SKKN Rèn kĩ năng cảm thụ thơ văn cho học sinh thông qua bài dạy học đọc – hiểu thơ trữ tình hiện đại ở lớp 9 - Pdf 45

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO NỘI DUNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: “Rèn kĩ năng cảm thụ thơ văn cho học sinh thông qua bài dạy
học đọc – hiểu thơ trữ tình hiện đại ở lớp 9”
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Thu Trang
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Sư phạm Ngữ văn
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Tân Đức – Phú Bình – Thái Nguyên
1. Lĩnh vực áp dụng của sáng kiến
Trong thực tế dạy học việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất
lượng bộ môn nói riêng, việc cải tiến phương pháp dạy học là một nhân tố quan
trọng, bên cạnh việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, việc phát huy tính tích cực
của học sinh có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi vì xét cho cùng công việc giáo dục
phải được tiến hành trên cơ sở tự nhận thức, tự hành động, việc khơi dậy phát triển
ý thức năng lực tư duy, bồi dưỡng phương pháp tự học là con đường phát triển tối
ưu của giáo dục. Cũng như trong học tập các bộ môn khác, học Ngữ văn lại càng
cần phát triển năng lực tích cực, năng lực tư duy của học sinh để không phải chỉ
biết mà còn phải hiểu để cảm thụ cái hay, cái đẹp, ý nghĩa giáo dục của văn chương
cũng như áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các hoạt động trong cuộc sống gia đình
và cộng đồng.
Trong quá trình dạy học môn Ngữ văn chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy học
sinh rất lười đọc và tư duy để tự tìm ra những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
của văn bản. Đa số học sinh ngày nay ngại học văn vì sợ lượng kiến thức bộ môn
yêu cầu nắm được. Các em cũng ngày càng ngại “đọc” hơn. Khi soạn bài thì đa số
chỉ liếc qua văn bản rồi sử dụng sách tham khảo chép để đối phó với việc kiểm tra,
đánh gía của thầy cô. Trên thực tế khi giảng dạy bộ môn tôi nhận thấy học sinh còn
gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng khi đọc – hiểu văn bản thơ trữ tình, một phần do
các em chưa có kĩ năng đọc – hiểu văn bản văn học nhất là văn bản thơ, một phần
1



2

2


những người nào đó dựa trên cơ sở đồng ý, đồng tình. Thơ là tiếng nói đồng ý,
đồng tình, tiếng nói đồng chí”.
Tuy nhiên, có những bài thơ người ta đọc một lần rồi sau đó mãi mãi để
trong quên lãng; có những bài thơ người ta đọc đi đọc lại mãi không muốn thôi.
Hoặc lại cũng có bài thơ, người này đọc thấy hay, thấy xúc động, người khác lại
chẳng thấy gì là thích thú. Đấy là do sức hấp dẫn từ bản thân tác phẩm và một điều
quan trọng nữa là hứng thú và kĩ năng cảm nhận ở mỗi người khi đến với văn bản
thơ. Năng lực cảm thụ của mỗi người không giống nhau, cũng không phải tự nhiên
vốn sẵn có mà phải qua quá trình hình thành bồi dưỡng. Nhất là đối với các em học
sinh. Với những học sinh lớp 9 - những học sinh sắp tốt nghiệp THCS - trước ngã
rẽ đầu tiên của cuộc đời (các em có thể tiếp tục học lên hoặc bước sang một hướng
khác của cuộc sống), để các em có thêm những nhận thức và tình cảm tốt đẹp với
cuộc sống trong và sau tác phẩm văn chương, giúp các em tiếp tục nâng cao năng
lực cảm thụ khi học văn học ở cấp THPT, tôi mạnh dạn đưa ra vấn đề: “Rèn kĩ
năng cảm thụ thơ văn cho học sinh thông qua bài dạy - học đọc - hiểu văn bản
thơ trữ tình”. Với phạm vi rất hạn hẹp là các tiết dạy thơ hiện đại cho đối tượng là
học sinh hai lớp 9B, 9C của trường THCS Tân Đức; quá trình tích luỹ kinh nghiệm
còn rất ngắn. Song tôi hi vọng sẽ nhận được sự góp ý của đồng nghiệp để mình có
thể góp một kinh nghiệm nhỏ vào quá trình dạy học ngữ văn của bản thân với
những lớp học sinh tiếp theo.
3. Mô tả nội dung của sáng kiến.
3.1. Tính mới
Nói đến bồi dưỡng năng lực cảm thụ thơ văn là nói đến một vấn đề mang
tính chiến lược trong quá trình dạy- học văn chương. Bản thân mỗi tác phẩm văn

