1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ BÍCH HẢO
TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG
DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC, SINH HỌC LỚP 12,
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thế Hưng
HÀ NỘI - 2012
7
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
i
Danh mục những chữ viết tắt trong luận văn……………………………
ii
Danh mục bảng
iii
Danh mục hình……
iv
Mục lục…………………………………………………………………….
v
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
7
1.1. Cơ sở lý luận…………………………………………………………….
7
1.1.1. Một số vấn đề về dạy học tích hợp…………………………………….
thái học (Sinh học 12)……………………………………
43
2.5. Một số ví dụ bài soạn có tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường……
69
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM……………………………….
82
8
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm………………………………………
82
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm
82
3.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm…………………………………….
82
3.2.1. Lựa chọn đối tượng thực nghiệm……………………………………
82
3.2.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm……………………………………….
83
3.2.3. Phương pháp đánh
giá………………………………………………
83
3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm………………………………………
84
3.4.1. Phân tích định tính
84
3.4.2. Phân tích định lượng……………………………………………….
85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
5
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Kết quả đánh giá mức độ hiệu quả của công tác giáo dục môi trường.
26
Bảng 1.2. Nhận xét của giáo viên về GDMT……………………………
27
Bảng 1.3. Đánh giá mức độ sử dụng và hiệu quả của các tài liệu, phương tiện dạy
học………………………………………………………………
28
Bảng 1.4. Phương pháp hoặc hình thức dạy học tích hợp giáo dục BVMT
29
Bảng 1.5. Thuận lợi của giáo viên…………………………………………
30
Bảng 1.6. Khó khăn của giáo viên khi tích hợp nội dung giáo dục BVMT
31
Bảng 1.7. Kiến nghị của giáo viên………………………………………
32
Bảng 1.8. Lựa chọn của học sinh về vấn đề thế giới quan tâm……………
33
Bảng 1.9. Mức độ hiểu biết cuả học sinh về vấn đề môi trường…………
33
Bảng 1.10. Mức độ tác động của các hoạt động về môi trường đến ý thức của học sinh.
96
Bảng 3.9.Kết quả trả lời các câu hỏi về giáo dục bảo vệ môi trường
98
6
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 1 trường THPT Thanh Oai
A………………………………………………………………
90
Hình 3.2. Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 2 trường THPT Thanh Oai
A………………………………………………………………
91
Hình 3.3. Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 1 trường THPT Thanh Oai
B………………………………………………………………
91
Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 2 trường THPT Thanh Oai
B
92
Hình 3.5. Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS (bài kiểm tra số 1) của trường THPT
Thanh Oai A…………………………………………………
93
Hình 3.6. Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS (bài kiểm tra số 2) trường THPT
Thanh Oai A…………………………………………………
93
Hình 3.7. Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS (bài kiểm tra số 1) trường THPT
sự quan tâm của toàn xã hội, khi ngày càng có nhiều yêu cầu cao hơn trong
đào tạo con người thích ứng với thời đại mới. Đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng tích cực nhằm phát huy tính chủ động của người học trong quá
trình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng; rèn luyện và phát triển các kỹ năng tư duy
cần thiết cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
Một quan điểm dạy học đang được quan tâm, nghiên cứu và áp dụng do
tính hiệu quả của nó mang lại, đó là dạy học tích hợp. Dạy học tích hợp tạo
mối liên kết tri thức giữa các môn học giúp người học hiểu sâu sắc vấn đề
hơn, hình thành những kỹ năng, thái độ đúng đắn trong học tập. Ngoài ra, dạy
10
học tích hợp còn thúc đẩy tính tích cực học tập của học sinh, tạo cơ hội phát
triển năng lực tư duy, sáng tạo cho học sinh một cách hiệu quả.
Trong chương trình giáo khoa trung học phổ thông, có tất cả 11 môn,
không kể môn năng khiếu và môn tự chọn. Trong những môn học đó, Sinh
học là môn có rất nhiều cơ hội để tích hợp nội dung giáo dục môi trường.
Vì thế, sẽ rất thuận lợi cho việc giáo dục môi trường cho học sinh phổ thông
khi kết hợp với môn Sinh học.
