Phương pháp giảng dạy thơ mới từ góc độ thi pháp - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ LƢỢM PHƢƠNG PHÁP GIẢNG DẠY THƠ MỚI
TỪ GÓC ĐỘ THI PHÁP



NGUYỄN THỊ LƢỢM PHƢƠNG PHÁP GIẢNG DẠY THƠ MỚI
TỪ GÓC ĐỘ THI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN NGỮ VĂN
Mã số: 601410 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Khánh Thành
HÀ NỘI - 2010
3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu
sắc nhất tới PGS. TS Trần Khánh Thành, người thầy đáng kính đã tận tình

HMT: Hàn Mặc Tử
HS: Học sinh
PPDH: Phƣơng pháp dạy học
XD: Xuân Diệu
TPVH: Tác phẩm văn học
TP: Tác phẩm
THPT: Trung học phổ thông
SGK: Sách giáo khoa
5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Lịch sử nghiên cứu 8
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 9
3.1. Mục đích 9
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu 9
3.3. Phạm vi khảo sát 9
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 9
5. Đóng góp của luận văn 10
6. Cấu trúc luận văn 10
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 10
Chƣơng 1: THƠ MỚI VÀ HƢỚNG TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ THI PHÁP HỌC 11
1.1. Thơ mới – cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam 11
1.2. Hƣớng tiếp cận Thơ mới từ góc độ thi pháp 20
1.2.1. Thi pháp và thi pháp học 20
1.2.2. Các chỉnh thể văn học và các phạm trù thi pháp học 21
1.2.3. Tiếp cận Thơ mới từ góc độ thi pháp 24
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC THƠ MỚI TRONG NHÀ TRƢỜNG

3.4.5.1. Bài 1 : Đây thôn Vĩ Dạ 66
3.4.5.2. Bài 2: Vội vàng 76
3.4.6. Tổ chức dạy thực nghiệm 88
PHẦN KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
NGUỒN TƢ LIỆU THAM KHẢO 95 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Thơ mới 1932-1945 là một phong trào rộng lớn trên bƣớc đƣờng hiện đại hoá
thơ ca dân tộc. Thơ mới đã mở ra bƣớc phát triển mới của thơ dân tộc về tƣ duy thơ,
thi pháp thơ, thể loại và ngôn ngữ thơ theo hƣớng hiện đại hóa.
Hoài Thanh - Hoài Chân khi viết Thi nhân Việt Nam đã tổng kết lại một cả
trào lƣu của một giai đoạn sống động nhất trong văn học Việt Nam hiện đại - giai
đoạn của những định hƣớng, tìm tòi, cách tân. Thơ mới là một cuộc cách cách mạng
về thi ca, mở đầu là ngày 10 Mars 1932, ngày ông Phan Khôi viết bài cổ vũ cho lối
thơ mà ông mệnh danh là Thơ mới. Phong trào Thơ mới đã kết thúc thắng lợi với
bài tựa tập thơ cũ Mùa cổ điển của Chế Lan Viên trong đó có những lời lẽ nhƣ là
khúc ca khải hoàn.
Thơ mới (1932-1945) có rất nhiều thành tựu, đó là một cuộc cách mạng về
thơ ca Việt Nam thể hiện sự đổi mới căn bản về thi pháp, từ thi pháp thơ trung đại
đến thi pháp thơ hiện đại. Có nhân vật trữ tình là cái tôi bản ngã của nhà thơ, có một
không gian nghệ thuật, một thời gian nghệ thuật ở trong Thơ mới đƣợc miêu tả và

pháp thơ đƣợc nhiều nhà nghiên cứu chú ý đề cập, tiêu biểu là các tác phẩm nhƣ:
Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân (1942), Phong trào Thơ mới
(1966) của Phan Cự Đệ , Việt Nam thi nhân tiền chiến (1969) của Nguyễn Tấn
Long, Thơ mới, những bước thăng trầm (1989) của Lê Đình Kỵ, Nhìn lại một cuộc
cách mạng trong thơ ca (1993) của nhiều tác giả, Thơ mới, bình minh thơ Việt Nam
hiện đại (1994) của Nguyễn Quốc Tuý, Một thời đại trong thơ ca của Hà Minh Đức
(1997). Đặc biệt là công trình Những thế giới nghệ thuật thơ (1995) của Trần Đình
Sử đã khảo sát khá công phu về đặc điểm của các loại hình thơ xuất hiện trong lịch
sử văn học.
Đã có nhiều luận văn về Thơ mới và thi pháp Thơ mới, chúng tôi sẽ nghiên
cứu những công trình đó để tổng kết những thành tựu về thi pháp Thơ mới, trên cơ
sở đó thấy đƣợc quan điểm của những ngƣời đi trƣớc và tìm ra hƣớng đi cho riêng
mình.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã làm sáng tỏ nhiều đặc điểm
về Thơ mới về cả nội dung và hình thức, cũng có đề cập đến vấn đề thi pháp Thơ mới
9