dạy học văn chương phải vừa dạy môn khoa học vừa dạy môn nghệ thuật bởi văn
học vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Vì thế việc cảm thụ tác phẩm phải dựa trên
cả tính khoa học, nghệ thuật và tính nhà trường. Rõ ràng việc rèn kĩ năng cảm thụ
thơ văn, nhất là qua đọc - hiểu văn bản thơ trữ tình là một việc đòi hỏi tính liên kết
khá cao.
Phần nữa, xét về kĩ năng cảm thụ tác phẩm văn chương của những học sinh lớp
9 hiện tại - cụ thể là ở hai lớp 9B, 9C của trường THCS Tân Đức tôi được phụ trách
4

4


cũng còn nhiều điều nan giải. Chỉ nói về kĩ năng tiếp xúc với tác phẩm đã có rất
nhiều điều phải bàn. Sự lúng túng của học sinh thường do các nguyên nhân:
+ Học sinh không phân biệt được các khái niệm biện pháp nghệ thuật và biện
pháp tu từ.
+ Học sinh không thể cảm nhận được thông điệp, nội dung tác giả gửi gắm qua
các hình ảnh nghệ thuật, từ ngữ giàu hình tượng.
Chính vì vậy khi dạy bộ môn Ngữ văn để rèn cho các em khả năng đọc – hiểu
văn bản thơ trữ tình tôi đã hệ thống hóa lại kiến thức về các biện pháp tu từ, các
dấu hiệu nghệ thuật cho học sinh giúp các em hiểu được tác dụng của các biện pháp
nghệ thuật cũng như các biện pháp tu từ trong văn bản thơ. Từ sự củng cố kiến thức
cơ bản đó học sinh đã dễ dàng hơn khi cảm nhận cái hay, cái đẹp của nội dung và
nghệ thuật của văn bản thơ, dần dần các em bớt sợ học văn và say mê với môn học
hơn, thích thú kiê,s tìm các tín hiệu nghệ thuật của văn bản để giải mã chúng.
3.2. Tính khoa học
Phương pháp dạy học là một bộ phận hợp thành của quá trình sư phạm nhằm
đào tạo thế hệ trẻ có tri thức khoa học, về thế giới quan và nhân sinh quan, thói
quen và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tế. Phương pháp dạy học
có mối liên hệ biện chứng với các nhân tố khác của quá trình dạy học. Những

khi tip xỳc, tỡm hiu vn bn th mà còn rất hứng thú. Tuy nhiên việc áp
dụng từng nội dung của sáng kiến tuỳ thuộc vào đối tựơng học
sinh. Đối với các lớp đại trà tôi u t nhiu thi gian hn cho vic cng c
kin thc giỳp cỏc em t tin c hiu vn bn cũn i vi cỏc em hc sinh gii
tụi nh hng giỳp cỏc em t phỏt hin ra cỏc tớn hiu ngh thut v nhng c sc
v ni dung ca vn bn.
3.4. Tớnh hiu qu
Khi triển khai đề tài này, tôi nhận thấy rằng kết quả học tập của
các em đã nâng lên rõ rệt. Cụ thể nh sau:
Bảng so sánh kết quả bộ môn trớc và sau khi thực hiện đề
tài:
6

