Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học Lịch sử thế giới lớp 11 trường Trung học phổ thông (chương trình chuẩn - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ HÀ TIẾN
SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƢỚC TRONG
DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI LỚP 11 TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(CHƢƠNG TRÌNH CHUẨN) LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
Mã số: 60 14 10

HÀ NỘI - 2012
2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ HÀ TIẾN

1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Lịch sử vấn đề
2
3. Mục đích nghiên cứu
5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
5
5. Đối tượng nghiên cứu
6
6. Phạm vi nghiên cứu
6
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6
8. Đóng góp của luận văn
7
9. Ý nghĩa của luận văn
8
10. Cấu trúc luận văn
8
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực
quan quy ước trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
9
1.1.Cơ sở lý luận của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy
học lịch sử
9
1.1.1. Quan niệm về đồ dùng trực quan
9
1.1.2. Các loại đồ dùng trực quan quy ước

chuẩn
39
2.2. Xây dựng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử thế giới
lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
41
2.2.1. Những yêu cầu của việc xây dựng đồ dùng trực quan quy ước
41
2.2.2. Phương pháp xây dựng đồ dùng trực quan quy ước
46
2.3. Các phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học
lịch sử thế giới lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
65
2.3.1. Những yêu cầu chung khi sử dụng đồ dùng trực quan quy ước
65
5

2.3.2. Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học
lịch sử
68
2.4. Thực nghiệm sư phạm
87
Kết luận và khuyến nghị
93
Tài liệu tham khảo
96
Phụ lục
99

3
ĐH
Đại học
4
ĐHSP
Đại học sư phạm
5
ĐQCN
Đế quốc chủ nghĩa
6
GD
Giáo dục
7
NCGD
Nghiên cứu giáo dục
8
NXB
Nhà xuất bản
9
PTS
Phó tiến sĩ
10
QGHN
Quốc gia Hà Nội
11
THPT
Trung học phổ thông
12
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
9

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông có vai trò rất quan trọng trong việc “giúp
học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm
hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách
nhiệm công dân” [6,tr. 17-18] theo mục tiêu giáo dục ở trường phổ thông mà Luật Giáo
dục của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nêu. Bởi vì, môn Lịch sử cung
cấp cho học sinh những tri thức cơ bản, hiện đại, có hệ thống về lịch sử thế giới và lịch
sử dân tộc. Trên cơ sở đó giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lý tưởng độc lập dân
tộc và cách mạng XHCN, tinh thần quốc tế chân chính; rèn luyện năng lực tư duy và
thực hành, thực hiện một cách hoàn chỉnh các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát
triển. Những tri thức này là một bộ phận cấu thành không thể thiếu đối với thế hệ trẻ
Việt Nam.
Tuy nhiên, thực tế dạy học ở trường phổ thông hiện nay, chất lượng dạy học
Lịch sử vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Sở dĩ có tình trạng này là do một số
nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Giáo viên chưa đánh giá đúng vai trò, vị trí của phương pháp dạy học đối với
việc giáo dục, do đó chưa khắc phục những yếu kém trong dạy học, vẫn theo “đường
mòn”, kinh nghiệm chủ nghĩa trong truyền thụ kiến thức.
Do sự tồn tại quan niệm không đúng về bộ môn lịch sử, coi đây là „môn phụ”
nên không chú ý đúng mức đến chất lượng bộ môn. Các giáo viên bộ môn chưa quan
tâm đến việc cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học.
Do việc “học lệch”, và tư tưởng “thực dụng”, “học gì thi nấy” của học sinh
nhằm đạt kết quả môn học chứ không nhằm trang bị hiểu biết cho bản thân trong học
tập. Tình trạng này làm cho không ít người quan niệm rằng việc “đổi mới”, “cải tiến”
phương pháp dạy học lịch sử trở nên không cần thiết, miễn sao “nhớ nhiều để ghi lại


