TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ
KHOA NÔNG LÂM
TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG SINH HỌC CƠ THỂ
THỰC VẬT, SINH HỌC 11 (THPT)
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH Sinh học
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: 2009- 2013
Người hướng dẫn: Th.s. Phạm Thị Hương Thảo
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thu Thuỷ
Nguyễn Thị Hồng Lê
Đinh Thị Thanh Nga
NINH BÌNH, 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ
KHOA NÔNG LÂM
TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG SINH HỌC CƠ THỂ
THỰC VẬT, SINH HỌC 11 (THPT)
Người hướng dẫn khoa học:Ths. Phạm Thị Hương Thảo
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thu Thuỷ
Nguyễn Thị Hồng Lê
Đinh Thị Thanh Nga
NINH BÌNH, 2012
2
LỜI CẢM ƠN!
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc chúng em xin được bày tỏ lời
6 Giáo viên GV
7 Học sinh HS
8 Môi trường MT
9 Trung cấp chuyên nghiệp TCCN
10 Trung học cơ sở THCS
11 Trung học phổ thông THPT
12 Trung cấp chuên nghiệp TNTN
4
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.1.1 Xuất phát từ thực trạng môi trường hiện nay:
Những hiểm họa suy thoái môi trường đang ngày càng đe dọa
cuộc sống của loài người. Theo các báo cáo hiện trạng môi trường
quốc gia và toàn cầu cho thấy: môi trường nước, không khí, đất đai,
môi trường làng nghề, môi trường các khu công nghiệp,…bị ô nhiễm
nghiêm trọng; các hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai, bão
lũ, hạn hán,…diễn ra bất thường và rất nặng nề; các nguồn TNTN bị
khai thác quá mức, thiếu quy hoạch,…Chính vì vậy BVMT là vấn đề
sống còn của mỗi quốc gia và toàn cầu.
Nguyên nhân cơ bản gây suy thoái môi trường là do sự thiếu
hiểu biết, thiếu ý thức của con người.
GDBVMT là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và có
tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu BVMT và phát triển bền
vững đất nước.Thông qua giáo dục, từng người và cộng đồng được trang bị kiến
thức về môi trường, ý thức BVMT, năng lực phát hiện và xử lý các vấn đề môi
trường .Trong đó giáo dục ý thức BVMT cho học sinh là vấn đề quan trọng nhất vì
các em đang ngồi trên ghế nhà trường hôm nay sẽ tiếp tục có trách nhiệm BVMT
sống cho chính bản thân mình cũng như toàn nhân loại. Trong công tác này, các
thầy cô giáo có vai trò vô cùng quan trọng khi triển khai công tác GDBVMT sao
cho không chỉ phù hợp với điều kiện của nhà trường và địa phương mà còn phù
hành các hoạt động ngoại khóa còn gặp nhiều khó khăn; học sinh còn
thiếu kiến thức thực tế, trong thời gian một tiết học khó có thể lồng
ghép, mở rộng nhiều kiến thức bên ngoài
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:
"Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học nội dung sinh
học cơ thể thực vật, Sinh học 11(THPT)".
1.2. Mục đích nghiên cứu
Tích hợp nội dung GDBVMT trong dạy học Sinh học 11(THPT)
nhằm nâng cao chất lượng dạy học Sinh học 11 - THPT từ đó có ý
thức BVMT của học sinh THPT và góp phần nâng cao hiểu biết tăng
thêm tính hấp dẫn, ý nghĩa của phần sinh học cơ thể ở lớp 11.
1.3. Giả thuyết khoa học
Nếu các nội dung GDMT được tích hợp theo đúng nguyên tắc,
yêu cầu đối với việc xây dựng bài giảng tích hợp lồng ghép sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả của GDMT và hiệu quả dạy học Sinh học
11(THPT).
1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
1.4.1. Nghiên cứu cơ sở lí thuyết về các hình thức tích hợp và
phương pháp tích hợp GDBVMT.
1.4.2. Thiết kế chương trình tích hợp nội dung BVMT trong môn Sinh
học 11 - THPT
1.4.3. Thiết kế một số bài giảng trong chương trình Sinh học 11 –
THPT có tích hợp nội dung GDBVMT.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
1.5.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
6
- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập thông tin từ tạp chí,
tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ, internet và thông tin đại chúng có
liên quan đến nội dung nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu liên
+ Nội dung GDBVMT ở cấp phổ thông được tiến hành theo
phương thức tích hợp vào các môn học và các hoạt động giáo dục.
