Vận dụng sơ đồ tư duy vào việc dạy học đọc hiểu văn bản Tấm Cám ở trường THPT - Pdf 44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

PHẠM THỊ THU HUYỀN

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO
VIỆC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
TẤM CÁM Ở TRƯỜNG THPT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI - 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

PHẠM THỊ THU HUYỀN

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO
VIỆC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN
BẢN TẤM CÁM Ở TRƯỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học:
ThS. NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG

HÀ NỘI - 2017



Phạm Thị Thu Huyền


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
SĐTD

Sơ đồ tư duy

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

THPT

Trung học phổ thông

PPDH

Phương pháp dạy học

SGK

Sách giáo khoa

SGV

1.1.2.3 Ý nghĩa của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong giáo dục ....................... 17
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy đọc hiểu văn bản
Tấm Cám ......................................................................................................... 18
1.2.1 Điều tra, thăm dò ý kiến giáo viên ......................................................... 18


1.2.2 Điều tra, thăm dò ý kiến học sinh .......................................................... 20
1.2.3 Đánh giá chung về thực trạng, tình hình dạy học đọc hiểu văn bản Tấm
Cám có sử dụng sơ đồ tư duy .......................................................................... 21
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 23
Chương 2. DẠY HỌC VĂN BẢN TẤM CÁM TRONG SÁCH GIÁO
KHOA NGỮ VĂN 10 CÓ VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY ........................ 24
2.1 Vị trí của văn bản Tấm Cám trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Ban cơ bản) .... 24
2.2 Nội dung của văn bản Tấm Cám ............................................................... 24
2.3 Mục đích của việc dạy học văn bản Tấm Cám trong sách giáo khoa Ngữ
văn lớp 10 (Ban cơ bản) .................................................................................. 27
2.4 Yêu cầu về sơ đồ tư duy ............................................................................ 31
2.5 Thiết kế các sơ đồ tư duy khi dạy văn bản Tấm Cám ............................... 31
2.6 Định hướng dạy văn bản Tấm Cám có vận dụng sơ đồ tư duy................. 36
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 38
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM..................................................... 39
3.1 Mục đích thực nghiệm .............................................................................. 39
3.2 Đối tượng thực nghiệm ............................................................................. 39
3.3 Địa bàn thực nghiệm ................................................................................. 39
3.4 Thời gian thực nghiệm .............................................................................. 40
3.5 Nội dung thực nghiệm ............................................................................... 40
3.6 Cách tiến hành thực nghiệm...................................................................... 57
3.7 Kết quả thực nghiệm ................................................................................. 57
KẾT LUẬN .................................................................................................... 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1


Ngày nay có rất nhiều hình thức dạy học mới nhưng vận dụng sơ đồ tư
duy được xem là một trong những phương tiện hiện đại, gắn liền với đặc điểm
nhận thức trong tư duy con người. Hiện nay, phương tiện dạy học này đã
được sử dụng rộng rãi và cũng tạo hiệu quả học tập khá cao. Bởi lẽ nó tạo ra
những thuận lợi nhất định cho quá trình nhận thức và tư duy của học sinh giúp
học sinh ghi nhớ rất hiệu quả. Không chỉ vậy, việc vận dụng sơ đồ tư duy còn
giảm nhẹ áp lực học tập của người học. Vận dụng sơ đồ tư duy vào quá trình
dạy học Ngữ văn nói chung và dạy đọc hiểu nói riêng sẽ giúp cho học sinh
không chỉ có cơ hội lĩnh hội tri thức và thực sự rung động trước cái đẹp thông
qua hình tượng nghệ thuật mà trên cơ sở đó, các em biết khái quát chúng để
rèn luyện nhằm tạo ra năng lực riêng cho bản thân.
Tấm Cám là tác phẩm văn học nghệ thuật xây dựng hình tượng bằng
ngôn từ. Mục đích của việc dạy bài Tấm Cám là nhằm giúp học sinh hiểu
được cuộc đấu tranh quyết liệt giữa thiện và ác, sức trỗi dậy mãnh liệt của con
người trước sự vùi dập của kẻ ác, qua đó thấy được ước mơ và sự khẳng định
của nhân dân về chiến thắng của thiện trước ác, “ác giả ác báo”. Lý thuyết là
thế nhưng nhìn chung khi bắt đầu bài giảng thì người giáo viên còn gặp khá
nhiều khó khăn: lượng kiến thức khổng lồ, trừu tượng… Nhiều giáo viên chưa
xác định đươc phương pháp dạy học cho mình, vẫn tồn tại hình thức thuyết
giảng đơn thuần hay thầy đọc trò ghi khiến học sinh vốn đã không mấy hứng
thú với môn Ngữ văn nay lại càng không quan tâm đến bài đọc hiểu. Cũng vì
thế hiệu quả của giờ học không cao.
Nhận thức được tầm quan trọng của phân môn đọc hiểu trong chương
trình trung học phổ thông cũng như hướng tới việc đổi mới phương pháp
dạy học đọc hiểu nói riêng, dạy học Ngữ văn nói chung nên chúng tôi chọn
đề tài: “Vận dụng sơ đồ tư duy vào việc dạy học đọc hiểu văn bản Tấm