Nội dung kiến thức của phần Sinh thái học, Sinh học 12 – THPT
nghiên cứu một cách tổng hợp và toàn diện mối quan hệ của sinh vật và môi
trường. Khi nghiên cứu mối quan hệ này, có thể tích hợp những biện pháp bảo
vệ môi trường, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, góp phần làm
tăng hiệu quả dạy học phần Sinh thái học trong trường phổ thông.
Xuất phát từ những lý do trên và căn cứ vào đặc điểm của môn học,
chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy
học phần Sinh thái học, Sinh học lớp 12, Trung học phổ thông”
2. Lịch sử nghiên cứu
Trên thế giới: Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại
dạy học môn khoa học lớp 4 cho học sinh tiểu học tỉnh Vĩnh Phúc” [8], hay
“Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học sinh học ở trường phổ thông”
của tác giả Hoàng Thị Thu Nhã năm 2010. [17]
Tuy nhiên, cho đến nay việc tích hợp giáo dục môi trường vẫn chưa được
áp dụng rộng rãi trong thực tiễn dạy học, vì thế rất cần nhiều nghiên cứu khác để
giáo dục môi trường trong trường phổ thông thực sự đem lại hiệu quả cao.
3. Mục đích nghiên cứu
Tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học phần Sinh
thái học (Sinh học 12) nhằm giúp học sinh nâng cao được kiến thức, rèn luyện
một số kỹ năng và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong
dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12).
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học phần Sinh thái học, Sinh học 12.
12
5. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu nội dung, phương pháp, hình thức
tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào một số bài cụ thể trong phần Sinh
thái học, Sinh học 12 - THPT.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong năm học 2011 – 2012.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quan điểm dạy học tích hợp.
- Nghiên cứu tổng quan về tình hình giáo dục môi trường ở một số
trường Trung học phổ thông.
- Đánh giá thực trạng của việc giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy
học nói chung và dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12) ở một số trường
THPT trên địa bàn huyện Thanh Oai – Hà Nội.
phương pháp tích hợp.
7.2.2. Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường, việc tổ
chức các hoạt động về giáo dục bảo vệ môi trường nhằm xác định những khó
khăn, hạn chế của người dạy, người học trong dạy học tích hợp giáo dục bảo
vệ môi trường.
7.2.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm và xử lí số liệu thực nghiệm
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết
khoa học.
- Xử lí kết quả thực nghiệm bằng phương pháp thống kê toán học, từ đó
rút ra kết luận của đề tài.
8. Giả thuyết nghiên cứu
Nội dung kiến thức, phương pháp và hình thức tích hợp giáo dục bảo
vệ môi trường trong dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12) mà đề tài đề
xuất có ý nghĩa trong việc nâng cao giá trị về mặt ứng dụng kiến thức, kỹ
năng và thái độ của học sinh trong việc bảo vệ môi trường.
14
9. Đóng góp mới của luận văn
- Đề tài đã làm sáng tỏ và hệ thống hóa được những vấn đề lý luận của
việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học Sinh thái học (Sinh học 12).
- Đề tài đã đánh giá được những đặc điểm cơ bản về thực trạng GDMT
ở một số trường THPT trên địa bàn huyện Thanh Oai – Hà Nội.
- Xây dựng được nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12).
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn được trình bày trong 3 chương:
đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh
vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy” [7, tr. 383]. Kế hoạch
giảng dạy ở đây cần được hiểu trong một phạm vi rộng, từ kế hoạch giảng dạy
của một chương trình đến kế hoạch giảng dạy của một môn học, kế hoạch
giảng dạy của một bài học. Cũng theo các tác giả của từ điển này, thì có hai
kiểu tích hợp là tích hợp dọc và tích hợp ngang với nhiều nội dung tích hợp khác nhau.
Tích hợp dọc là “Loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều
môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau”. Còn tích
hợp ngang là “ Tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên
cứu, thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau xung quanh một chủ đề”[7, tr. 384 – 385].
