nâng cao năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước cho học sinh trong dạy học lịch sử việt nam từ 1945 đến 1954 ở trường trung học phổ thông”(chương trình chuẩn) - Pdf 24

B GIO DC V O TO
I HC HU
TRNG I HC S PHM
H NGC CNG
NNG CAO NNG LặC Sặ DUNG
ệ DUèNG TRặC QUAN QUY ặẽC CHO
HOĩC SINH
TRONG DAY HOĩC LậCH Sặ VIT NAM
Tặè 1945 N 1954
TRặèNG TRUNG HOĩC PHỉ THNG
(CHặNG TRầNH CHUỉN)
Chuyờn ngnh: Lý lun v phng phỏp dy hc b
mụn Lch s
Mó s: 60 14 01 11
LUN VN THC S GIO DC HC
CN B HNG DN KHOA HC:
PGS.TS NG VN H
i
Huế, năm 2014
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực,
được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố
trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Hồ Ngọc Cường
iii

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS. Đặng Văn Hồ đã trực tiếp giảng dạy, hướng

1.Lý do chọn đề tài 5
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4. Mục đích nghiên cứu 9
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 9
6. Phương pháp nghiên cứu 10
7. Giả thuyết khoa học của đề tài 10
8. Đóng góp của đề tài 10
9. Cấu trúc luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 11
Chương 1 11
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC SỬ
DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC CHO 11
HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ 11
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 11
1.1. Cơ sở lí luận của việc nâng cao năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước cho
học sinh trong dạy học lịch sử 11
1.1.1. Quan niệm về năng lực 11
1.1.2. Đồ dùng trực quan quy ước là gì? 13
1.1.3. Các loại đồ dùng trực quan quy ước 14
1.1.3.1. Niên biểu 14
1.1.3.2. Đồ thị 14
1.1.3.3. Sơ đồ, biểu đồ 15
1.1.3.4. Bản đồ, lược đồ 15
1.1.4. Nâng cao năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử. 15
1.1.5. Vai trò, ý nghĩa của việc nâng cao năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước
cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 17
1.2. Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1. Mục đích điều tra khảo sát 20
1.2.2. Nội dung điều tra 20

dùng trực quan quy ước phải phù hợp với đối tượng và khả năng của học sinh 42
2.1.2. Nâng cao năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước phải vận dụng linh hoạt,
đa dạng các biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước 42
2.1.3. Nâng cao năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước phải tiến hành một cách
thường xuyên, liên tục để phát triển năng lực của học sinh 42
2.1.4. Phải kiểm tra thường xuyên năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước của
học sinh 43
2.2. Các biện pháp nâng cao năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước cho học sinh
trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 ở trường Trung học phổ thông(chương
trình chuẩn) 43
2.2.1. Xác định thái độ đúng đắn và tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao năng
lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước 43
2.2.2. Bồi dưỡng, hướng dẫn học sinh nắm vững các yêu cầu nâng cao năng lực sử
dụng đồ dùng trực quan quy ước 46
2.2.3. Nâng cao kĩ năng sử dụng đồ dùng trực quan quy ước 48
2.2.3.1 Nâng cao kĩ năng sử dụng bản đồ 48
2.2.3.2.Nâng cao kĩ năng sử dụng niên biểu 49
2.2.3.3. Kĩ năng sử dụng đồ thị, biểu đồ 51
2.2.3.4. Nâng cao kĩ năng sử dụng sơ đồ 52
2
2.2.3.5. Vận dụng thành tựu công nghệ thông tin (CNTT) để năng cao năng lực sử
dụng đồ dùng trực quan quy ước 53
2.2.4. Nâng cao năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để rèn luyện các năng
lực quan sát và năng lực tưởng tượng cho học sinh 56
2.2.4.1. Năng lực quan sát 57
2.2.4.2 Năng lực tưởng tượng 58
2.2.5. Sử dụng sơ đồ, niên biểu mở, bản đồ câm để nâng cao năng lực tư duy và năng
lực thực hành cho học sinh 60
2.2.6. Sử dụng tài liệu thành văn kết hợp với câu hỏi nhận thức để nâng cao năng lực
sử dụng ĐDTQQƯ cho học sinh 63