GDBVMT được tích hợp vào các môn Lịch sử, Địa lý, Khoa học Tự
nhiên - Xã hội, Tiếng việt, Mỹ thuật, Đạo đức, Sinh học, Vật lý và
hoạt động ngoài giờ lên lớp.
+ Đặc biệt, với 282 trường trung cấp chuyên nghiệp (TCCN)
trong cả nước, để đáp ứng được yêu cầu của nội dung GDBVMT
trong hệ thống các trường TCCN, Bộ đã biên soạn 5 tài liệu
(GDBVMT trong các trường TCCN, Lao động nghề nghiệp và môi
trường, BVMT trong các trường Trung cấp khối kỹ thuật công nghệ,
BVMT trong các trường Trung cấp khối văn hóa, y tế và du lịch ).
+ C
ác Sở GD&ĐT, trường Đại học (ĐH), Cao đẳng (CĐ) đã chủ động tích hợp,
lồng ghép các nội dung GDBVMT vào chương trình và sách giáo khoa mới, đảm bảo
tính bền vững và khả thi trong điều kiện nhà trường.
8
Bên cạnh đó, Bộ đã tổ chức tập huấn cho 700 giáo viên mầm non, 800 giáo viên
tiểu học, 800 giáo viên THCS và 800 THPT về phương pháp tích hợp/lồng ghép các
nội dung BVMT vào các môn học của các cấp học. Đặc biệt, Bộ còn thực hiện chương
trình bồi dưỡng giáo dục BVMT cho giáo viên phổ thông trên kênh VTV2 Đài Truyền
hình Việt Nam. Ngoài ra, Bộ còn tổ chức tập huấn cho trên 1 nghìn sinh viên các
trường CĐ, ĐH sư phạm khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc và gần 1 nghìn sinh viên
khu vực các tỉnh Tây Nguyên về các hoạt động giáo dục BVMT nhằm trang bị kiến
thúc, kỹ năng hành động về BVMT ngay từ khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường.
[7].
Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh là một đề tài đã được
nhiều tác giả nghiên cứu, tiêu biểu như:
- Phan Thị Mỹ Dung. Kinh nghiệm tích hợp giáo dục môi trường
trong dạy học vật lý.
- Chu Ngọc Lâm. Kinh nghiệm tích hợp kiến thức giáo dục bảo vệ
hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của
môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân số, GDMT, giáo dục
an toàn giao thông trong các môn học Đạo đức, Tiếng Việt hay Tự
nhiên và xã hội… xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền
thống.
Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành
xu thế trong việc xác định nội dung dạy học trong trường phổ thông
và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới.
Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích
cực về quá trình học tập và quá trình dạy học.
Tích hợp nội dung GDBVMT vào dạy học là sự kết hợp một
cách có hệ thống các kiến thức GDMT và kiến thức môn học thành
nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên những mối
liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong bài học.[3]
Sự tích hợp kiến thức GDMT vào môn học, đối với môn Sinh
học có thể phân thành 2 dạng khác nhau:
- Dạng lồng ghép: Kiến thức GDMT đã có trong chương trình
và SGK.
- Dạng liên hệ: Các kiến thức GDMT không được đưa vào
chương trình và SGK, nhưng dựa vào nội dung bài học, GV có thể bổ
sung kiến thức GDMT có liên quan với bài học qua giờ giảng trên
lớp.
2.2.2. Các mức độ tích hợp GDBVMT trong dạy học Sinh học.
- Mức độ toàn phần: Mục tiêu và nội dung của bài học hoặc của
chương phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung của đổi mới
GDBVMT
- Mức độ bộ phận: Chỉ một phần bài học có mục tiêu và nội
dung GDBVMT
- Mức độ liên hệ: Các kiến thức GDMT không được đưa vào
chương trình SGK nhưng dựa vào nội dung bài học, giáo viên có thể
- Phương pháp thuyết trình: Sử dụng phương pháp này để mô tả
sự vật, hiện tượng của môi trường.