hay định nghĩa khái quát về phong trào Thơ mới. Nhƣng thi pháp Thơ mới nói chung,
phƣơng pháp dạy Thơ mới từ góc độ thi pháp học nói riêng là một phạm trù rất rộng,
không phải của riêng một tác phẩm nào, mà phải đặt nó trong cả một hệ thống, phong
trào của một giai đoạn văn học. Đến nay, chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách
thật hệ thống và đầy đủ về Phương pháp dạy Thơ mới từ góc độ thi pháp. Mặt khác
đời sống văn học hiện nay có nhiều khía cạnh để khám phá, khai thác cho nên vấn đề
Phương pháp dạy Thơ mới từ góc độ thi pháp vẫn còn nhiều điều để ngỏ, vì vậy
chúng tôi có điều kiện đi sâu vào nghiên cứu và hệ thống lại một vấn đề thuộc phạm
trù thi pháp trên một quy mô lớn hơn và theo một góc nhìn mới hơn.
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Xác định Phương pháp dạy Thơ mới từ góc độ thi pháp là một khái niệm
mới trong việc đổi mới phƣơng pháp dạy học, luận văn sẽ đề xuất nghiên cứu về

phần Kết luận, nội dung luận văn đƣợc triển khai trong 3 chƣơng:
Chương 1: Thơ mới và hƣớng tiếp cận từ góc độ thi pháp học
Chương 2: Thực trạng giảng dạy Thơ mới trong nhà trƣờng phổ thông hiện nay và
định hƣớng đổi mới thông qua vận dụng phƣơng pháp thi pháp học.
Chương 3: Từ hƣớng tiếp cận thi pháp đổi mới quá trình dạy và học Thơ mới.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Sau cùng là phần Tài liệu tham khảo. 11

Chƣơng 1: THƠ MỚI VÀ HƢỚNG TIẾP CẬN THƠ MỚI
TỪ GÓC ĐỘ THI PHÁP HỌC
1.1 Thơ mới – cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam
Thơ mới là một hiện tƣợng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ
ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng
đáng trong nền văn học dân tộc với những thi nhân: Thế Lữ , Xuân Diệu, Huy Cận,
Lƣu Trọng Lƣ, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v Đồng thời, Thơ mới là một hiện
tƣợng thơ ca luôn thu hút sự quan tâm của giới phê bình, nghiên cứu và độc giả.
Cho đến bây giờ việc đánh giá Thơ mới vẫn còn đặt ra rất sôi nổi.

và những bài thơ đƣơng thời có giá trị đều đƣợc sáng tác với luồng cảm xúc mới ấy
cho dù các đề tài mà các tác giả lựa chọn có thể rất khác nhau. Thơ mới đã tiếp tục
sống, tiếp tục phát triển, nở nhiều hoa, kết nhiều trái qua các giai đoạn phát triển của
thơ ca dân tộc.
Phong trào Thơ mới là một hiện tƣợng lớn nhất trong nửa đầu thế kỷ, nó đã
đƣa thơ ca Việt Nam vào thời kỳ hiện đại, góp phần tạo nguồn và còn ảnh hƣởng
đến thi ca hôm nay. Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao Thơ mới, gần nhƣ
muốn đánh đồng Thơ mới với thơ Việt Nam hiện đại. Nhiều ý kiến muốn xác định
phạm vi thời gian và không gian cụ thể của nó. Phổ biến nhất hiện nay là ý kiến cho
rằng khởi điểm của Thơ mới là 1932 và kết thúc 1945. Ý kiến này căn cứ vào
những hiện tƣợng văn học ra đời năm 1932, trong đó có Tự lực Văn đoàn và bài thơ
Tình già của Phan Khôi, và sự kiện Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945.
Cách xác định nhƣ vậy có sự thiếu nhất quán: mốc đầu thì lấy mốc văn học còn mốc
cuối thì lấy mốc lịch sử. Tại sao lại thay đổi sự phân định trƣớc đây về giai đoạn
văn học 1930 - 1945 trong đó có Thơ mới? Và gần đây có ý kiến cho rằng toàn bộ
thơ hiện đại kể cả thơ hôm nay về cơ bản là sự lặp lại và nối tiếp Thơ mới. Một
quan niệm nhƣ vậy đề cao quá mức và gán cho Thơ mới những giá trị mà vai trò
lịch sử cụ thể của nó không thể có đƣợc. Đồng thời, ý kiến này vô tình hay hữu ý
phủ nhận giá trị và vai trò lịch sử của thơ sau 1945, một nền thơ đã có sự đổi mới về
thi hứng lẫn thi pháp.
Nên quan niệm Thơ mới là một hiện tƣợng văn chƣơng có tính lịch sử, là
một cuộc vận động đổi mới về văn chƣơng có phần lý thuyết và thực hành, có ngƣời
khởi xƣớng về quan niệm và có nhà thơ sáng tác đi đến khẳng định thành tựu với
13