cách thức và hiệu quả của việc sử dụng SĐTD. Tiêu biểu là: Bobide Porter
với hai cuốn sách: “Phương pháp học tập siêu tốc”, “Phương pháp tư duy siêu
tốc”; Adamkho với ba cuốn sách: “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế”, “Làm chủ tư
duy thay đổi vận mệnh”, “Con cái chúng ta đều tài giỏi”.

3


Tại Việt Nam, vào tháng 3 năm 2006, chương trình Thời sự Đài truyền
hình Việt Nam đã thực hiện một phóng sự về hoạt động nghiên cứu ứng dụng
và phổ biến SĐTD của nhóm tư duy mới (New Thinking Group - NTG) khi
nhóm đang thực hiện dự án “Ứng dụng công cụ hỗ trợ tư duy - Bản đồ tư
duy” cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội và đã được nhiều người ủng hộ.
Ở các nước phát triển, SĐTD đã được ứng dụng vào việc dạy và học từ
rất sớm.Tuy nhiên, ở Việt Nam thì phương pháp này còn khá mới mẻ. Phải
bước sang năm 2011 -2012, việc ứng dụng SĐTD trong dạy và học mới
được triển khai một cách rộng rãi, thường xuyên được đánh giá thông qua dự
giờ, các giờ thao giảng, thi giáo viên giỏi. Trong giáo dục ở nước ta,
Ts. Trần Đình Châu và Ts. Đặng Thị Thu Thủy là hai tác giả đầu tiên tiến
hành nghiên cứu và tìm cách đưa phương pháp sử dụng SĐTD vào giảng
dạy tại Việt Nam. Nhắc đến Ts. Trần Đình Châu và Ts. Đặng Thị Thu Thủy,
chúng ta phải kể đến cuốn sách “Dạy tốt học tốt các môn học bằng bản đồ tư
duy” (Dùng cho GV, sinh viên sư phạm, HS THCS và THPT) do chính hai
người biên soạn. Cuốn sách đã đáp ứng đúng tinh thần của khoa học giáo
dục: khi nghiên cứu phải sâu sắc, kĩ lưỡng nhưng khi phổ biến phải đơn
giản, rõ ràng.
Bên cạnh đó còn có rất nhiều luận văn, khóa luận nghiên cứu về SĐTD
và sự hữu dụng của nó trong dạy học. Có thể kể tới một số công trình tiêu
biểu như luận văn: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học văn học sử ở trường
THPT” của tác giả Phạm Thị Uyên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, “Sử

SĐTD.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài làm cơ sở lý luận như:
các tài liệu hướng dẫn dạy học, các tài liệu về SĐTD và ứng dụng SĐTD
trong dạy học …
7.2. Phương pháp điều tra khảo sát

