Sang thu”
- Nhà thơ Hữu Thỉnh.
- Những dấu hiệu nào
- Chủ đề mùa thu trong cho thấy thiên nhiên
thơ ca.
đang chuyển từ cuối hạ
- Bài thơ in trong tập “Từ sang thu?
chiến hào đến thành - Tâm trạng của tác giả
12
phố”
- Thể thơ 5 chữ.
…
chuyển biến như thế nào
từ khổ 1 đến khổ 3?
riêng của học sinh về tác phẩm. Học sinh cảm nhận, đối chiếu với điều đã biết
(K), từ đó nâng lên thành nội dung bài học.
Kết quả phân tích, tìm hiểu chi tiết mỗi bài thơ là sự cảm nhận cái hay, cái
đẹp, đúc kết tinh hoa, giá trị thẩm mĩ, những điều tác giả gửi gắm qua tác phẩm
để biến thành những tri thức của chính học sinh. Thế nhưng, không phải học
sinh nào cũng thu nhận được điều đó. Vì vậy, trong quá trình giảng bình, giáo
13
viên luôn hướng học sinh tới chuẩn kiến thức, từ đó kích thích tư duy độc lập
suy nghĩ của các em. Học sinh tự biết mình học được gì qua tiết học đã là một
thành công lớn của bài học, giờ học.
Hiện nay, không thiếu những tài liệu tham khảo phục vụ việc phân tích,
bình thơ. Thế nhưng, không phải học sinh nào cũng tự đọc, tự thẩm thấu, cảm
nhận điều người viết đề cập. Do đó, trong giờ dạy học thơ, người giáo viên vẫn
luôn đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt học sinh tự chiếm lĩnh tác phẩm.
Học sinh học được điều gì đều chủ yếu nhờ vào sự dẫn dắt, định hướng của giáo
viên. Trên cơ sở đó, các em phát huy sự sáng tạo của bản thân để mở rộng và
nâng cao những khám phá, phát hiện về ý nghĩa giá trị của bài thơ. Có như vậy
giờ học Văn nói chung, thơ nói riêng mới không nhàm chán, nội dung kiến thức
lại gần gũi và thiết thực với đời sống xã hội và đời sống cá nhân học sinh.
Ví dụ: Dạy bài “Đoàn thuyền đánh cá” (Huy Cận), giáo viên cần hướng
học sinh thông hiểu và hệ thống hóa được những kiến thức cơ bản sau:
- Bài thơ đã ca ngợi con người lao động mới của một vùng quê làng
chài Quảng Ninh trong niềm vui phấn khởi, lạc quan, niềm tin vào con đường
làm ăn tập thể, làm chủ tự nhiên, làm chủ cuộc đời.
- Hình ảnh tự nhiên vũ trụ tươi đẹp, rộng lớn, bao la; biển cả giàu có
hứa hẹn nhiều tiềm năng dâng hiến và ban tặng cho con người.
- Từng khổ thơ tứ tuyệt gieo vào lòng người đọc một cảm hứng say
sưa, nhiệt tình, hứng khởi.
* Tác giả, tác phẩm: Nhà thơ Hữu Thỉnh (1942). Bài thơ in trong
tập “Từ chiến hào đến thành phố” (1977)
* Nội dung: Cảm nhận sự giao mùa từ cuối hạ sang thu:
Tín hiệu báo thu: hương ổi, gió se, sương chùng chình; cùng với
cảm xúc ngỡ ngàng, xao xuyến.
Sự thay đổi của cảnh vật: sông dềnh dàng, chim vội vã, mây vắt
nửa mình sang thu; cùng với cảm xúc say sưa giao cảm với thiên nhiên.
Tâm trạng, suy ngẫm của nhà thơ: Từ ngạc nhiên trước sự chuyển
mùa đến triết lí về cuộc đời (khi con người đã từng trải sẽ vững vàng hơn trước
những thử thách của cuộc đời)
* Nghệ thuật: Thể thơ 5 chữ; sử dụng nhân hóa, ẩn dụ sáng tạo;
hình ảnh giàu tính biểu cảm, mang ý nghĩa tượng trưng.