triển tiềm năng của con người, là đòn bẩy mạnh mẽ nhất mà chúng ta cần có để tiến
vào tương lai đáp ứng những yêu cầu của nền kinh tế tri thức. Báo cáo của Ủy ban
Quốc tế về Giáo dục cho thế kỷ XXI với đầu đề " Học tập: kho báu nội tại " đã cung
cấp những tầm nhìn mới đối với giáo dục và nhấn mạnh rằng: Mỗi cá nhân phải
được trang bị để nắm các cơ hội học tập suốt đời, vừa để mở rộng kiến thức, kĩ năng
và thái độ, vừa để thích nghi với một thế giới đang thay đổi phức tạp và phụ thuộc
lẫn nhau. Giáo dục giúp mỗi người phát hiện ra và làm giàu năng lực nội sinh của
bản thân, để có thể tự khẳng định mình, tự thể hiện mình trong các hoạt động của
cộng đồng, của xã hội. Báo cáo đưa ra bốn trụ cột giáo dục của thế kỷ XXI: Học để
biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tồn tại [8,tr.3]. Đứng trước xu thế
hội nhập và giao lưu văn hoá toàn cầu, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực có trình độ,
phẩm chất và năng lực cao phù hợp với nền kinh tế tri thức trở thành yêu cầu cấp
thiết đối với mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
1.2 Đối với nước ta, đổi mới giáo dục trở thành yêu cầu sống còn của công cuộc
xây dựng đất nước trong thế giới hợp tác đa phương, cạnh tranh gay gắt về kinh tế, về
nhân lực có chất lượng và trí tuệ cao. Để không rơi vào tình trạng tụt hậu so với các
nước trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định nhiều mục tiêu và phương hướng
phát triển của mình. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng
cộng sản Việt Nam khoá VIII đã khẳng định " Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo
dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo
của người học từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại
vào quá trình dạy - học, bảo đảm điều kiện về thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học
sinh, nhất là sinh viên đại học. Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường
xuyên và rộng khắp toàn dân, nhất là thanh niên"[8,tr.3]. Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: " Để đáp ứng yêu cầu về
con người và nguồn lực là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục
và đào tạo…Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực
tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến
thức, tránh nhồi nhét học vẹt, học chay"[8,tr.4]. Để thực hiện chiến lược phát triển giáo

cho học sinh hình ảnh cụ thể, sinh động và chính xác về hiện thực lịch sử. Đồ dùng trực
quan nói chung và đồ dùng trực quan quy ước(ĐDTQQƯ) nói riêng trong dạy học lịch
sử là phương tiện cụ thể hóa các sự kiện, hiện tượng lịch sử góp phần vào việc phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong dạy học lịch sử.
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh
là trào lưu tích cực đã và đang diễn ra trong ngành giáo dục. Thực chất của trào
lưu này là hướng toàn bộ quá trình dạy học vào người học trên cơ sở vận dụng
6
linh hoạt các phương pháp dạy học sao cho khai thác được tối đa tiềm năng trí
tuệ, tính tích cực và sự sáng tạo của họ. Nâng cao năng lực sử dụng đồ dùng
trực quan quy ước cho học sinh trong dạy học lịch sử là một nội dung quan
trọng để thực hiện định hướng đó.
Tuy nhiên qua thực tế cho thấy, giáo viên dạy lịch sử ở các trường Trung học
phổ thông (THPT) hiện nay gặp không ít khó khăn, hạn chế trong việc hướng dẫn tổ
chức quản lý đặc biệt là năng lực tổ chức việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước
để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập lịch sử. Học sinh cũng đã biết
sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong học tập nhưng hiệu quả chưa cao, các kĩ
năng sử dụng còn hạn chế, xem đồ dùng trực quan quy ước chỉ để minh họa cho nội
dung sách giáo khoa (SGK).
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Nâng cao
năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước cho học sinh trong dạy học lịch sử
Việt Nam từ 1945 đến 1954 ở trường Trung học phổ thông”(chương trình chuẩn) để
làm đề tài Luận văn thạc sĩ giáo dục với mong nuốn góp một phần không nhỏ vào
việc nâng cao chất lượng hiệu quả giảng dạy môn Lịch sử hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Các hoạt động học tập nói chung, hoạt động thực hành nói riêng được đề cập
đến trong nhiều tài liệu giáo dục học. Trong đó các tác giả đều ghi nhận vai trò tích
cực của các hoạt động thực hành trong thực tiễn dạy học.
2.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
N.G.Đai-ri trong tác phẩm " Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” đã đề cập