2.1. Tài liệu nước ngoài
Các cuốn “Giáo dục hoc” của T.A Ilina, tập I,II (NXB GD, H, 1973), cuốn
“Giáo dục học” của N.V Savin (NXB GD, H, 1983); cuốn “Lý luận dạy học ở trường
phổ thông” của I. Ia Lecnevà M.N. Xcatkin (NXB GD, H, 1980, cuốn “Những cơ sở
của lí luận dạy học”, tập I, II, III của B.P. Êxipốp (NXB GD, H, 1971), cuốn “Phát
huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?” của I.F. Kharlamôp, Tập I, II
(NXB GD, H, 1978)… đã nêu lên những vấn đề lí luận cơ bản về vai trò, ý nghĩa của
phương pháp trực quan trong dạy học. Phương pháp trực quan được xem là phương
pháp có hiệu quả trong việc phát huy tính tính cực học tập của học sinh, là cơ sở để học
sinh khắc sâu, ghi nhớ kiến thức, hiểu bản chất vấn đề và hình thành khái niệm.
Về giáo dục Lịch sử, các chuyên khảo: “Phương pháp dạy học lịch sử ở
trường phổ thông” của Vaghin đã dành một chương: “Phương pháp sử dụng đồ dùng
trực quan” để nêu lên các vấn đề về vai trò, ý nghĩa, các loại và phương pháp sử dụng
đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử.
N.G. Đairi trong quyển “Chuẩn bị giờ học Lịch sử như thế nào” (NXB Giáo
dục, H, 1973) đã trình bày ý nghĩa của việc tạo hình ảnh trong dạy học lịch sử và khẳng
định rằng đồ dùng trực quan là một phương tiện để tạo hình ảnh cụ thể về sự kiện…
“Tính cụ thể, tính hình ảnh của sự kiện có một giá trị lớn lao, bởi vì chúng cho phép
hình dung lại quá khứ” [5,tr. 25].
2.2. Tài liệu trong nước
2.2.1. Tài liệu giáo dục học
Trong các giáo trình “Giáo dục học” của Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt, Tập I-II
(NXB GD, H, 1987); “Giáo dục học đại cương” của Phạm Viết Vượng (NXB ĐH
QGHN, H, 1996) và “Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại” của Thái Duy
Tuyên (NXB GD, H, 1999) các tác giả đã khẳng định trực quan là một nguyên tắc
dạy học và trong hệ thống các phương pháp dạy học, phương pháp trực quan có vai trò,
ý nghĩa quan trọng, đặc biệt với môn Lịch sử.
12


(Thông báo khoa học – Trường Đại học sư phạm Hà Nội I, Tập số 4, 1993); “Một số
vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông trong
giai đoạn hiện nay” của Phan Ngọc Liên; “Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan
nhằm phát huy tích cực hoạt động độc lập của học sinh trong dạy học lịch sử” của
Trịnh Đình Tùng; “Đổi mới việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong dạy học lịch
sử ở trường phổ thông” của Nguyễn Thị Côi (Tài liệu hội nghị đổi mới phương pháp
dạy học và học tập môn lịch sử ở trường trung học phổ thông và trường trung học cơ
sở, Tập 1, Bộ Giáo dục và Đào tạo- Vụ THPT, H, 1999).
Các bài viết trên tuy đề cập nhiều khía cạnh khác nhau về việc sử dụng đồ dùng
trực quan, song đều khẳng định vai trò, ý nghĩa của đồ dùng trực quan trong dạy học
lịch sử và sự cần thiết phải sử dụng các biện pháp sư phạm có hiệu quả.
Tất cả các công trình trên là những tài liệu tham khảo có giá trị gợi ý cho người
viết nhiều vấn đề lí luận, cách sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, để vận
dụng vào dạy học các bài cụ thể.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, luận
văn đi sâu tìm hiểu vai trò, ý nghĩa của đồ dùng trực quan quy ước cũng như phương
pháp sử dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy học phần lịch sử thế giới lớp 11 chương
trình chuẩn.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mực đích nêu trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Tìm hiểu tình hình thực tế về trang bị, xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan
quy ước ở trường trung học phổ thông hiện nay, trong đó cần quan tâm nhiều đến tính
hiệu quả đối với bài học lịch sử cũng như những khó khăn, hạn chế khi sử dụng đồ
dùng trực quan quy ước.
- Nghiên cứu lí luận về phương pháp dạy học lịch sử, đặc biệt là phương pháp
sử dụng đồ dùng trực quan nói chung và đồ dùng trực quan quy ước nói riêng để sử
14

dụng trong dạy học phần lịch sử thế giới lớp 11 trung học phổ thông - chương trình

- Nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu lý luận về trực quan, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong
dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, các tài liệu giáo dục, giáo dục lịch sử và
những vấn đề lịch sử có liên quan đến đề tài. Trên cơ sở đó xác định những quan điểm
lí luận cơ bản, những nguyên tắc, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước
theo xu hướng đổi mới phương pháp dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”, nhằm tích
cực hóa, hoạt động hóa hoạt động học tập của học sinh.
Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 11, nhất là chương trình
lịch sử thế giới để xác định kiến thức cơ bản cũng như đề xuất các loại đồ dùng trực
quan quy ước cần và có thể sử dụng khi dạy học những nội dung lịch sử thuộc giai
đoạn này, đồng thời cũng đưa ra phương pháp sử dụng cụ thể.
- Nghiên cứu thực tiễn và thực nghiệm sư phạm
Nghiên cứu thực tiễn trang bị, sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, đồ dùng
trực quan quy ước nói riêng qua điều tra, dự giờ, thăm lớp, phỏng vấn, phát phiếu thăm
dò… ở một số trường trung học phổ thông trên địa bàn Hải Phòng. Từ đó, luận văn rút
ra những ưu điểm cũng như hạn chế của việc trang bị, sử dụng đồ dùng trực quan quy
ước ở trường trung học phổ thông hiện nay.
Đưa đồ dùng trực quan quy ước xuống trường phổ thông, kết hợp với giáo viên
sở tại tiến hành thực nghiệm sư phạm (có đối chứng), so sánh, phân tích phiếu kiểm tra
nhận thức của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Trên cơ sở đó, luận văn rút
ra những kết luận nhằm làm rõ vấn đề, những dự kiến mà đề tài đặt ra.
8. Đóng góp của luận văn
- Nêu được thực trạng trang bị và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy
học lịch sử ở trường phổ thông.
- Tìm hiểu, nêu nguyên nhân khách quan và chủ quan của thực trạng trên.
- Đề xuất phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch
sử thế giới lớp 11 trung học phổ thông - chương trình chuẩn.
16

9. Ý nghĩa của luận văn


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƢỚC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở
TRƢỜNG PHỔ THÔNG

1.1. Cơ sở lí luận của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ƣớc trong dạy học lịch
sử
1.1.1. Quan niệm về đồ dùng trực quan
Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông có nhiều loại đồ dùng trực quan khác
nhau, cách sử dụng và hiệu quả cũng khác nhau. Hiện nay có nhiều cách phân loại đồ
dùng trực quan, về cơ bản chúng ta có thể chia thành 3 nhóm lớn sau đây [19,tr. 64]:
a. Nhóm đồ dùng trực quan hiện vật lịch sử: gồm những di tích lịch sử, di tích
cách mạng (như Cung điện Mùa Đông – Nga, Cung điện Vécxai – Pháp, chiến hạm
Rạng Đông…). Di vật khảo cổ, di vật của một thời kì lịch sử (trống đồng, mũi tên
đồng,…). Đồ dùng trực quan hiện vật là một loại tài liệu gốc rất có giá trị và có ý nghĩa
to lớn về mặt nhận thức. Thông qua việc tiếp xúc với những di tích hay những dấu vết
còn lại – bằng chứng hiển nhiên về sự tồn tại thực của mỗi thời kì lịch sử - học sinh sẽ
có những hình ảnh cụ thể, chân thực về quá khứ và từ đó có tư duy lịch sử đúng đắn.
b. Nhóm đồ dùng trực quan tạo hình: gồm các loại phục chế, sa bàn, tranh ảnh lịch
sử… Các loại đồ dùng trực quan thuộc nhóm này có khả năng khôi phục lại hình ảnh
con người, đồ vật, biến cố, hiện tượng quá khứ một các sinh động, xác thực. Tuy nhiên,
ở nước ta hiện nay phương tiện trực quan tạo hình chưa được chú ý xây dựng. Một số
tranh lịch sử, phim truyện lịch sử chưa được sử dụng rộng rãi trong trường phổ thông.
Chỉ một số trường phổ thông mới đưa loại đồ dùng trực quan này vào dạy học lịch sử.
c. Nhóm đồ dùng trực quan quy ước bao gồm nhiều loại khác nhau: bản đồ, sơ đồ,
đồ thị, niên biểu… Trong các loại đồ dùng trực quan được sử dụng hiện nay ở trường
18