6


Năm

Tổng số HS

học
2015-

khối 9

2016
2015-

Giỏi


4. Phm vi ỏp dng
Hc sinh trong trng Trng THCS Tân Đức v mt s trờng trong huyn.
5. Kt qu, hiu qu mang li
Khi bt u thc hin ti hc sinh a s k nng c hiu rt kộm, iu ny do
nhiu nguyờn nhõn mang li.
Th nht l cỏc em rt li c. Cha núi n nhng k nng cao siờu, c l
khõu u tiờn hc sinh tip cn tỏc phm, song vỡ cú l cho l mỡnh ang l
ngi ln nờn phn ln cỏc em hc sinh ch c bng cỏch lia mt lt qua ri
sau ú vi vi vng vng tr li my cõu hi hng dn trong sỏch giỏo khoa cho
xong vic chun b bi trỏnh b cỏn b lp hoc cụ giỏo phờ bỡnh. Th lm mt
phộp iu tra nho nh u nm vi bi chun b hc on trớch Quang Trung i
phỏ quõn Thanh- trớch Hong Lờ nht thng chớ (õy l mt tỏc phm
truyn), tụi khụng khi git mỡnh. Khi c hi hc sinh hc lp 9B, 9C cỏc em ó
cho bit:
S ln c bi: nhiu nht l mt ln .
S lng hc sinh c y t u n cui on trớch:
7

7

9B: 16/37


9C: 14/35
• Số còn lại đọc loáng thoáng một số câu, một vài đoạn. Đặc biệt có em không
cần đọc một câu nào. Lý do không đọc hết hoặc đọc một lần: văn bản dài, là văn
xuôi khó đọc.
Đến thơ, tình trạng có khá hơn. Số em đọc bài thơ “ Bếp lửa” từ 2 lần trở lên đã




nhầm giữa biện pháp tu từ này với biện pháp tu từ khác và hầu như việc tìm ra giá
trị của biện pháp nghệ thuật ấy trong bài thơ là rất hạn chế.
Một điều đáng nói nữa là hình tượng trong tác phẩm trữ tình. Nếu như hình
tượng trong tác phẩm tự sự là hình tượng tính cách, các em dễ hình dung thì hình
tượng trong tác phẩm trữ tình lại là hình tượng tâm sự. Tiếng nói trong tác phẩm trữ
tình là tác phẩm của những tâm trạng. Thơ trữ tình chứa đầy tâm trạng, cảm xúc và
tâm trạng đó được gắn liền với sự rung động về vần điệu, hình tượng âm thanh.
Việc hiểu tâm trạng trong thơ để đồng điệu cũng rất khó. Hiểu không đúng dễ dàng
dẫn đến cảm nhận cũng lơ mơ, trệch hướng.
Tóm lại: Thực trạng của vấn đề có nhiều điều tác động, đòi hỏi trong quá
trình thực hiện dạy - học văn bản thơ trữ tình phải giải quyết để đạt hiệu quả:
Làm thế nào để khơi gợi hứng thú cảm nhận cho các em, taọ cơ sở cho việc
rèn kỹ năng cảm thụ ?
Làm thế nào để giúp các em có được và phát triển kĩ năng cảm thụ trong điều
kiện thực tế và thời lượng cụ thể giành cho mỗi văn bản thơ trữ tình?
Làm thế nào để các em biết vận dụng kỹ năng cảm thụ để làm tốt bài tập làm
văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ trong chương trình để đảm bảo nguyên tắc dạy
học văn theo hướng thích hợp?
Đó là những điều đặt ra với tôi trong quá trình dạy học văn bản thơ trữ tình.
Căn cứ vào tình hình thực tế học sinh, bám sát đặc điểm loại thể thơ trữ tình;
thông qua một số tiết dạy cụ thể, tôi đã tiến hành các giải pháp như sau:
1.Đảm bảo nguyên tắc dạy học Ngữ Văn theo đặc trưng thể loại - bồi dưỡng
hứng thú tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình.
Tác phẩm nghệ thuật là kết quả của sự thăng hoa về tâm hồn, và trí tuệ của
người nghệ sĩ. Vì thế, nó có những giá trị vượt ra ngoài ý đồ sáng tạo của tác giả.
Hình tượng càng lớn, càng có tính nghệ thuật cao thì càng có nhiều khía cạnh, nội
dung phong phú, hấp dẫn. Sáng tạo một tác phẩm, nhà văn muốn nói với người đọc,
muốn truyền cho người đọc qua các thế hệ một cách nhìn, cách hiểu, cách đánh giá
9

học, các em như mong muốn được thể hiện giọng đọc, sự đồng sáng tạo của mình,
muốn trình bày, muốn tranh luận những điều cảm thụ, nhận thức được về tác phẩm.
10