nhũng tác phẩm có giá trị trong một giai đoạn lịch sử văn học nhất định. Đó là giai
đoạn văn học 1930 – 1945, có thể nói, Thơ mới đƣợc đóng khung trong giai đoạn
1930 - 1945. Trƣớc đó đã có mầm mống bắt đầu của Thơ mới. Đó là năm 1928,
Nguyễn Văn Vĩnh với bài thơ dịch Con ve và con kiến (La Cigale et la Fourmi) lần
đầu tiên xuất hiện trên Trung Bắc Tân Văn. Bài thơ không niêm, không luật, không

xóa bỏ ách nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm trên đất nƣớc ta, đem lại độc lập tự
do cho dân tộc, đƣa đất nƣớc sang một kỷ nguyên mới, làm thay đổi toàn bộ xã hội
về mọi mặt, trong đó có văn học. Thế là năm 1945 đã mở ra một giai đoạn văn học
mới và tất nhiên là phải khép lại giai đoạn đƣợc mở ra từ 1930.
Phải lƣu ý rằng trong giai đoạn 1930 - 1945 cũng có những nhà thơ không
thuộc Thơ mới, chẳng hạn nhƣ: Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải đã sáng tác thơ
từ những năm 20, sau năm 1930 cũng tiếp tục làm thơ, vẫn tiếp tục mạch thơ cũ.
Còn Tú Mỡ cùng Đỗ Phồn và nhiều nhà thơ trào phúng khác trong giai đoạn này
không thể xếp vào phạm trù Thơ mới. Chính Hoài Thanh và Hoài Chân cũng không
tuyển thơ của Tú Mỡ trong Thi nhân Việt Nam. Quả thật, thơ Tú Mỡ mang hình
thức truyền thống với nội dung đả kích, trào phúng. Riêng Tố Hữu là trƣờng hợp
đặc biệt, làm thơ từ những năm 1937 khi phong trào Thơ mới phát triển ở đỉnh cao.
Tác giả ý thức rằng khuôn phép thơ cũ gò bó, khó mà nói hết đƣợc nhịp sống mới
mẻ của thời đại, nếu nhƣ không có một hình thức khác phóng khoáng hơn - hình
thức Thơ mới. Từ ấy đƣợc sáng tác với ý thức nhƣ vậy. Cho nên Xuân Diệu mới
cho rằng thơ Tố Hữu trƣớc 1945 thoát thai từ phong trào Thơ mới. Nhƣng thơ Tố
Hữu khác Thơ mới ở chỗ: thi hứng hoàn toàn khác và mới, một thi hứng của tình
cảm, tƣ tƣởng cách mạng dƣợc biểu hiện dƣới hình thức Thơ mới. Trên quỹ đạo của
hình thức Thơ đƣơng thời, Tố Hữu đã phát hiện lại cái tôi nhiệt huyết cảm tính, đem
cái tôi cá nhân gắn với cái ta đoàn thể quần chúng, tạo ra những vần thơ bay bổng
và sức mạnh.
Nhƣ vậy, không phải trong những năm 1930 - 1945 mọi sáng tác thơ đều là
Thơ mới, mà có nhiều dòng thơ cùng tồn tại. Thơ mới ra đời và nhanh chóng chiếm
đƣợc ƣu thế trên thi đàn, thơ cũ cũng vì thế mà từ từ rút lui vào hậu trƣờng. Bên
cạnh đó còn có một dòng thơ sôi sục đấu tranh của các chiến sĩ cộng sản, dòng thơ
cách mạng, tiêu biểu là Từ Ấy của Tố Hữu. Và một dòng nữa - dòng thơ trào phúng
với Tú Mỡ Tất cá các dòng trên sau Cách mạng tháng Tám, hợp lƣu và biến
15

chuyển thành dòng thơ cách mạng và kháng chiến sau năm 1945.