phổ thông, đồ dùng trực quan quy ước được sử dụng nhiều nhất và thường xuyên bởi

suy nghĩ và giải thích các hiện tượng lịch sử về mối quan hệ nhân quả, về tính qui luật
và trình tự phát triển của chúng, giúp các em củng cố, ghi nhớ các kiến thức đã học.
Về mặt hình thức, bản đồ lịch sử là loại bản đồ chuyên đề (từ bản đồ địa lí), cho
nên trên bản đồ lịch sử không cần có nhiều chi tiết về các điều kiện tự nhiên như
khoáng sản, sông hồ, địa hình… Trên bản đồ lịch sử cần có những kí hiệu thể hiện biên
giới quốc gia, các thành phố, các vùng kinh tế, các địa điểm xảy ra những biến cố quan
trọng như các cuộc khởi nghĩa, các trận đánh, các chiến dịch…
Về nội dung, bản đồ lịch sử có thể chia làm hai loại chính là bản đồ tổng hợp và
bản đồ chuyên đề. Bản đồ tổng hợp phản ánh những sự kiện lịch sử quan trọng nhất
của một nước hay nhiều nước có liên quan ở một thời kì nhất định, trong điều kiện tự
nhiên nhất định (đặc biệt là biên giới các quốc gia vào thời điểm diễn ra sự kiện). Ví
dụ, các bản đồ “Sự thay đổi bản đồ chính trị châu Âu theo hệ thống Vécxai –
Oasinhtơn”, “Chiến tranh thế giới thứ nhất”, “Chiến tranh thế giới thứ hai”… Bản
đồ chuyên đề lại diễn tả những sự kiện riêng rẽ hay một mặt của quá trình lịch sử, như
diễn biến một trận đánh, sự phát triển kinh tế của một nước trong một giai đoạn lịch sử.
Ví như, các bản đồ “Chiến trường châu Á - Thái Bình Dương (1941-1945)”, “Cách
mạng Tân Hợi – 1911”…
Trong thực tế dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, bản đồ là loại đồ
dùng trực quan qui ước được sử dụng nhiều nhất và được coi là một nguồn cung cấp
kiến thức, một tư liệu học tập, nghiên cứu quan trọng.
Việc nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa của bản đồ trong dạy học lịch sử là rất cần
thiết, nhưng điều quan trọng hơn là biết sử dụng có hiệu quả. Chúng ta cần phải biết
phân loại bản đồ lịch sử cũng như đặc điểm của từng loại. Nó có ảnh hưởng to lớn tới
việc thực hiện nhiệm vụ dạy học. Tuy nhiên, để sử dụng tốt và có hiệu quả bản đồ,
chúng ta cần phải biết phân loại bản đồ trong dạy học lịch sử cũng như đặc điểm của
từng loại.
20

Khoa học bản đồ ngày càng phát triển thì sự phân loại cũng ngày càng phong
phú. Mỗi hình thức phân loại đều có giá trị nhất định. Bản đồ có thể phân chia theo tỉ