15
+ Theo sơ đồ tư duy; chẳng hạn, bài “Mùa xuân nho nhỏ”:
Trong sơ đồ này, nội dung cột L bao gồm sự kết hợp cả những điều đã biết
(K) với những điều đã học được. Sơ đồ tư duy giúp học sinh bao quát kiến thức cần
đạt được của bài học. Học sinh vẽ được sơ đồ tư duy nghĩa là các em đã thực sự
hiểu bài và hệ thống được kiến thức một cách khoa học, dễ nhớ, dễ hiểu. Đây cũng
là sự khéo léo của giáo viên khi kết hợp kĩ thuật dạy học KWL với các kĩ thuật dạy
học khác, làm cho giờ dạy thêm phong phú, lôi cuốn và hiệu quả.
16
2.5. Hiệu quả
Chúng tôi thấy rằng, vận dụng kĩ thuật KWL trong các tiết học về thơ hiện
- Hình ảnh người lính - Hình ảnh những chiếc xe có gì
trong kháng chiến.
độc đáo? Qua đó tác giả muốn
- Chất hiện thực hòa khẳng định điều gì?
cùng chất lãng mạn.
- Hình ảnh “trái tim” trong khổ
-…
thơ cuối tượng trưng cho điều
gì? Điều ấy có ý nghĩa như thế
nào?
-…
Kết quả bài làm mà chúng tôi thu được cho thấy học sinh trình bày nội
dung phong phú, đa dạng, có sự mở rộng, liên hệ, không bị gò bó trong hệ thống
17
câu hỏi của giáo viên. Trong đó, những kiến thức về tác giả, hoàn cảnh ra đời
của tác phẩm, hình ảnh người lính, chất hiện thực và chất lãng mạn... được học
sinh ghi nhận. Những kiến thức hướng tới như ý nghĩa nhan đề, hình ảnh người
lính và những chiếc xe không kính, lòng nhiệt huyết, trái tim hừng hực lửa đang
hướng ra trận tuyến... mà học sinh đưa ra là cơ sở, định hướng cho bài giảng. Từ
đó, giáo viên biết được tâm tư, nguyện vọng của các em trong bài học.
Cụ thể, kết quả thu được từ bài kiểm tra đầu năm và cuối năm của hai
lớp như sau:
Khối lớp
Đầu
năm
Cuối
9K
55
0
0%
12
9H
54
12
22,2%
20
Trung
bình
SL
%
32 59,3%
12
thuật KWL. Việc vận dụng kĩ thuật này vào dạy học nói chung, dạy thơ Việt
Nam hiện đại ở lớp 9 nói riêng giúp cho giờ học thêm sôi nổi, phát huy được
tính chủ động, sáng tạo ở học sinh, đồng thời khắc phục được sự nhàm chán, thụ
động trong giờ giảng Văn.
Tuy việc áp dụng mới chỉ diễn ra ở một trường học, với số lượng học sinh
còn hạn chế, song kết qủa kiểm tra đánh giá đã nói lên phần nào tính khả thi của
đề tài. Học sinh đã có hứng thú trong học tập, luôn mong muốn bộc lộ suy nghĩ
cá nhân, từ đó biết tìm tòi, khám phá những điều mới mẻ. Chính điều này đã
kích thích khả năng nghiên cứu, đầu tư cho tiết dạy của giáo viên.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
18
KWL là một kĩ thuật dạy học tích cực có nhiều lợi thế, ưu điểm trong dạy
học Ngữ văn nói chung, dạy học thơ Việt Nam hiện đại ở lớp 9 nói riêng. Trong
mỗi giờ học, tùy từng thời điểm thích hợp mà giáo viên có thể vận dụng linh
hoạt kĩ thuật này, phối hợp với các kĩ thuật và phương pháp dạy học tích cực
khác, từ đó tạo hứng thú học tập cho học sinh, bởi những điều các em đã biết,
muốn biết và học được qua từng bài học phù hợp với nhu cầu nhận thức của học
sinh, giúp các em dần hình thành khả năng định hướng trong học tập, tự tìm ra
cách học phù hợp nhất cho bản thân. Sử dụng kĩ thuật KWL còn giúp giáo viên
và học sinh tự đánh giá kết quả học tập, có sự điều chỉnh và định hướng cho các
hoạt động học tập tiếp theo.