rất nhiều từ lòng tôi nhằm giải thích trạng thái tâm lý, tình cảm của chủ thể.
Trong lịch sử thơ ca Việt nam, chữ tôi chƣa bao giờ xuất hiện nhiều nhƣ thế.
Điều ấy cũng dễ hiểu, cá nhân bao đời bị kìm hãm bởi tƣ tƣởng phong kiến cho nên
cái tôi của nhà thơ bị chìm đắm, hòa tan trong cộng đồng gia tộc xã hội, quốc gia
nay đƣợc cởi trói, đƣợc giải thoát và đƣợc khẳng định. Cá nhân đƣợc giải phóng là
nhân tố quyết định sự phát triển con ngƣời và cái tôi đƣợc đề cao, đƣợc tự do, tạo
điều kiện cho sự sáng tạo, sự phát triển cảm xúc. Thơ mới không chỉ biểu hiện cái
tôi bề mặt, mà điều quan trọng tạo nên cái mới là đi sâu khám phá cái tôi cảm xúc
thành thật. Sự thành thật của các nhà nghệ sĩ trƣớc hết là thành thật với bản thân
mình, với chính mình, và từ đó thiết lập mối quan hệ với thế giới bên ngoài, thế giới
độc giả.
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh cho rằng sự đổi mới cảm xúc là ở chỗ
thành thực. Khát vọng thành thật trong cảm xúc của Thơ mới là khát vọng đƣợc giãi
bày mọi bí mật của cõi lòng riêng tƣ, từ nỗi buồn, sự cô đơn đến ghen tuông, hờn
dỗi, tình yêu, đau khổ, cả những khát khao phóng túng, phi chuẩn mực. Chính thành
thật trong cảm xúc góp phần khẳng định nhân cách nhà nghệ sĩ. Các nhà Thơ mới
không chỉ thành thật trong cảm xúc mà còn sẵn sàng sống trọn vẹn, sống tận cùng
với cảm xúc của mình, nhƣ một cây kim bé nhỏ bị cuốn hút vào viên đá nam châm,
không cần gƣợng giữ theo lối trung dung hay tiết dục của ngƣời xƣa. Chính sống
trọn vẹn, sống tận cùng cảm xúc giúp nhà thơ vƣợt lên số phận, vƣợt lên chính mình
để có sức sáng tạo lớn, điều kiện để hình thành phong cách nhƣ: “Thế Lữ một hồn
thơ đẹp, nhiều lúc nhìn đời theo cảnh sắc thần tiên; Lƣu Trọng Lƣ đắm đuối trong
tình và mộng; Huy Thông trữ tình và bi tráng, Nguyễn Nhƣợc Pháp duyên dáng
trong nhiều tình ý thơ; Vũ Đình Liên, Thái Can, Lan Sơn gợi nhiều chia sẻ yêu
thƣơng với những cảnh đời ngang trái, lụi tàn ” [8, tr.12]
Song cũng cần lƣu ý rằng, sống tận cùng, sống mãnh liệt cảm xúc một mặt sẽ
khám phá những tinh tế nhất của tình cảm làm phong phú giàu có hồn thơ, mặt khác
khi nhà thơ đƣa đẩy cảm xúc vƣợt giới hạn đƣờng biên sẽ trở nên kỳ dị. Khi khám
phá cái tôi cảm xúc, Thơ mới đi sâu quan sát tinh vi thế giới tâm linh sâu thẳm, ở đó

khởi đầu bằng thi pháp lãng mạn đi vào cái sâu, cái tôi, cái riêng. Các nhà Thơ mới
đi tìm cái riêng do đó phải tìm cách biểu hiện mới. Ban đầu họ tìm hình thức tự do
bằng cách đập phá hình thức thơ cũ. Thơ cũ lạm dụng thể thơ Đƣờng luật (thất ngôn
18