Trong giờ học trên lớp, học sinh sử dụng bản đồ trong sách giáo khoa để theo
dõi bài giảng, đối chiếu với bản đồ treo tường nhằm xác định vị trí xảy ra các sự kiện.
Trong tự học ở nhà, học sinh sử dụng bản đồ trong sách giáo khoa để quan sát, tìm hiểu
sâu sắc nội dung, hoàn thành các bài tập. Ngoài ra bản đồ trong sách giáo khoa còn là
nguồn tài liệu cơ sở để thầy trò xây dựng bản đồ treo tường phục vụ việc dạy trên lớp.
Bản đồ treo tường là bản đồ dùng phổ biến trong dạy học ở trên lớp. Bản đồ
treo tường không chỉ có vị trí, vai trò quan trọng trong dạy học lịch sử (như đã trình
bày ở phần chung nêu trên) mà do đặc trưng riêng, bản đồ treo tường còn có vị trí, ý
nghĩa đặc biệt cần thiết trong dạy học lịch sử.
Trong thực tế học tập các bộ môn của học sinh phổ thông hiện nay, quĩ thời gian
dành cho bộ môn lịch sử rất khiêm tốn, thời gian học ở nhà càng ít hơn, chủ yếu là học
sinh học tập, nắm bắt kiến thức lịch sử ngay trên lớp. Do đó, vấn đề làm sao cho học
sinh có được biểu tượng lịch sử rõ nét ngay trên lớp là điều giáo viên bộ môn phải chú
ý giải quyết. Bản đồ treo tường là một trong những phương tiện dạy học đáp ứng tốt
yêu cầu trên và có thể được xem là một loại chủ lực phổ biến nhất trong bản đồ giáo
khoa nhà trường. Trong “vốn liếng” đồ dùng trực quan được trang bị và xây dựng phục
vụ giảng dạy lịch sử ở hầu hết các trường phổ thông, phổ biến nhất và chiếm tỉ lệ cao
vẫn là bản đồ giáo khoa lịch sử treo tường.
Theo lý luận dạy học hiện đại, bản đồ treo tường không chỉ để minh họa cho nội
dung sách giáo khoa mà còn là nguồn cung cấp kiến thức mới hoặc để tiến hành củng
cố ôn tập, kiểm tra, đồng thời có thể thực hiện chức năng của một bản đồ câm.
Mặt khác, bản đồ treo tường còn làm cho học sinh chú ý có tính tập thể để theo
dõi bài học ở trên lớp, đồng thời có tác dụng lớn đối với mỗi học sinh về ý nghĩa giáo
dưỡng, giáo dục và đặc biệt đối với sự phát triển tư duy của học sinh về nhiều mặt –
kích thích sự hứng thú học tập; phát huy tính tích cực năng động của học sinh trong các
22

hoạt động tư duy (quan sát, khái quát, suy luận, liên hệ thực tiễn,…); rèn luyện các kĩ
năng thực hành và óc thẩm mĩ.
Bản đồ treo tường không chỉ góp phần thành công với bài học trên lớp mà ngay