5


Khảo sát, tìm hiểu thực tiễn việc xây dựng và sử dụng SĐTD trong
thực tiễn dạy học ở trường THPT trong đó có môn Ngữ văn.
7.3. Phương pháp thực nghiệm
Trong quá trình điều tra, khảo sát dựa vào đó tiến hành làm giáo án
thực nghiệm. Dùng giáo án thực nghiệm để lên lớp và đánh giá hiệu quả đạt
được, ưu - nhược điểm khi sử dụng SĐTD vào bài dạy.
8. Dự kiến đóng góp
Vận dụng SĐTD vào dạy học bài Tấm Cám, nếu được sử dụng và triển
khai hợp lý sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Kích thích HS học tập sáng tạo.
Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường phổ thông.
9. Bố cục khóa luận
Tôi triển khai khóa luận này theo bố cục 3 phần:
Mở đầu
Nội dung
Kết luận
Phần nội dung bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc vận dụng sơ đồ tư duy
vào dạy đọc hiểu văn bản Tấm Cám ở trường THPT.

sản xuất xã hội của con người. Trong quá trình đó, con người so sánh các
thông tin, dữ liệu thu được từ nhận thức cảm tính hoặc các ý nghĩ với nhau.
Trải qua các quá trình khái quát hóa và trừu tượng hóa, phân tích và tổng hợp

7


để rút ra các khái niệm, phán đoán, giả thuyết, lý luận,… Kết quả của quá
trình tư duy bao giờ cũng là sự phản ánh khái quát các thuộc tính, các mối liên
hệ cơ bản, phổ biến, các quy luật không chỉ ở một sư vật riêng lẻ mà còn ở
nhóm sự vật nhất định. Vì vậy, tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề.
Nghiên cứu về tư duy của con người, các nhà khoa học đã tìm ra tư duy
con người có những đặc điểm cơ bản sau:
Đầu tiên chúng ta phải nhắc đến tính gián tiếp - đây là một trong những
đặc trưng cơ bản nhất của hoạt động tư duy. Con người không nhận thức thế
giới một cách trực tiếp mà thường biểu hiện hoạt động nhận thức ấy một cách
gián tiếp. Tính gián tiếp được thể hiện ở việc con người sử dụng ngôn ngữ để
tư duy. Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể ghi lại các kết quả nhận thức
và kinh nghiệm của bản thân đã thu được sau một quá trình tư duy. Chẳng hạn
như khi giải một bài toán thì trước hết chúng ta phải biết được yêu cầu, nhiệm
vụ của bài tập đó và bắt đầu nhớ lại những công thức, định lí có liên quan.
Trong quá trình giải bài tập đó, con người đã dùng ngôn ngữ để thể hiện các
quy tắc, định lí và rút ra được cả kinh nghiệm cho bản thân sau mỗi lần giải
toán đó. Bên cạnh ngôn ngữ, tính gián tiếp còn được thể hiện qua việc con
người sử dung công cụ, phương tiện để tư duy. Chẳng hạn như thông qua các
máy móc mà con người có thể dự báo được thời tiết. Như vậy, nhờ có tính
gián tiếp mà tư duy của con người đã mở rộng, không giới hạn khả năng nhận
thức của con người.
Nhắc đến hoạt động của tư duy, một trong những đặc trưng không thể
không kể tới đó là tính trừu tượng và khái quát của tư duy. Khác với nhận

thông qua ngôn ngữ. Vì vậy, ngôn ngữ chính là cái vỏ hình thức của tư duy. Ở
thời kì sơ khai, tư duy được hình thành thông qua hoạt động vật chất của con
người và từng bước được ghi lại bằng các kí hiệu từ đơn giản cho đến phức
tạp, từ đơn lẻ đến tập hợp, từ cụ thể đến trừu tượng. Hệ thống các kí hiệu đó
thông qua quá trình xã hội hóa và trở thành ngôn ngữ. Sự ra đời của ngôn ngữ