bát cú) một thể thơ thống trị suốt thời trung đại cho đến đầu thế kỷ XX không còn
khả năng chuyển tải cảm hứng mới mẻ nữa.
Thơ mới đả phá thơ Đƣờng luật, cho ra đời thể thơ tự do. Bài thơ Tình già
của Phan Khôi, Trên đường đời và Vắng khách thơ của Lƣu Trọng Lƣ là những bài
thơ làm theo thể thơ tự do, đƣợc độc giả hƣởng ứng nồng nhiệt. Nhƣng cũng có
những bài thơ kém giá trị bởi ở đó thiếu tinh thần sáng tạo của nhà nghệ sĩ. Sau đó,
điều đáng quí là họ sử dụng cái cũ một cách mới, vƣợt qua sự rập khuôn tạo ra cái
tƣơi tắn mới mẻ từ hình thức cũ. Không dừng lại đó, họ tiếp tục sáng tạo. tìm tòi
nhƣng vẫn nằm trong quy luật thơ.
Sự thay đổi thi pháp cho phù hợp với thi hứng của phong trào Thơ mới
chứng minh một cách hùng hồn cho quy luật thống nhất giữa nội dung và hình thức
trong thơ ca. Nó nêu bật vai trò quyết định của nội dung với hình thức, đồng thời
cũng cho thấy đây là sự thống nhất có tính chất biện chứng. Hình thức tuy bị nội
dung quy định nhƣng đến lƣợt nó có tác dụng trở lại tôn vinh nội dung. Thơ mới có
một sự đổi mới toàn diện, chính vì thế mà nó đƣợc khẳng định trong nhiều thập kỷ
vừa qua, tuy có lúc thăng trầm. Sự đổi mới thi pháp Thơ mới còn nêu lên bài học:
tiếp thu thơ ca nƣớc ngoài để đổi mới phải sáng tạo, mọi cái rập khuôn, mô phỏng,
trái tinh thần tiếng Việt đều chết, hay đổi mới phải trên cơ sở truyền thống, truyền
thống là nền tảng, xa truyền thống sẽ mất chỗ dựa.
Ảnh hƣởng Văn hóa Pháp trƣớc tiên ảnh hƣởng chủ nghĩa lãng mạn Pháp
đến Thơ mới là điều không thể chối cãi. Nhƣng ảnh hƣởng đó đƣợc xem nhƣ chất
xúc tác ban đầu, có thể tạo nên phong trào chứ không thể tạo nên giá trị đích thực,
chân chính của Thơ mới. Chắc chắn rằng giá trị đó do bản thân dân tộc, lịch sử, xã
hội, văn hóa và con ngƣời Việt Nam thế kỷ XX tạo ra. Cho nên trong thi hứng Thơ
mới là thơ của chủ nghĩa lãng mạn. Chủ nghĩa lãng mạn trong Thơ mới có tiếp thu

sự đổi mới về tƣ duy thơ. Từ Thơ mới, thơ Việt Nam có bài thơ là đơn vị cấu trúc
ngôn ngữ loại thể cơ bản. Số âm tiết trong câu, số câu trong khổ, số khổ trong đoạn,
trong bài không bị giới hạn, sự hiệp vần phong phú hơn và không bị hạn định.
Trong Thơ mới, nhịp thơ hết sức phong phú, đa dạng, muôn hình, vạn trạng.
Nhịp Thơ mới phản ánh nhịp điệu của tâm hồn, của cuộc sống. Nghệ thuật ngắt
nhịp đã đƣợc Thơ mới nâng lên ở một trình độ mới.
Nhƣ vậy, thơ trung đại và Thơ mới giống nhau vì có vần, điệu, số câu, số
20