10


Thưởng thức nghệ thuật chỉ thực sự bắt đầu khi có nhu cầu về thỏa mãn về tình
cảm, tâm hồn, trí tuệ, những nhu cầu về bên trong.
Với chương trình Ngữ Văn 9, những bài thơ trữ tình được đưa vào dạy - học
phần lớn đề cập đến những tình cảm đẹp đẽ của con người, rất phù hợp với tâm lý
tuổi mới lớn của các em (tình đồng chí đồng đội, tình bà cháu, tình yêu quê hương
đất nước, yêu thiên nhiên). Người giáo viên phải bám sát đặc trưng “tiếng nói tình
cảm” của các bài mà hướng các em vào việc đọc, tìm hiểu, tạo cho các em sự đồng
cảm cùng nhà thơ để đạt hiệu quả cảm thụ.
Tiếp theo việc khơi gợi hưng thú đọc là tiến trình dạy - học. Trong tiết dạy học, giáo viên cần hướng dẫn các em tự phát hiện, thưởng thức tác phẩm, khuyến
khích các em có những cảm nhận, những phát hiện riêng nhưng không suy diễn tuỳ
tiện, có những điều trăn trở vấn vương của các em về tác phẩm cần được thầy cô
giúp đỡ giải đáp kịp thời. Sau tiết học, các em được mở ra những khả năng mới để
tiếp tục thưởng thức, khám phá tác phẩm ở mức sâu, rộng hơn, các em như cảm
nhận được những biến đổi, vận động phong phú hơn trong tâm hồn mình. Với ưu
thế dễ đọc, dễ nhớ và tình cảm sâu lắng, các bài thơ trữ tình đầy đủ khả năng tạo ra
hứng thú cho các em. Người giáo viên bám sát đặc trưng thể loại kết hợp với khéo
léo khơi dậy tình cảm tiềm ẩn trong mỗi học trò sẽ từng bước bồi dưỡng được hứng
thú tiếp nhận tác phẩm cho các em trong quá trình dạy học.
Cùng với việc bồi dưỡng hứng thú, trong điều kiện hiện nay rèn luyện kỹ
năng cảm thụ cho các em, người thầy còn phải chú ý đến việc đổi mới phương pháp
bồi dưỡng theo hướng tích hợp, tích cực.
2. Đảm bảo nguyên tắc dạy học văn theo hướng tích hơp, tích cực, giúp các em
nắm vững kiến thức Tiếng Việt để vận dụng phân tích văn bản thơ trữ tình:

3.Vận dụng cụ thể vào việc rèn kĩ năng.
a. Rèn luyện kĩ năng đọc: Như trên đã nói, đọc là bước đầu tạo tiền đề cho hoạt
động tái hiện và có khả năng thực hiện dễ dàng, đầy đủ hoạt động tái hiện. Với tác
phẩm trữ tình, đọc vừa là đồng cảm, vừa là diễn cảm. Cũng nhờ đọc mà học sinh
vừa được chứng kiến, vừa được thể nghiệm. Vì thế đọc - tái hiện, tri giác hình
tượng thơ là hoạt động không thể coi nhẹ trong quá trình dạy - học thơ trữ tình. Tái
12