- Phương pháp giảng giải: Thường sử dụng khi giải thích các
vấn đề. giáo viên nêu ra các dẫn chứng để làm rõ những kiến thức
mới và khó về môi trường.
- Phương pháp vấn đáp: Giáo viên đưa ra câu hỏi, học sinh trả
lời, cũng có khi học sinh hỏi, giáo viên trả lời hoặc giữa học sinh và
học sinh.
Phương pháp trực quan:
11
- Sử dụng các phương tiện trực quan như: Tranh ảnh, băng hình
video, phim ảnh đó là những phương tiện rất hữu ích cho việc giảng
dạy, gây hứng thú và ấn tượng sâu sắc cho học sinh.
Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ:
Lớp được chia thành các nhóm nhỏ. Các nhóm được giao cùng
nhiệm vụ hoặc các nhiệm vụ khác nhau.
Phương pháp dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề:
- Tạo tình huống, nêu vấn đề
- Giải quyết vấn đề
- Kết luận
- Biện pháp
Kĩ thuật động não:
Động não là một kĩ thuật giúp cho người học trong một thời
gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về vấn đề nào
đó.
Giáo viên nêu vấn đề cần tìm hiểu trước lớp hoặc nhóm.
Kĩ thuật giao cho học sinh làm các bài tập thực hành ở
dưỡng đội ngũ cán bộ về môi trường chưa đáp ứng yêu
cầu nguồn nhân lực của sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước. Kinh phí sự nghiệp môi trường hàng năm cấp
cho ngành GD&ĐT còn hạn chế, vì vậy công tác
GDBVMT gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các trường học
ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo
Mặt khác
, Theo Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển yêu cầu, việc tích hợp
nội dung giáo dục về đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên, về sử dụng năng lượng
tiết kiệm và hiệu quả, về bảo vệ môi trường sẽ được lồng ghép vào bài học một cách
tự nhiên, phù hợp, việc tích hợp phải tạo ra bài học sống động, hấp dẫn, gắn với thực
tiễn hơn nhưng không gây quá tải. Khó có thể kiểm tra hiệu quả triển khai trong mỗi
trường, mỗi lớp bởi nội dung này không được đánh giá, cho điểm. Điều này đang phụ
thuộc vào ý thức của mỗi người trong mục đích chung là bảo vệ môi trường khi tác hại
của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đang ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống
hàng ngày. Tuy nhiên, đây không phải là việc làm dễ vì ngay cả giáo viên cũng không
phải ai cũng có ý thức rõ về việc cần thiết phải giảng dạy cho học sinh về bảo vệ môi
trường khi trên lớp phải tập trung dạy các môn chính. Bên cạnh đó, việc thiếu thông
tin thực tế cũng khiến các bài giảng của giáo viên kém sống động, không đem lại hiệu
quả giảng dạy [13].
Nhìn chung, hiện nay hoạt động GDBVMT trong
trường học đã góp phần nâng cao ý thức BVMT của học
sinh, sinh viên. Các hoạt động của nhà trường trong việc
BVMT đã có sức lan tỏa, thu hút sự tham gia của cộng
đồng.
2.3.3. Thực trạng dạy học tích hợp nội dung GDBVMT trong dạy
học Sinh học 11(THPT).
Trong quá trình dạy học Sinh học, chúng tôi chắc rằng các giáo
viên đã đề cập đến các biện pháp GDBVMT. Tuy nhiên việc làm này
còn chưa thường xuyên, đôi khi còn mang tính sách vở, thiếu sự gần
bài với 18 bài lý thuyết và 5 bài thực hành. Trong đó có 12 bài có nội dung tích
hợp giáo dục bảo vệ môi trường ở mức độ cả bài và một phần, cụ thể:
Bài Địa chỉ tích
hợp
Nội dung GDMT Biện pháp
Bài 1: Sự
hấp thụ
nước và
muối
khoáng ở
rễ
1.Hình thái
của rễ
2.Rễ cây phát
triển nhanh bề
mặt hấp thụ
- Vai trò của nước
đối với đời sống
thực vật.
- Ô nhiễm môi
trường đất và
nước, gây tổn
thương lông hút ở
rễ cây, ảnh hưởng
đến sự hút nước và
khoáng của thực
vật.