9


đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của tư duy và tư duy cũng bắt đầu phụ
thuộc vào ngôn ngữ. Ngôn ngữ với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ hai trở
thành công cụ giao tiếp chủ yếu giữa con người với con người, phát triển cùng
với nhu cầu của nền sản xuất xã hội cũng như sự xã hội hóa lao động.
Cuối cùng nhắc đến tư duy, người ta thường đặt nó trong mối quan hệ
với nhận thức cảm tính. Có thể nói, nhận thức cảm tính là một cơ sở, một
bước để con người tư duy. Tư duy phải dựa vào nhận thức cảm tính, dựa trên
tài liệu cảm tính, những kinh nghiệm và cơ sở trực quan sinh động để nảy
sinh tình huống có vấn đề. Nhận thức cảm tính là một khâu của mối liên hệ
trực tiếp giữa tư duy với hiện thực, là cơ sở của những khái quát kinh nghiệm
dưới dạng những khái niệm, quy luật,… là chất liệu của những khái quát hiện
thực theo một nhóm, một lớp, một phạm trù mang tính quy luật trong quá
trình tư duy. Lênin thường nói: “Không có cảm giác thì không có quá trình
nhận thức nào cả.” Ngược lại, tư duy và những kết quả của nó ảnh hưởng
mạnh mẽ, chi phối khả năng phản ánh của nhận thức cảm tính: làm cho khả
năng cảm giác của con người tinh vi hơn, nhạy bén hơn, làm cho tri giác của
con người mang tính lựa chọn, tính ý nghĩa.
Từ những hiểu biết về tư duy, chúng ta có thể đưa ra những kết luận sư
phạm cần thiết:
- Phải coi trọng việc phát triển tư duy cho HS bởi lẽ không có khả năng
tư duy thì học sinh không thể học tập và rèn luyện được.

duy khái quát phát triển đủ cao.
Lứa tuổi HS THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ.
Do cơ thể các em đã được hoàn thiện đặc biệt hệ thần kinh phát triển mạnh
tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ.
Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ người lớn. Quá trình
quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ. Khả năng quan sát một phẩm chất
cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em. Tuy nhiên, sự quan sát ở các em

11


thường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi
quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện đưa ra kết luận
vội vàng không có cơ sở thực tế.
Trí nhớ của HS THPT cũng phát triển rõ rệt. HS đã biết sử dụng nhiều
phương pháp ghi nhớ chứ không chỉ ghi nhớ một cách máy móc. Sự chú ý của
HS THPT cũng phát triển. Chẳng hạn như HS có thể tập trung chú ý vào tài liệu
mà mình không hứng thú nhưng có thể hiểu được ý nghĩa quan trọng của nó.
Hoạt động tư duy của HS THPT cũng phát triển mạnh. Các em đã có khả
năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn. Năng
lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em
có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng. Các em thích khái quát,
thích tìm hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện tượng hàng
ngày, của những tri thức phải tiếp thu,… Năng lực tư duy phát triển đã góp
phần nảy sinh hiện tượng tâm lý mới, đó là tính hoài nghi khoa học.
Nhìn chung, tư duy của HS THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ
linh hoạt và nhạy bén hơn. Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn
đề một cách rất nhanh. Tuy nhiên, ở một số HS vẫn còn nhược điểm là chưa
phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng
nghe theo cảm tính. Chính vì thế, GV cần hướng dẫn, giúp đỡ HS tư duy một

trên chiếc lá. Đây chính là cách tư duy của não. Để tư duy hiệu quả, não cần
có một công cụ có khả năng phản ánh dòng tư duy tự nhiên ấy. Đó chính là
SĐTD. Nói đến SĐTD người ta thường nói tới một phương tiện kỹ thuật được
tạo ra trên cơ sở của hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý
tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề…
bằng cách kết hơp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết. Như
vậy có thể khẳng định: SĐTD là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu
sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Nhờ sự kết nối giữa các
nhánh, các ý tưởng được liên kết với nhau khiến SĐTD có thể bao quát được

13


các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng. Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm
thanh,… gây ra những kích thích rất mạnh mẽ lên hệ thống rìa của não giúp
cho việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để vỏ não
phân tích, xử lí và rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tượng
nghiên cứu.
Các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh SĐTD là một công cụ tổ chức tư
duy nền tảng, có thể miêu tả nó mà một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa
từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức
năng của bộ não giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não. SĐTD
được vẽ dưới dạng một tế bào não và có công dụng kích thích não làm việc
nhanh chóng, hiệu quả một cách tự nhiên. Từ việc quan sát những đường gân
trên lá hay nhánh cây, chúng ta có thể thấy SĐTD của tự nhiên sao chép hình
dạng của các tế bào não, phản ánh cách chúng được tạo ra và kết nối. SĐTD
có thể xem là công cụ tư duy mang tính tự nhiên được phác thảo từ nguồn
cảm hứng và tính hiệu quả của những cấu trúc tự nhiên.
SĐTD được coi là sự lựa chọn cho trí óc hướng tới lối suy nghĩ mạch
lạc. Việc lập SĐTD giúp con người sử dụng cả hai bán cầu não nhờ đó mà