của tác giả Phan Ngọc Liên (chủ biên)- Nguyễn Thị Côi- Trịnh Đình Tùng biên
soạn đều khẳng định tầm quan trọng của việc rèn luyện các năng lực thực hành
trong đó có năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử, bồi
dưỡng học sinh năng lực sưu tầm tư liệu lịch sử, xây dựng niên biểu, bản đồ…,năng
lực vận dụng kiến thức lịch sử để quan sát, phân tích những vấn đề của hiện tại.
Cuốn "Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học
cơ sở"(1995) của Phan Ngọc Liên -Trịnh Đình Tùng có đề cập tới phương pháp sử
dụng kênh hình trong sách giáo khoa và bản đồ lịch sử. Các tác giả đã nêu tên và
nêu ý nghĩa của các phương pháp sử dụng hình vẽ tranh ảnh chân dung nhân vật
lịch sử trong sách giáo khoa [13]. Đặc biệt một loạt công trình nghiên cứu như:
Luận án tiến sĩ "Nâng cao năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trường trung học phổ thông" (vận dụng qua dạy học lịch sử Việt Nam từ 1919-
1975), (2013) của tác giả Vũ Ánh Tuyết. Luận văn thạc sĩ " Thiết kế và sử dụng đồ
dùng trực quan quy ước để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945-1954) ở trường THPT" (chương trình nâng cao) của tác giả Lê
Văn Tính (2007). Luận văn thạc sĩ " Xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan quy
ước để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử thế giới cận đại ở
trường THPT" (chương trình chuẩn) của tác giả Nguyễn Ngọc Hương, ( 2009).
8
Luận văn thạc sĩ "Rèn luyện kĩ năng xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan quy
ước cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới cổ, trung đại ở trường THPT"
( chương trình nâng cao) của tác giả Nguyễn Thị Hoa Khôi, (2009).
Các công trình nghiên cứu và các tác giả trên đã trình bày các vấn đề có tính
chất lý luận và kĩ thuật để thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan nói chung và trực
quan quy ước nói riêng. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu và đề cập đến
vấn đề nâng cao năng lực hoặc nâng cao năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy
ước cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 ở trường Trung
học phổ thông (chương trình chuẩn).
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi các năng lực
cần bổ sung cho học sinh khi sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch
sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 ở trường Trung học phổ thông (chương trình chuẩn).
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Cơ sở phương pháp luận của đề tài là lý luận chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về lịch sử và giáo dục lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Điều tra xã hội học để phát hiện thực trạng vấn đề nghiên cứu
+ Nghiên cứu các tài liệu Tâm lý học, Giáo dục học, nhất là lí luận dạy học
bộ môn liên quan đến vấn đề năng lực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường
phổ thông cùng các tài liệu khác có liên quan đến đề tài.
+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài.
7. Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu các biện pháp sư phạm mà Luận văn đề xuất được thực hiện tốt sẽ góp
phần nâng cao năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước cho học sinh, tạo điều
kiện để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn ở trường THPT.
8. Đóng góp của đề tài
Thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, Luận văn sẽ:
- Xác định các yếu tố, thành phần cấu thành năng lực sử dụng đồ dùng trực
quan quy ước cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
- Đề xuất các biện pháp sư phạm để nâng cao năng lực năng lực sử dụng đồ
dùng trực quan quy ước cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945-1954
ở trường Trung học phổ thông (chương trình chuẩn).
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận
văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nâng cao năng lực sử dụng đồ dùng
trực quan quy ước cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông.
Chương 2: Phương pháp nâng cao năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy
ước cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 ở trường Trung