Từ định nghĩa trên, một số nhà giáo dục đưa ra các nội dung tích hợp
như: tích hợp bộ môn, tích hợp chương trình, tích hợp giảng dạy, tích
hợp học tập, tích hợp kiến thức, tích hợp kĩ năng.
Theo Dương Tiến Sỹ (2002) “ Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ,
có hệ thống các kiến thức, khái niệm các môn học khác nhau thành một nội
dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực tiễn được
đề cập trong các môn học đó” [21, tr. 27].
Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “Integration” một từ gốc La tinh
(Integer) có nghĩa là “Whole” hay “Toàn bộ, toàn thể”. Có nghĩa là sự phối
hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để
đảm bảo sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy.
16
Như thế, trong dạy học, tích hợp có thể được coi là sự liên kết các đối
tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động, để đảm bảo sự
thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của một hệ thống dạy học, nhằm đạt mục
tiêu dạy học tốt nhất.
1.1.1.2. Khái niệm dạy học tích hợp
những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống, hoặc đặt cở sở không thể thiếu
cho quá trình học tập tiếp theo.
Trong thực tế nhà trường, có nhiều điều chúng ta dạy cho học sinh
nhưng không thực sự có ích, ngược lại có những năng lực cơ bản không được
dành đủ thời gian. Chẳng hạn ở tiểu học, học sinh được biết nhiều quy tắc ngữ
pháp nhưng không biết đọc diễn cảm một bài văn, học sinh biết có bao nhiêu
centimet trong bao nhiêu Kilomet nhưng lại không chỉ ra được 1mét áng
chừng dài bằng mấy gang tay.
- Dạy học tích hợp giúp học sinh sử dụng kiến thức trong tình huống cụ
thể. Thay vì tham nhồi nhét cho học sinh nhiều kiến thức lý thuyết, dạy học
tích hợp chú trọng tập dượt cho học sinh vận dụng các kiến thức, kĩ năng học
được vào các tình huống thực tế, có ích cho cuộc sống sau này để làm công
dân, làm người lao động, làm cha mẹ có năng lực sống tự lập.
- Dạy học tích hợp đã xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học.
Trong quá trình học tập, học sinh có thể lần lượt học những môn học khác
nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng học sinh phải biểu đạt
các khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ thống trong phạm vi từng
môn học khác nhau. Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải
càng cao, có như vậy thì các em mới thực làm chủ được kiến thức và mới vận
dụng được kiến thức đã học khi phải đương đầu với một tình huống thách
thức, bất ngờ, chưa từng gặp.
1.1.1.4. Các quan điểm tích hợp trong dạy học
Theo d’ Hainaut (1977) [25, tr.47] có 4 quan điểm khác nhau đối
với các môn học.
- Quan điểm “đơn môn”: có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ
thống của mỗi môn học riêng biệt. Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ.
18
19
Dạy học tích hợp cho phép rút ngắn được thời gian dạy học, đồng thời
tăng cường được khối lượng và chất lượng thông tin của chương trình và nội
dung SGK phổ thông. Hiện nay còn tình trạng tách biệt giữa các môn trong
nhà trường phổ thông, nhất là tình trạng biệt lập giữa chương trình và SGK ở
các cấp học.
Việc giảng dạy tích hợp rèn cho HS ý thức và kỹ năng vận dụng kiến
thức đã học để xử lý các vấn đề đặt ra trong học tập. Đối với một số nội dung
kiến thức, người GV chỉ nên giới thiệu ở một chừng mực nhất định cần thiết
cho sự hiểu biết tối thiểu về khía cạnh đang đề cập. Nhờ đó có thể khơi gợi trí
tò mò, tinh thần ham hiểu biết của người học. Cần đánh giá cao những HS
biết sử dụng kiến thức phân môn này để tham gia giải quyết những vấn đề của
phân môn khác. Đó là những thói quen, cơ sở để sau này các em có điều kiện
tiếp thu và vận dụng dễ dàng hơn phương pháp nghiên cứu liên ngành ở các
bậc cao hơn, cũng như khi vào đời, có khả năng giải quyết dễ dàng hơn các
vấn đề thực tiễn, vì mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng là
tình huống tích hợp.