- Tham gia bảo vệ
môi trường đất và
nước.
tăng độ ẩm, điều
hoà không khí
- Liên hệ thực
trạng môi trường
nước, rừng, cây
xanh ở các khu đô
thị hiện nay.
15
trong lành …
- Giáo dục hình
thành ý thức bảo
vệ cây xanh, bảo
vệ rừng, bảo vệ
nguồn nước, trồng
cây ở vườn trường,
nơi ở, nơi công
cộng.
- Sử dụng hợp lí,
tiết kiệm nguồn tài
nguyên nước, rừng.
Bài 4: Vai
trò của
các
nguyên tố
khoáng
Bài 6:
Dinh
dưỡng
nitơ ở
thực vật
Bài 7:
Thực
hành: thí
nghiệm
thoát hơi
nước và
Cả bài -Tiến hành thí
nghiệm xác định
sức thoát hơi nước
ở một số lá cây,
cung cấp thêm một
số thông tin về sự
- Giáo dục về ý
nghĩa của sự thoát
hơi nước với môi
trường, con người
và bản thân sinh
vật, cung cấp đầy
16
thí
nghiệm về
vai trò
của phân
bón
thoát hơi nước của
một số loài thực
vật.
- Trồng cây trong
dung dich: có thể
trồng rau sạch.
hợp ở
thực vật
I. Khái quát về
quang hợp ở
thực vật
- Điều hoà không
khí góp phần ngăn
chặn hiệu ứng nhà
kính.
- Chuyển hóa năng
lượng, tạo nguồn
hữu cơ cung cấp
cho toàn bộ sinh
giới, góp phần giữ
cân bằng sinh thái.
- Giáo dục ý thức
bảo vệ rừng, khai
thác tài nguyên
rừng hợp lí tránh
nguy cơ bị cạn
kiệt, ảnh hưởng
đến môi sinh.
- Tích hợp nguyên
nhân dẫn đến suy
giảm tài nguyên
rừng,tăng hiệu ứng
nhà kính.
17
Bài 10:
Ảnh
- Liên hệ hiện
tượng ô nhiễm môi
trường không khí,
đất, nước… hiện
nay và sự ảnh
hưởng của các yếu
tố đó đến quang
hợp của cây xanh:
+
Mức phát tán CO
2
:
hằng năm hoạt động
của nền công nghiệp
bổ sung khoảng trên 5
tỷ tấn CO
2
vào khí
quyển
+ Hiện nay, có khoảng
500 km
3
nước thải sau
khi dùng song ra sông
hồ và biển, lượng
nước thải này đều
chứa hoá chất độc hại,
vi khuẩn gây bệnh.
+ Ở Việt Nam các nhà
máy sản xuất phân
+ Hằng năm cây xanh
cố định khoảng 100 tỷ
tấn CO
2
tạo thành 500
kg chất khô/ha/ngày ,
thực vật nói chung cố
định khoảng 4-9.10
13
kg.
Bài 11:
Quang
hợp và
năng suất
cây trồng
II. Tăng năng
suất cây trồng
thông qua sự
điều khiển
quang hợp
- Cung cấp nước,
phân bón, chăm
sóc hợp lí tạo điều
kiện cho cây hấp
thụ và chuyển hoá
năng lượng tốt,
góp phần bảo vệ
môi trường.
- HS hiểu biết
những tác hại do
tán vào các nguồn
khác.
+ Theo Pemelet
(1971) để chống lại
1000 loài sâu hại
thuốc BVTV đã tác
động đến khoảng
100.000 loài động-
thực vật khác nhau
không thuộc đối tượng
19
phòng trừ mà lại rất
cần cho con người.
Bài 12:
Hô hấp
IV.2. Mối quan
hệ giữa hô hấp
và môi trường
- Hô hấp chịu ảnh
hưởng của các yếu
tố môi trường: O
2
,
H
2
O, nhiệt độ,
CO
2
- Bảo vệ môi
vệ thực vật, việc
sử lý chất thải sinh
hoạt, chất thải
công nghiệp hiện
nay.