chữ, nhƣng thơ vẫn có những điểm khác rất đặc biệt. Thơ cũ là lối thơ Đƣờng Luật
có những lệ chặt chẽ về số câu, số chữ cách gieo vần bằng trắc và phép đối, niêm
luật thật gò bó, khắc khe, đến nỗi các nho sĩ chuyên làm thơ Đƣờng cũng lắm khi
than rằng khó quá vì luật lệ nghiêm khắc có hại cho thi hứng , khiến tình ý khó diễn
đạt. Cho nên các nhà thơ muốn phá bỏ các luật lệ nghiêm ngặt ấy để tự do diễn đạt
tình ý. Thơ mới là một lối thơ không giới hạn số câu, số chữ, niêm, luật hay đối chỉ
cần có vần và điệu mà thôi.
Tuy có những cách tân táo bạo nhƣng Thơ mới vẫn nằm trong văn mạch dân
tộc, là một bộ phận trong nền văn học nƣớc ta, và hơn nữa đã góp phần không nhỏ
vào làm phong phú cho văn chƣơng nƣớc nhà. Thơ mới so với thơ cũ đã có một sự
bừng nở về nghệ thuật, một bƣớc phát triển nhảy vọt, thay đổi về chất đã góp phần
tạo ra ánh hào quang huy hoàng của Thơ mới – bình minh của thơ Việt Nam hiện
đại.
1.2. Hƣớng tiếp cận Thơ mới từ góc độ thi pháp
1.2.1. Thi pháp và thi pháp học.
Các công trình về thi pháp học hoặc nghiên cứu văn học theo hƣớng thi
pháp học đều khẳng định thuật ngữ thi pháp xuất hiện từ thời cổ đại, trong
công trình của Arixtôt "Thi pháp" (Poetika). Thuật ngữ thi pháp (poetics,
poetika) có nội hàm ban đầu là cách thức, biện pháp, phƣơng pháp mô phỏng,
bắt chƣớc để sáng tạo văn học. Trong Từ điển thuật ngữ văn học, chủ biên:
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi có viết: "Thi pháp học là khoa

nguyên tắc và phƣơng thức, phƣơng tiện thể hiện nghệ thuật. Đối với các nhà
nghiên cứu, các chỉnh thể văn học gồm: Tác phẩm văn học, tác giả văn học,
trào lƣu, các thể loại văn học. Ngay trong một tác phẩm văn học, những yếu
tố cấu thành cũng đƣợc biểu hiện sinh động, nhƣng đƣợc cấu trúc trong thể
thống giữa hình thức và nội dung của chỉnh thể nghệ thuật. Các chỉnh thể văn
học khác: Tác giả, trào lƣu, thể loại, giai đoạn văn học, văn học dân tộc cũng
có những phƣơng diện, bộ phận sinh động, biến đổi nhƣng nhìn trong tính hệ
thống, các chỉnh thể trên vẫn đƣợc tổ chức theo những nguyên tắc ổn định của
chỉnh thể nghệ thuật.
Trong hệ thống thi pháp thì, các chỉnh thể nghệ thuật văn học đƣợc
quan tâm đặc biệt ở các cấp độ:
22

- Thi pháp tác phẩm
- Thi pháp tác giả
- Thi pháp giai đoạn văn học
- Thi pháp trào lƣu văn học
- Thi pháp thể loại.
Thi pháp học ở Việt Nam tuy chịu ảnh hƣởng của Nga hay Phƣơng Tây,
song khi vào Việt Nam, xét trên một số đóng góp chủ yếu, nó đã có sáng tạo
rõ rệt, hoàn toàn không phải là sao chép. Xét về phƣơng pháp, tuy khuynh
hƣớng có khác nhau, song về đại thể hầu hết nghiên cứu thi pháp, phong cách
đều có cách tiếp cận chung khá thống nhất là xét tần xuất để xác định hiện
tƣợng độc đáo, sau đó xây dựng mô hình chỉnh thể, hệ thống, giải thích các
hiện trƣờng tìm đƣợc về mặt quan niệm của thời đại và của tác giả.
Thi pháp học xuất hiện và phát triển ở Việt Nam chính là để giải quyết
nhu cầu đổi mới nội dung, phƣơng pháp nghiên cứu, phê bình do thời đại đổi
mới toàn diện mà trƣớc hết là đổi mới tƣ duy, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá
đúng sự thật, nói rõ sự thật đặt ra. Khắc phục lối phê bình tán chủ quan, xu
hƣớng nghiên cứu văn học theo quan niệm xã hội học dung tục, lối bình tán