biệt với các nhánh chính. Có thể chú thích các từ ngữ cần thiết hoặc điền số
thứ tự vào các nhánh nếu bạn muốn sắp xếp theo thứ tự quan trọng hoặc thứ
tự các nhánh phải xem nếu thông tin yêu cầu phải theo tuần tự. Các nhánh tạo
thành một cấu trúc các nút liên hệ chặt chẽ với nhau.
Bước 5: Hoàn thiện SĐTD. Ở bước này, người viết có thể thêm các
hình ảnh giúp cho các ý quan trọng thêm nổi bật, thêm sức hấp dẫn cho
SĐTD cũng như giúp chúng ta dễ ghi nhớ hơn.
Với các bước trên, chúng tôi tường minh cấu tạo của SĐTD qua hình
ảnh dưới đây:

15


Hình 1
Với cấu tạo sơ giản như trên, các nhà khoa học cũng đã xác định và
phân loại SĐTD nhằm tạo ra sự thuận lợi cho người sử dụng phương tiện giáo
dục hiện đại này. Theo Adam Khoo, có 3 loại SĐTD giúp con người có thể
sắp xếp kiến thức học tập hiệu quả:
Đầu tiên là SĐTD theo đề cương (SĐTD tổng quát): loại SĐTD này
mang một cái nhìn tổng quát về toàn bộ môn học. Lập SĐTD theo đề cương
sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quát về số lượng kiến thức của mỗi
môn học. Từ đó ta có thể xác định được số lượng kiến thức phải chuẩn bị
cho kì thi.
Tiếp theo là SĐTD theo chương: đây là loại SĐTD có thể cụ thể hóa
những kiến thức mà ta phải học trong từng chương. Chúng ta có thể lập SĐTD
cho từng chương trong chương trình. Đối với các chương có lượng kiến thức từ
10 đến 12 trang thì ta có thể thâu tóm lượng kiến thức đó trong cùng một

16




Đối với việc dạy học đọc hiểu thì việc sử dụng SĐTD sẽ giúp HS
chiếm lĩnh bài học một cách tổng thể. GV sẽ hướng dẫn HS đi từ kiến thức
tổng quát của bài - trọng tâm bài học và sẽ là trung tâm của SĐTD. Từ đó,
GV sẽ giúp HS tìm ra những nội dung kiến thức xoay quanh chủ đề đó và
phát triển thành các ý. Khi nhìn vào sơ đồ, HS có thể nắm được đâu là ý chính
và đâu là ý phụ của bài học. Không chỉ vậy, việc sử dụng SĐTD vào dạy học
đọc hiểu sẽ giúp HS dần hình thành tư duy mạch lạc, hiểu biết sâu sắc vấn đề
và có cách nhìn khoa học, hệ thống. Sử dụng SĐTD kết hợp với các PPDH
tích cực khác như diễn giảng, vấn - đáp, hoạt động nhóm,… có tính khả thi
cao góp phần nâng cao chất lượng dạy học đọc hiểu văn bản ở trường THPT.
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy đọc hiểu văn
bản Tấm Cám
1.2.1 Điều tra, thăm dò ý kiến giáo viên
Để có cơ sở thực tiễn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát nghiên cứu thực
trạng dạy và học đọc hiểu nói chung và thực tế dạy văn bản Tấm Cám nói
riêng có vận dụng SĐTD trong nhà trường THPT hiện nay. Đối tượng được
tiến hành khảo sát là các giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn tại trường
THPT Cao Bá Quát (Gia Lâm - Hà Nội).
Để có thể nắm bắt được ý kiến của đội ngũ chủ thể định hướng các hoạt
động dạy và học, chúng tôi biên soạn phiếu điều tra và thăm dò ý kiến cho 9
GV trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn với hệ thống gồm 6 câu hỏi:
Câu 1: Các thầy cô thường sử dụng phương phá nào trong quá trình dạy học?
Phương pháp diễn giảng

1/9

Phương pháp vấn đáp, đàm thoại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status