Bài 24:
Ứng động
II.3. Vai trò
của ứng động
- Khả năng biến
đổi của thực vật để
thích nghi với môi
trường là có mức
độ
-Giáo dục ý thức
bảo vệ môi trường
sống ổn định, tránh
những tác động
mạnh gây ra những
thay đổi lớn trong
môi trường.
- Liên hệ một số
hoạt động của con
người gây nên ứng
động cho thực vật
20
Bài 34:
Sinh
trưởng ở
thực vật
trong nông sản,
đất, nước, không
khí gây nhiễm độc
nông sản và ảnh
hưởng đến sức
khoẻ con người.
- Liên hệ việc sử
dụng các hoá chất
kích thích sinh
trưởng cho thực
vật hiện nay và
những tác hại do
tồn dư chất kích
thích trong nông
sản đối với sức
khoẻ con người:
+ lạm dụng auxin,
giberelin kích
thích sinh trưởng,
tạo quả không hạt,
…tồn dư trong
nông sản cao, khi
vào cơ thể người
các hormon ngoại
sinh không thể
phân huỷ gây độc
cho cơ thể.
21
-
các auxin tổng hợp
chăm sóc tưới nước, bón phân hợp lí cho cây trồng.
II. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC.
- Tranh hình SGK phóng to.
22
- Sơ đồ cấu tạo tế bào lông hút, các miền của rễ phóng to.
- Một số tranh hình liên quan đến tích hợp bảo vệ môi trường.
III. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
- Vấn đáp – tìm tòi bộ phận.
- Trực quan – tìm tòi bộ phận.
- Hoạt động nhóm.
IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Ổn định tổ chức lớp(1’)
2. Bài mới
- Đặt vấn đề(3’)
Gv: Thế giới sống bao gồm những cấp độ nào? Đặc tính chung của
tất cả các cấp độ tổ chức sống là gì?
- Yêu cầu trả lời được: dưới cấp độ tế bào và trên cấp độ tế bào.
Gv: Yêu cầu điền thông tin thích hợp vào chỗ dấu “?” để hoàn
thành sơ đồ sau:
? ?
MT MT
Như vậy, cây xanh muốn tồn tại phải thường xuyên trao đổi
chất với môi trường, sự trao đổi chất đó diễn ra như thế nào?
Chúng ta cùng nghiên cứu nội dung bài: Sự hấp thụ nước và muối
khoáng ở rễ.
- Tiến trình bài giảng
HOẠT ĐỘNG 1: TÌM HIỂU CƠ QUAN HẤP THỤ NƯỚC (RỄ).
Mục tiêu:- Học sinh nêu được vai trò của nước đối với tế bào.
Cây xanh
23
- HS quan sát hình 1.1
và 1.2 SGK phóng to.
- Rễ chính, rễ bên,
lông hút, miền sinh
trưởng kéo dài, đỉnh
sinh trưởng. Đặc biệt
là miền lông hút phát
triển
- Rễ cây phát triển
hướng tới nguồn
nước.
I. TÌM HIỂU CƠ
QUAN HẤP THỤ
NƯỚC ( RỄ)
1. Vai trò của
nước đối với tế
bào
- Nước là dung môi
hoà tan các chất.
- Giảm nhiệt độ cơ
thể khi thoát hơi
nước.
- Tham gia vào một
số quả trinh trao
đổi chất.
- Đảm bảo độ nhớt
của chất nguyên
sinh.
2.Rễ là cơ quan
hấp thụ nước và
xúc với đất giúp cây
hấp thụ được nhiều
nước và mối khoáng.
- Tế bào lông hút có
thành tế bào mỏng,
không thấm cutin, có
áp suất thẩm thấu lớn
- Trong môi trường
quá ưu trương, quá
axit hay thiếu ôxi thì
lông hút sẽ biến mất.
- Hệ rễ được phân
hoá thành các rễ
chính và rễ bên,
trên các rễ có các
miền lông hút nằm
gần đỉnh sinh
trưởng.
b) Rễ cây phát triển
nhanh bề mặt hấp
thụ.
- Rễ đâm sâu, lan
rộng và sinh trưởng
liên tục hình thành
nên số lượng khổng
lồ các lông hút làm
tăng diện tích bề
mặt tiếp xúc với đất
giúp cây hấp thụ
được nhiều nước và