có thể đạt được. Ở mức độ tài năng thể hiện kết quả xuất sắc của hành động có tính
chất phức tạp và mang rõ tính sáng tạo của chủ thể. Còn thiên tài là mức độ cao
nhất, là khả năng thực hiện có kết quả đặc biệt xuất sắc trong mọi tình huống, mọi
hoàn cảnh [3, tr.221-222]. Dựa trên các tiêu chí đã được đề xuất trong tâm lí học,
các tác giả xem xét và đánh giá năng lực của HS trong một lĩnh vực cụ thể qua: tốc
độ tiến bộ của HS trong việc lĩnh hội tri thức và phương thức hoạt động tương ứng;
11
chất lượng của hoạt động; xu hướng, sự kiên trì và sức lực của HS dành cho công
việc đó [3, tr.228].
Với cách nhìn nhận như trên, khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều cách
khác nhau:
“1. Là khả năng, điều kiện chủ quan, tự nhiên sẵn có để thực hiện một công
việc nào đó; 2. Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành
một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [16];
Là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và
thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo
dục"[22,tr.25].
Là “những đặc điểm tâm lí của nhân cách, là điều kiện chủ quan để thực hiện có
kết quả một dạng hoạt động nhất định. Năng lực có quan hệ với kiến thức, kĩ năng, kĩ
xảo. Năng lực thể hiện ở tốc độ, chiều sâu, tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng của kết
quả hoạt động ở tính sáng tạo, tính độc đáo của phương pháp hoạt động. Một số năng lực
có thể đo được bằng trắc nghiệm” [20];
“Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích
đáng trong các tình huống phức tạp nào đó”[22,tr.25];
“Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những
yêu cầu của một hoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt động đó hoạt động có kết
quả”[22,tr.25].
Theo chương trình giáo dục Quécbec (Chương trình GDTH Quécbec- Bộ giáo
dục Canada -2004): “Năng lực có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu
quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng

thuận lợi phù hợp với yêu cầu của mỗi hành động, cho phép hành động đó được
diễn ra nhanh và có hiệu quả cao trong những tình huống khác nhau”[22,tr.28]
1.1.2. Đồ dùng trực quan quy ước là gì?
“ Đồ dùng trực quan quy ước là những bản đồ, kí hiệu hình học đơn giản
được sử dụng trong dạy học lịch sử loại đồ dùng này là đồ dùng mà giữa người
thiết kế đồ dùng, người sử dụng và người học có một số quy ước ngầm nào đó (về
màu sắc, kí hiệu hình học và tỉ lệ xích )” [19, tr.12]. Đồ dùng trực quan quy ước
là một tài liệu có giá trị, tạo cho học sinh những hình ảnh tượng trưng khi phản ánh
mặt chất lượng và số lượng của quá trình lịch sử theo đặc trưng khuynh hướng phát
triển của hiện tượng kinh tế, chính trị, xã hội và đời sống con người.
Đồ dùng trực quan quy ước luôn được thể hiện trong không gian thời gian, địa
điểm cùng một số yếu tố địa lý nhất định. Thông qua quan sát đồ dùng trực quan quy
ước, đọc ký hiệu, nội dung lịch sử được biểu hiện; việc sử dụng đồ dùng trực quan
quy ước trong dạy học lịch sử còn góp phần phát triển khả năng quan sát, trí tưởng
tượng, tư duy và ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng đọc bản đồ, củng cố thêm thêm kiến
thức địa lí. Trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông, đồ dùng trực quan
13
quy ước thường được dùng chủ yếu. Nó không chỉ là phương tiện để cụ thể hóa lịch
sử mà còn là cơ sở để hình thành khái niệm cho học sinh. Qua đó phát huy năng lực
tư duy và khả năng thực hành cho học sinh.
1.1.3. Các loại đồ dùng trực quan quy ước
Trong dạy học lịch sử nhằm phát huy tinh tích cực trong học tập lịch sử cho
học sinh giáo viên thường sử dụng các loại ĐDTQQƯ sau:
1.1.3.1. Niên biểu
Trong dạy lịch sử, khi củng cố kiến thức cho học sinh một cách hệ thống,
giáo viên nên sử dụng niên biểu. Vì niên biểu sẽ cung cấp kiến thức một cách hệ
thống theo thứ tự thời gian, trình bày mối liên hệ giữa các sự kiện cơ bản tạo nên sự
xâu chuỗi một cách lôgic các sự kiện lịch sử.
Trên cơ sở đặc thù của bộ môn và nội dung cụ thể của từng bài học lịch sử có
thể chia niên biểu ra mấy loại như sau:

giáo viên về mặt chuyên môn mà còn đòi hỏi giáo viên có chút ít năng khiếu hội
họa và cả nghệ thuật dạy học trong việc xử lý ngôn ngữ, viên phấn và bảng đen.
1.1.3.4. Bản đồ, lược đồ
Bản đồ lịch sử là loại đồ dùng trực quan quy ước quan trọng, cần thiết nhằm
giúp học sinh xác định địa điểm của sự kiện trong thời gian và không gian nhất định.
Đồng thời, bản đồ lịch sử còn giúp HS suy nghĩ và giải thích các hiện tượng lịch sử, về
mối liên hệ nhân quả, về tính quy luật và trật tự phát triển của quá trình lịch sử, giúp
các em củng cố, ghi nhớ những kiến thức đã học.
Trong trường hợp không yêu cầu tính chính xác cao và nội dung cũng cần giản
lược thì người ta dùng lược đồ. Độ chính xác của lược đồ thấp là do nhiệm vụ đặt trước
quy định chứ không phải do tỉ lệ và đặc điểm nguồn gốc tài liệu bản đồ.
Về hình thức, bản đồ lịch sử không cần có nhiều chi tiết về điều kiện thiên nhiên
mà cần có những kí hiệu biên giới, các quốc gia, sự phân bố dân cư, thành phố, các
vùng kinh tế, địa điểm xảy ra những biến cố quan trọng (các cuộc khởi nghĩa cách
mạng, chiến dịch…). Các minh họa trên bản đồ phải đẹp, chính xác, rõ ràng.
Về nội dung, bản đồ lịch sử có thể chia thành hai loại chính: Bản đồ tổng hợp
và bản đồ chuyên đề:
- Bản đồ tổng hợp phản ánh những sự kiện lịch sử quan trọng nhất của một
nước hay nhiều nước có liên quan ở một thời kì nhất định.
- Bản đồ chuyên đề nhằm diễn tả những sự kiện riêng lẻ hay một mặt của quá
trình lịch sử như diễn biến một trận đánh, sự phát triển kinh tế của một nước trong
một giai đoạn lịch sử…
1.1.4. Nâng cao năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy
học lịch sử
“Nâng cao” là một khái niệm để chỉ ý định của con người khi muốn cải
thiện hay cải tiến một cái gì đó. Trong tiếng Anh, “nâng cao” được hiểu theo nghĩa
của từ “improve” là trau dồi tư tưởng hay mở mang kiến thức và tiếng Nga
15
“cповыcить” là nâng cao trình độ nghiệp vụ hay rèn luyện tay nghề. Trong tiếng
Việt được hiểu nghĩa theo hai tình huống chủ yếu sau: 1. khi người ta muốn đưa