Mặt khác, kĩ thuật KWL rất thích hợp trong dạy các môn khoa học xã hội,
lại có khả năng kết hợp linh hoạt với các phương pháp dạy học mới như thảo
luận nhóm, trình bày 1 phút, động não… nên dễ dàng rèn cho học sinh nhiều kĩ
năng cần thiết. KWL tạo bầu không khí thoải mái cho giờ học, giúp hoc sinh chủ
tính hình thức, chiếu lệ. Bản thân người giáo viên không tiếp cận được với sự
đổi mới đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay.
Đối với nhà trường THCS, cần đầu tư về cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ
dạy học như máy chiếu, ti vi, máy tính… Bởi các kĩ thuật dạy học mới đều đòi
hỏi thực hiện nhanh chóng, không làm mất thời gian, ảnh hưởng đến tiến trình
bài học. Ngoài ra, nhà trường cần quan tâm đến công tác chuyên môn, cho giáo
viên dự giờ thăm lớp, đúc rút kinh nghiệm, trao đổi ở nhóm, tổ để tìm ra những
phương pháp, kĩ thuật dạy học hiệu quả, nâng cao hứng thú học tập cho học
sinh.
Quá trình dạy học có đạt kết quả hay không còn phụ thuộc một phần lớn
vào đối tượng học sinh. Vì vậy, kích thích tư duy sáng tạo, năng lực phát hiện ở
học sinh, cho các em tiếp cận, làm quen với những kĩ thuật và phương pháp dạy
học mới là điều quan trọng trong dạy học. Hiện nay, nhiều học sinh rất ngại học
văn, ngại viết văn, thơ ca trở thành một thứ xa lạ với các em, cho nên, giáo viên
cần khơi gợi tình yêu văn thơ, niềm ham thích đọc sách ở các em…
KWL là những vấn đề lí luận mới, nghiên cứu ứng dụng của chúng tôi vì
vậy mới chỉ là bước đầu, KWL cần được nghiên cứu ứng dụng sâu rộng và đa
dạng trong dạy học Văn ở nhà trường phổ thông Việt Nam.
Trên đây là những kinh nghiệm của tôi qua việc thực hiện đề tài ở trường
THCS Minh Khai. Đây chỉ là kinh nghiệm mang tính chủ quan của bản thân và
mới áp dụng trong phạm vi hẹp. Rất mong sự đóng góp ý kiến, trao đổi, bổ sung
của bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Minh Khai, ngày 02 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của bản
thân, không sao chép nội dung của
trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
11. Phan Trọng Luận (1997), Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
12. Phan Trọng Luận(1978), Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
13. Nhiều tác giả, Sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 1- 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
14. Nhiều tác giả, Sách bài tập Ngữ văn 9, tập 1 - 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
15. Nhiều tác giả, Sách giáo viên Ngữ văn 9, tập 1- 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
16. Nhiều tác giả, Sách giáo khoa Ngữ văn 7, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
17. Nhiều tác giả, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ văn
THCS, tập một, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
18. Nhiều tác giả, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ văn
THCS, tập hai, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
19. Cao Đức Tiến, Lấy HS làm trung tâm trong dạy học Văn, Kỉ yếu Hội thảo
Đổi mới PPDH Văn và Tiếng Việt ở trường THCS, Hà Nội tháng 12/1996.
20. Hoài Thanh - Hoài Chân (2008), Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn Hóa Sài Gòn.
21.Trang mạng xã hội, Internet, Google…
MỤC LỤC
Nội dung
1. PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
1
22
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
22
23