12


hiện hình tượng trong thơ không những là một thao tác tư duy để đi vào tác phẩm
mà còn là một bí quyết truyền thụ nữa.
Một bài thơ như bài thơ “Bếp lửa” chẳng hạn mà việc đọc và tái hiện hình
tượng không thực hiện tốt thì khó thu được kết quả. Cả một dòng hoài niệm tuôn
chảy theo thời gian sống dậy trong tâm tưởng nhà thơ nếu như không được tái hiện
thì khó mà gợi được rung động cảm xúc.
Nhận thức như vậy nên khi dạy - học bài thơ “Bếp lửa” tôi chú trọng hướng
dẫn học sinh đọc trước ở nhà. Đọc và hình dung cảnh “Bếp lửa” quê hương có Bà
tần tảo nắng mưa, có Bà chăm chút cháu, có Bà gắn liền bên “Bếp lửa”. Đến lớp,
cô giáo bằng giọng đọc truyền cảm của mình, đọc mẫu cho học sinh đoạn thơ đầu:
“Một bếp lửa chờn vờn ……… sống mũi còn cay”, sau đó hướng dẫn học sinh
đọc và đọc tiếp trong quá trình phân tích. Kết hợp đọc của thầy, đọc của trò, học
sinh đã có những cảm nhận bước đầu về bài thơ theo đúng hướng.
Với những bài thơ khác như bài “Đồng chí ”, “Bài thơ về tiểu đội xe không
kính”, “Mùa xuân nho nhỏ”, “Viếng lăng Bác” là những bài thơ được phổ nhạc
hoặc có liên quan đến bài ca nào đó thì bên cạnh việc hướng dẫn đọc, tôi còn
hướng dẫn cho các em sưu tầm, nghe băng đĩa nhạc, xem băng đĩa hình để giúp các
em tái hiện hình tượng một cách dễ dàng hơn.
b. Cùng với rèn kĩ năng đọc, tái hiện là rèn luyện kĩ năng phát hiện và bình giá

sự hướng dẫn của giáo viên qua mỗi bài sẽ củng cố, rèn luyện thêm cho các em.
Bằng hệ thống câu hỏi hướng dẫn, bằng phương pháp gợi tìm, nghiên cứu kết hợp
với quá trình truyền cảm thụ của giáo viên và với tính tích cực được phát huy, các
em sẽ có được kết quả cảm thụ tốt hơn.
c. Để cho những cảm nhận được kiểm nghiệm, để cho những câu thơ, bài thơ
hay sống mãi trong cảm nhận của các em thì chỉ đọc, tìm hiểu chưa gọi là đủ.
Các em còn phải biết thể hiện, trình bày cảm nhận của mình.
Kết thúc quá trình dạy - học trên lớp với một tác phẩm trữ tình không phải là
hết mà các em cần tiếp tục “suy ngẫm”, “nhấm nháp”, “thưởng thức”. Sau mỗi bài
học, giáo viên cần ra những bài tập rèn luyện kĩ năng cảm thụ cho học sinh để các
em tự trình bày những điều mà các em đã thu nhận được.

14

14


Thông thường, phần luyện tập của mỗi tiết bài đọc - hiểu đều có bài tập.
Thiết nghĩ không nên yêu cầu học sinh làm ngay tại lớp những bài tập cảm thụ mà
nên để cho học sinh “thấm” bài học rồi về nhà làm bài tập viết đoạn thể hiện cảm
xúc, suy nghĩ của mình.
Ví dụ: Khi dạy xong bài thơ “Con cò” của Chế Lan Viên, tôi yêu cầu các
em làm bài tập cảm thụ.
Bài tập 1: (Cho những học sinh đối tượng trung bình)
Qua bài thơ, em có suy nghĩ gì về những lời hát ru?
Bài tập 2: (cho học sinh đối tượng khá hơn).
Suy nghĩ của em về tấm lòng người mẹ qua hai câu thơ:
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.
Với cả hai bài tập, hai đối tượng sau khi đã đọc, hiểu bài thơ đều đã viết được

rèn luyện kỹ năng cảm thụ cho học sinh, tôi đã tiến hành một số việc làm ở một số
“công đoạn” như sau:
Để tạo hứng thú tìm hiểu bài thơ, khi hướng dẫn chuẩn bị bài tôi tiến hành
đọc trước một lần. Với giọng đọc mẫu truyền cảm, tôi gợi cho học sinh hứng thú
nghe. Để các em thích đọc, tôi có giảng giải cho các em đôi điều sơ lược về cách
nói của đồng bào miền núi - xoá dần cho các các em cảm giác “bài thơ này trúc
trắc, khó đọc”, sau đó tôi giao nhiệm vụ cụ thể: đọc thầm 2 - 3 lần, đọc to 2 - 3 lần
(ở nhà). Nếu có thể đọc theo trí nhớ 1 - 2 lần (ở lớp) và đọc thuộc lòng khi học
xong bài. Và khi dạy - học trên lớp, tôi có cho điểm đọc. Vì thế học sinh, đầu tiên
là quyết tâm đọc để có điểm cao, sau đó là học thuộc và thích đọc bài thơ.
Cũng để tạo hứng thú, trong giờ học tôi kể chuyện cho các em về cuộc sống
của đồng bào miền núi (vốn quen thuộc với các em). Vì thế các em biết đựơc sâu
hơn về cuộc sống sinh hoạt của người miền núi, giúp các em hiểu cách tư duy của
đồng bào miền núi, hiểu các câu thơ trong bài, không ngỡ ngàng khi tìm hiểu tác
phẩm.
Khi hướng dẫn các em tìm hiểu bài thơ, tôi gợi ý cho các em tìm hiểu: “Nói
với con” là khúc tâm tình của người cha dặn dò con, thể hiện lòng thương yêu con
của người miền núi mong muốn con phát huy truyền thống của quê hương. Nội
16