Dạy học tích hợp giúp HS sử dụng một cách tối đa các kiến thức đã học
ở các môn vào giải quyết vấn đề, đồng thời kéo kiến thức trong nhà trường
gần lại với kiến thức xã hội.
Dạy học tích hợp giúp HS học tập thông minh và vận dụng sáng tạo
kiến thức, kỹ năng và phương pháp của khối tri thức toàn diện, hài hoà và hợp
lý trong giải quyết các tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại.
Ngoài ra, dạy học tích hợp con đảm bảo cho HS khả năng huy động
hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách có
hiệu quả một tình huống xuất hiện, và nếu có thể, để đối mặt với một khó
khăn bất ngờ, một tình huống chưa gặp.
một cách rộng rãi, các quy luật lý sinh, hoá sinh diễn ra trong cơ thể sinh vật
có bản chất chính là các quy luật vật lý, hoá học.
Khi giải thích bản chất của các quá trình, cơ chế sinh học bằng các kiến
thức toán – lý – hoá sẽ hình thành ở HS quan điểm duy vật: Sự thống nhất vật
chất của tự nhiên gắn với đặc trưng khác biệt về chất của từng cấp độ cấu trúc
của vật chất. Các quá trình lý hoá được thể hiện trong hệ thống sống nhưng bị
chi phối bởi các quy luật của tổ chức sống.
21
Thế kỷ XXI là thế kỷ của công nghệ sinh học, sinh học tập trung
nghiên cứu thế giới sống ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô, có sự xâm nhập ngày
càng mạnh mẽ của các nguyên lý và phương pháp của nhiều ngành khoa học
khác. Các phương pháp thực nghiệm lý hoá giúp hiểu sâu hơn về cấu trúc của
các tổ chức sống, cơ chế của các quá trình sống ở cấp độ phân tử và tế bào
làm cho Sinh học ngày càng trở thành khoa học chính xác. Các phương pháp
Toán học giúp cho việc mô hình hoá các tổ chức sống phức tạp và tìm hiểu
các quy luật vận động của chúng, đưa Sinh học từ trình độ thực nghiệm –
phân tích lên thành tổng hợp - hệ thống. Nếu trước kia, Sinh học phát triển
dựa vào các phương pháp Sinh học thuần tuý thì ngày nay các phương pháp
phi sinh học có vai trò to lớn, Sinh học ngày càng thu hút sự đóng góp rộng
rãi của nhiều môn khoa học khác. Sinh học hiện đại đang trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp, phát triển với nhịp độ rất nhanh, vừa phân hoá thành nhiều
ngành nhỏ vừa hình thành những lĩnh vực liên ngành.
1.1.2. Giáo dục môi trường ở trường phổ thông
1.1.2.1. Khái niệm
Từ trước đến nay, có rất nhiều định nghĩa về Giáo dục môi trường.
Nhưng có thể nói, Giáo dục môi trường không nhất thiết là một môn học chứa
đựng các hệ thống khái niệm khoa học, Giáo dục môi trường mang đặc trưng
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Việc Giáo dục môi trường có thể thực
hiện bằng nhiều hình thức và cho nhiều đối tượng. Trong đó việc giảng dạy về
môi trường ở các trường học, nhất là trường phổ thông chiếm vị trí đặc biệt
quan trọng. Giáo dục môi trường nhằm giúp học sinh có được:
a. Các kiến thức:
- Hệ sinh thái, cân bằng sinh thái.
- Môi trường và các thành tố (địa chất, khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật,
cảnh quan thiên nhiên, các nguồn tài nguyên, dân số, hoạt động kinh tế, xã hội
của con người…)
- Môi trường và phát triển, bảo vệ và bảo tồn, tăng trưởng và suy thoái,
chi phí và lợi ích thu được.
- Các chủ trương, chính sách về môi trường của Đảng và Nhà nước,
luật Bảo vệ môi trường…
23
b. Hình thành các kỹ năng
- Kỹ năng giao tiếp
- Kỹ năng tư duy
- Kỹ năng nghiên cứu
- Kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề
- Kỹ năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin…
c. Thái độ và hành vi
- Biết quan tâm, lo lắng đến môi trường và đời sống của các sinh vật.