cạnh đó, thi pháp học cũng tạo ta tính đa dạng, phức tạp trong nghiên cứu phê
bình văn học.
Trên cơ sở khoa học, khách quan, hệ thống, thi pháp học góp phần tích
cực nâng cao chất lƣợng nghiên cứu, phê bình văn học, nâng cao chất lƣợng
độc giả, thẩm bình thƣởng thức nghệ thuật văn học.
Với những nội dung ấy, chúng ta có thể tán thành với ý kiến của M.B
Khrapchenco: "Đã đến lúc thi pháp học có thể và cần thiết được giới thiệu
trong các khoa ngữ văn đại học như một môn học đặc thù và hoàn toàn không
có lí do gì để được hòa tan môn thi pháp học và phong cách học trong các
vấn đề chung của lý luận văn học khi nghiên cứu các phương thức và phương
tiện khái quát hóa thực tế của nghệ thuật. Các vấn đề do thi pháp học và
phong cách học đề xuất hoàn toàn vượt ra khỏi giới hạn của cái nhìn mà theo
truyền thống vẫn được ghi bằng khái niệm "cấu trúc của tác phẩm nghệ
thuật” không thể xếp vào đây việc nghiên cứu, chẳng hạn các phương pháp
sáng tác, các thể tài, các dòng phong cách Xu hướng gán cho thi pháp học
24

và phong cách học tính chất phụ trợ, bổ xung - chỉ làm kìm hãm sự phát triển
của chúng. Trong khi đó, chắc chắn rằng việc nghiên cứu sâu các vấn đề thi
pháp học và phong cách học lại là rất quan trọng để nâng cao trình độ chung
của nghiên cứu văn học và hoàn thiện phê bình văn học"

[33, tr.246-247]
1.2.3. Tiếp cận Thơ mới từ góc độ thi pháp
Hiện nay yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học nói chung và dạy Thơ
mới nói riêng vẫn đang là vấn đề mang tính thời sự, đƣợc đặt ra cấp thiết. Sau
những hội thảo lớn nhỏ ở các cấp độ khác nhau với nhữg kết luận, đánh giá
khá thống nhất đã đƣợc triển khai, phổ biến; tuy nhiên, trong thực tế, việc
hiểu, thực hiện vẫn còn nhiều điều chƣa thống nhất: từ thuật ngữ (dạy văn là
gì? học văn là gì? phƣơng pháp học, hình thức dạy học, phƣơng pháp dạy văn

hiện phƣơng thức thơ trữ tình hƣớng nội, vừa biểu hiện sự xuân hóa trong thơ thời
hiện đại. Tần số sử dụng hô ngữ, thán từ không đều giữa các nhà thơ là do chất
giọng riêng của từng tác giả. Buổi đầu, nhạy cảm với thi pháp trung đại, Thế Lữ,
Nguyễn Thị Kiêm dùng nhiều chất giọng nói, tăng cƣờng tính giao tiếp trực tiếp
để tránh xa khuôn khổ gò bó cũ. Giai đoạn từ 1936, Huy Cận, Xuân Diệu nghiêng
về trần thuật, bày tỏ nên ít giọng thủ thỉ. Nguyễn Bính giàu chất tâm tình, van nài,
nuối tiếc của những mối tình lỡ làng. Hàn Mặc Tử tràn ngập những thảng thốt đau
thƣơng và mất mát. Bởi vậy, ở Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử, câu thơ dùng ngôn
ngữ, thán từ nhiều hơn ở Xuân Diệu, Huy Cận.
Ảnh hƣởng của tƣ duy phân tích cụ thể phƣơng Tây, cách nói bằng các con
số cũng xuất hiện trong Thơ mới. Cái tôi trữ tình thƣờng luôn cảm thấy mình đơn
lẻ, cô độc nên số MỘT đƣợc xuất hiện nhiều nhất. Từ Thế Lữ đến Xuân Diệu, Chế
Lan Viên, Hàn Mặc Tử là vận động không đổi thay của con số MỘT cụ thể đầy cảm
tính:
Thế Lữ: Ta là một khách chinh phu, Trong nhà tranh, một mình tôi than thở,
Tôi mang theo một mối u hoài, Tôi chỉ là một khách tình si ; Nguyễn Bính: Lẻ loi
chỉ một góc trời riêng anh, Có một chiếc xe màu trắng đục, Hai con ngựa trắng xếp
hàng đôi/ Đem đi một chiếc quan tài trắng, Người có đôi, ta chỉ một mình, Trọn đời
làm một kẻ vô duyên/ Trọn đời là một thân cô lẻ ; Xuân Diệu: Một chàng thi sĩ
thoảng hơi men, Một thoáng cười yêu thỏa khát khao, Rồi một ngày mai tôi sẽ đi,
Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ ; Chế Lan Viên: Một vì sao trơ trọi cuối trời xa, Một

Trích đoạn Quy trình dạy học thơ theo hƣớng tiếp cận thi pháp Bài 1: Đây thôn Vĩ Dạ Bài 2: Vội vàng Tổ chức dạy thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status