16


dung này được gắn với nội dung bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng
mẹ” để các em so sánh, đối chiếu hiểu thêm về sinh hoạt của các dân tộc ít người
và niềm ước mong của họ, tạo điều kiện cho các em hình thành cảm xúc tự hào, ý
nguyện phát huy truyền thống của cha ông.
Hoặc khi phân tích đoạn đầu của bài thơ - tôi gợi ý cho các em phân tích
hình ảnh cụ thể gợi không khí gia đình đầm ấm, hạnh phúc mà ở đó cha mẹ chăm
chút con, thể hiện niềm vui trên từng bước đi của con “Một bước chạm tiếng nói,


KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Qua quá trình dạy - học các tiết bài về tác phẩm thơ trữ tình, với những nội
dung, biện pháp tổ chức thực hiện như trên, tôi đã đạt được kết quả cụ thể là:
1. Kỹ năng đọc diễn cảm.
Cho đến nay học sinh hai lớp 9B, 9C tôi phụ trách đã đạt được những kết quả
về kĩ năng đọc là:

Nội dung đọc

Lớp

Lớp 9B

Lớp 9C

- Đọc đúng (ngữ điệu, câu, nhịp thơ)

25/37

24/35

- Đọc thể hiện tình cảm - đọc sáng tạo

12/37

11/35

2. Kĩ năng phát hiện, phân tích dấu hiệu nghệ thuật
Nội dung

trường THCS Tân Đức.
- Có thể phổ biến và nhân rộng ở các trường THCS trong toàn huyện Phú Bình nói
riêng cũng như trong tỉnh Thái Nguyên nói chung.
18

18


7. Mục đích và những điểm khác biệt được áp dụng của sáng kiến:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận để tìm hiểu đúng các phương pháp dạy học.
- Mục đích cuối cùng của người viết sáng kiến này là:

Giáo viên phải nghiên cứu, tìm tòi để đề ra được những phương pháp
giảng dạy có hiệu quả nhằm hướng dẫn học sinh biết phân loại, nắm vững
phương pháp và có kĩ năng đọc hiểu thơ trừ tình.

Hình thành cho học sinh phương pháp, kỹ năng đọc hiểu văn bản thơ để từ đó
giúp các em đào sâu, mở rộng những kiến thức cơ bản của bài giảng, vận dụng tốt
kiến thức vào thực tế, phát triển năng lực tư duy cho các em, góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục.
8. Thời gian thực hiện sáng kiến:
Đã nghiên cứu và thử nghiệm từ tháng 8/2015 - tháng 5/ 2016
9. Kiến nghị, đề xuất:
Để các giải pháp đưa ra trong sáng kiến này phát huy tối đa hiệu quả khi áp
dụng ở trường THCS Tân Đức nói riêng và các trường học trong toàn huyện nói
chung, tôi kiến nghị một số vấn đề sau:
* Về phía giáo viên:
Người giáo viên dạy thơ phải yêu thơ, ham thích tìm hiểu và có kĩ năng tìm hiểu,
phân tích bình giá thơ và phải có kế hoạch cụ thể để hướng dẫn cho các em.
Phải khéo léo tác động vào tình cảm của các em, khơi dậy những tình cảm có


CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, đóng dấu)
…………………………………………….
…………………………………………….

20

20

Nguyễn Thị Thu Trang




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status