- Biết khoan dung và cởi mở.
- Tôn trọng, niềm tin vào quan điểm của người khác.
- Biết tôn trọng những luận điểm khoa học và luận cứ đúng đắn.
- Có ý thức phê phán và thay đổi những thái độ không đúng về môi trường.
- Mong muốn tham gia vào việc giải quyết môi trường, các hoạt động
1.1.2.4. Các hình thức triển khai Giáo dục môi trường
● Hình thức 1: Giáo dục môi trường thông qua chương trình giảng dạy
của môn học trong nhà trường.
Cơ hội Giáo dục môi trường trong chương trình môn học ở nhà trường
thể hiện ở chỗ trong chương trình có chứa đựng những nội dung của Giáo dục
môi trường dưới hai dạng chủ yếu:
Dạng 1: Nội dung chủ yếu của bài học hay một số phần của môn học có
sự trùng hợp với nội dung Giáo dục môi trường.
Dạng 2: Một số nội dung của bài học hay một số phần nhất định của
môn học có liên quan trực tiếp với nội dung Giáo dục môi trường.
Vì thế, người ta thường đề cập đến hai phương thức đưa Giáo dục môi
trường vào từng môn học như sau:
25
+ Tích hợp: kết hợp một cách hệ thống kiến thức môn học với kiến thức
giáo dục môi trường, làm cho chúng quyện với nhau thành một thể thống nhất.
+ Lồng ghép: lắp vào nội dung bài học một đoạn, một mục hoặc một số
câu hỏi có nội dung Giáo dục môi trường.
● Hình thức 2: Giáo dục môi trường được triển khai như một hoạt động
độc lập ở ngoài lớp.
- Nghe báo cáo các chuyên đề về môi trường
-Tranh luận, hùng biện
- Nghiên cứu về môi trường
- Khảo sát thực địa tìm hiểu vấn đề bảo vệ môi trường ở địa phương
- Tham gia tuyên truyền, vận động bảo vệ môi trường.
- Tham gia chương trình "Xanh hóa trường học"
- Xây dựng dự án và thực hiện.
- Câu lạc bộ môi trường.
quả thực tiễn. Thầy giáo là người tổ chức hoạt động bảo vệ môi trường dựa
trên chương trình quy định và tìm cách vận dụng phù hợp với địa phương.
b. Nguyên tắc về phương pháp Giáo dục môi trường
- Giảm bớt diễn giảng, tăng cường thảo luận, tranh cãi
- Giảm giờ giảng trong lớp, tăng giờ học ngoài hiện trường và ở trong
phòng thí nghiệm.
- Giảm bớt nhớ thuộc lòng, tăng cường khảo sát, nghiên cứu.
- Giảm trả lời theo sách, tăng độc lập tư duy, giải quyết vấn đề.
- Vận dụng nguyên lý, tránh tiếp cận xuôi chiều lý thuyết sẵn có.
- Tập trung xem xét tính hệ thống của vấn đề, tránh sa vào hiện tượng vụn vặt
- Chú ý kinh nghiệm thực tế và kỹ năng vận dụng.
- Tăng cường làm việc tập thể.
- Chú ý khóa luận, dự án và đề tài khảo sát nghiên cứu
c. Nguyên tắc tích hợp Giáo dục môi trường vào các môn học trong trường phổ thông
Trong những tài liệu nghiên cứu về các nguyên tắc tích hợp Giáo dục
môi trường vào môn học, người ta thường đề cập đến 3 nguyên tắc cơ bản sau:
- Tích hợp không làm thay đổi đặc trưng của môn học, không biến bài
học bộ môn thành bài học GDMT. Nghĩa là các kiến thức GDMT được tiềm
ẩn trong nội dung bài học, phải có mối quan hệ lôgic, chặt chẽ với các kiến
thức có sẵn trong bài học. Theo nguyên tắc này, các kiến thức của bài học
được coi như là cơ sở cho kiến thức GDMT.