những tác động tích cực từ phía chủ thể. Mức độ nâng cao tỉ lệ thuận với những tiêu
chí đặt ra khi cải biến đối tượng.
16
Trong dạy học, hướng phát triển HS liên tục đòi hỏi người GV không ngừng
nâng cao trình độ kiến thức và khả năng học tập của HS. Nâng cao năng lực sử
dụng ĐDTQQƯ trong học tập lịch sử cũng không nằm ngoài mục tiêu phát triển
HS. Thực chất, đây là những biện pháp tác động theo ý định chủ quan mang tính sư
phạm rõ ràng nhằm kích thích sự phát triển hay mức độ thuần thục, sự nhanh nhạy
của HS trong các tình huống học tập khác nhau.
1.1.5. Vai trò, ý nghĩa của việc nâng cao năng lực sử
dụng đồ dùng trực quan quy ước cho học sinh trong dạy học
lịch sử ở trường trung học phổ thông
Mục tiêu của giáo dục phổ thông được xác định rõ tại điều 27, Luật giáo dục
là: giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng
cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân
cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công
dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, mục tiêu của giáo dục THPT nhằm: giúp HS
củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục Trung học cơ sở, hoàn thiện học
vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có
điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại
học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [17]. Nguyên
lí giáo dục “học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn” luôn định hướng và
chỉ đạo các hoạt động dạy học nói chung. Ngày nay các nước trên thế giới đã điều
chỉnh chiến lược phát triển giáo dục cho phù hợp với sự phát triển của thời đại.
Hướng đào tạo của các nước là phát huy tối đa tiềm năng của người học, rèn luyện
óc tư duy, sáng tạo, khả năng làm việc độc lập và thích nghi của họ với mọi hoàn
cảnh sống. Nâng cao năng lực sử dụng ĐDTQQƯ cho HS cũng phù hợp với định
hướng phát triển của giáo dục trong thời đại mới.
Vấn đề nâng cao năng lực sử dụng ĐDTQQƯ có vai trò hết sức to lớn, góp

HS lên mức độ cao hơn. Ví dụ, nhờ có Nâng cao năng lực sử dụng ĐDTQQƯ
nên khi học về diễn biến Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950, HS biết và có
nhu cầu sử dụng Lược đồ chiến dịch Biên giới thu - đông 1950. Đứng trước lược
đồ, HS nhanh chóng xác định được các bước, cách thức khai thác lược đồ làm
nổi bật nội dung kênh thông tin mà lược đồ chứa đựng như xác định những vị trí
quan trọng có liên quan trực tiếp tới chiến dịch: Đông Khê, Thất Khê, Na Sầm,
Lạng Sơn, Hà Nội, Thái Nguyên hay các kí hiệu có tính chất quy ước: đường số
4; hướng tấn công của địch của ta, Nâng cao năng lực sử dụng ĐDTQQƯ sẽ
giúp HS biết cách khai thác các thông tin cần thiết, biến những kí hiệu quy ước
thành ngôn ngữ nói hay viết. Nhờ đó, các em có thể nhanh chóng nắm được diễn
biến của chiến dịch. Năng lực khai thác lược đồ còn thể hiện qua khả năng phân
18
tích, đánh giá mối liên hệ giữa các thông tin thể hiện qua cách nhìn nhận khái
quát toàn bộ chiến dịch trên lược đồ. Chẳng hạn như, HS đánh giá được lí do vì
sao Đảng lại chọn đánh cứ điểm Đông Khê hay Đường số 4 được giải phóng có ý
nghĩa như thế nào đối với cuộc kháng chiến chống Pháp về phía ta, Qua đó, HS
thấy được đường lối chỉ đạo của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn. Nâng cao năng
lực sử dụng ĐDTQQƯ trong học tập vừa có tác dụng đối với nhận thức lịch sử,
vừa có tác dụng giáo dục HS và củng cố những hiểu biết của HS về phương pháp
học tập bộ môn.
Bên cạnh đó, nhờ những tố chất có sẵn của năng lực mà HS dễ dàng biết và
nắm vững kiến thức về phương pháp sử dụng ĐDTQQƯ trong dạy học lịch sử. Như
vậy, nâng cao năng lực sử dụng ĐDTQQƯ vừa có tác dụng tích cực trong việc nắm
vững kiến thức lịch sử, vừa có tác dụng đối với quá trình nắm vững, hiểu sâu
phương pháp thực hành bộ môn.
- Về kĩ năng, Năng lực sử dụng ĐDTQQƯ còn giúp HS có những hiểu biết
về cách lựa chọn ĐDTQQƯ phù hợp với nội dung kiến thức. Ví dụ, học về diễn
biến một chiến dịch cụ thể nên sử dụng bản đồ, lược đồ lịch sử hoặc biết được khi
nào thì sử dụng niên biểu, sơ đồ
Năng lực sử dụng ĐDTQQƯ bao gồm cả những hiểu biết về phương pháp thiết