những kiến thức tiếp thu được qua bài giảng. Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta át-lát giáo
khoa lịch sử chưa được chú ý xây dựng và sử dụng rộng rãi trong dạy học lịch sử.
Bản đồ câm (còn gọi là bản đồ công tua hay bản đồ trống) là loại bản đồ mà
trên đó không thể hiện đầy đủ các nội dung lịch sử được phản ánh trong sách giáo khoa
mà chỉ thể hiện những nét cơ bản về phạm vi lãnh thổ, lưới chiếu bản đồ, mạng lưới
thủy văn, các tuyến đường giao thông và các điểm dân cư quan trọng làm nền,…
Những yếu tố này có tác dụng định hướng cho nội dung lịch sử mà giáo viên sẽ đưa
dần vào trong quá trình giảng bài với hình thức vẽ bằng phấn, mảnh giấy ghi sẵn kí
hiệu, số hiệu và hình ảnh,…
Về hình thức, bản đồ câm có thể được vẽ trên giấy để treo tường hoặc phổ biến
hơn là giáo viên vẽ sẵn trên bảng đen. Tương ứng với bản đồ câm treo tường cho giáo
viên là một bản đồ câm có tỉ lệ nhỏ được đóng thành tập dùng cho học sinh sử dụng
học tập ở nhà, gọi là “bản đồ bài tập”. Trong giờ học, học sinh thường để trống trên
bàn, vừa nghe giảng vừa ghi chép, vừa chuyển những nội dung mà giáo viên vừa điền
trên bản đồ câm treo tường vào bản đồ câm của mình.
Bản đồ câm có mối liên hệ chặt chẽ với nội dung lịch sử trong sách giáo khoa,
bản đồ trong sách giáo khoa, bản đồ treo tường và át-lát. Nếu giáo viên biết hướng dẫn
học sinh khai thác các mối liên hệ này là tạo điều kiện để các em hoạt động nhận thức
một cách tích cực và tự giác. Tuy nhiên, những bản đồ câm loại này vẫn chưa được xây
dựng và sử dụng phổ biến ở nước ta.
Bản đồ nổi (mô hình, sa bàn) là loại bản đồ thường được xây dựng để giảng
dạy những nội dung lịch sử có liên quan đến yếu tố địa hình (chiến dịch Véc-đoong,
chiến dịch Xtalingrát…). Bản đồ nổi không thể hiện trên mặt phẳng như các bản đồ
khác mà được đắp nổi bằng đất sét, xi măng, thạch cao, bột giấy hoặc dập nổi trên chất
24

dẻo. Bản đồ này có giá trị trực quan cao giúp học sinh hiểu rõ mối quan hệ ảnh hưởng
của địa hình đối với sự kiện lịch sử.
Bản đồ nổi đòi hỏi kĩ thuật xây dựng phức tạp; nó cồng kềnh khó di chuyển; độ
chính xác kém so với các loại bản đồ khác…. Nên trong thực tế dạy học cũng ít được


Niên biểu tổng hợp cũng còn được sử dụng để trình bày những mặt khác nhau
của một sự kiện xảy ra ở một nước trong một thời gian hay trong nhiều thời kì. Ví dụ,
niên biểu “Diễn biến chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)” có thể được xây dựng
theo mẫu sau:
Thời gian
Diễn biến chính trên các mặt trận
Châu Âu
Bắc Phi
Châu Á - Thái Bình Dương

Niên biểu chuyên đề đi sâu trình bày nội dung một vấn đề quan trọng nổi bật
nào đấy của một thời kì lịch sử nhất định. Thông qua niên biểu chuyên đề, học sinh
hiểu được bản chất sự kiện một cách toàn diện, đầy đủ. Ví như, niên biểu “Các giai
đoạn chính của các nước tư bản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới 1919-1939” giúp
học sinh thấy rõ sự thăng trầm của các nước tư bản là nguyên nhân của cuộc chiến
tranh thế giới thứ hai:
Giai đoạn
Nội dung chính
Ảnh hưởng
1918-1923
Cao trào cách mạng ở các nước tư
bản Âu – Mĩ
Thúc đẩy phong trào đấu tranh ở các
nước thuộc địa Á, Phi, Mĩ Latinh
1924-1929
Các nước tư bản ổn định tạm thời

chính trị, mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử. Sơ đồ không tạo cho học sinh biểu
tượng rõ ràng về sự kiện lịch sử. Tuy nhiên, sơ đồ giúp cho sự phân tích các đặc trưng
và nêu lên mối liên hệ nhân quả một cách dễ dàng và từ đó thuận lợi cho việc hình
thành khái niệm cho học sinh.
Ví như, khi dạy học bài Nhật Bản, học sinh được quan sát “Sơ đồ cơ cấu xã hội
Nhật Bản trước Minh Trị duy tân”:
Triều đình Mạc phủ (Tô-ku-ga-oa)
Thiên hoàng Tướng quân

Đaimyô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status