(Chương trình chuẩn).
- Đối tượng điều tra: giáo viên và học sinh các trường THPT.
- Phương pháp điều tra: để tiến hành điều tra, chúng tôi sẽ trực tiếp đến các
trường THPT để tìm hiểu, quan sát, dự giờ, tiếp xúc trao đổi với giáo viên và học
sinh xử lý các số liệu để có những cơ sở để kết luận vấn đề này.
1.2.2. Nội dung điều tra
Đối với giáo viên: Chúng tôi đưa sẽ ra một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan
(TNKQ) để khảo sát tìm hiểu xem trong quá trình giảng dạy giáo viên đã chú ý đến
những phương pháp dạy học nào có ưu thế để phát huy năng lực của học sinh. Trong
quá trình dạy học giáo viên có sử dụng đồ dùng trực quan quy ước hay không? Sử
dụng như thế nào? Tác dụng của việc sử dụng các đồ dùng đó để phát huy tính tích
cực, năng lực tư duy của học sinh như thế nào? Lắng nghe những đề xuất và giải pháp
đổi mới phương pháp dạy học.
Về phía học sinh: chúng tôi sẽ đưa ra hai phiếu điều tra, một phiếu điều tra
về trình độ nhận thức của học sinh qua một bài kiểm tra kiến thức ở một bài cụ thể
trong chương trình lịch sử Việt Nam (1945 – 1954); một phiếu điều tra về tình hình
khi dạy học lịch sử, giáo viên có chú trọng đến các biện pháp để nâng cao năng lực
sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử Việt Nam 1945 – 1954
hay không (xem phần phụ lục 39,40).
20
1.2.3. Kết quả điều tra
Đối với giáo viên: Qua thực tế điều tra cũng như trao đổi với một số giáo
viên về việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước cho học sinh trong học tập lịch sử
là một điều lâu nay giáo viên hướng tới, từng bước khắc phục khó khăn để nâng cao
năng lực sử dụng đồ dùng trực quan quy ước.
Trong quá trình dạy học nếu giáo viên có sự chuẩn bị tốt, thiết kế, hướng dẫn
học sinh quan sát, tìm tòi, nghiên cứu xử lý thông tin, thông qua hệ thống câu hỏi
nhận thức, áp dụng linh hoạt và kết hợp nhiều biện pháp thì sẽ phát huy được tính
tích cực, chủ động, sáng tạo nâng cao chất lượng dạy học. Qua tìm hiểu giáo viên ở
một số trường THPT ở Quảng Trị, chúng tôi đều nhận thấy rằng đa số giáo viên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status