BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch
sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt
Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn)
LUẬN ÁN THẠC SĨ
Hà Nội, 2014
1
1
2
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xác định được tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục trong thời kì đổi mới, văn
kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách
hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá,
hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế
quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập
trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng
lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Xây dựng môi trường giáo dục
lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội”. Quan điểm chỉ
đạo trên đây của Đảng đã đặt ra hệ thống tổng hợp của các nhiệm vụ giáo dục và đào
tạo, trong đó việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng năng lực sáng tạo, kỹ
năng thực hành cho HS là một trong những nhiệm vụ quan trọng.
Để nâng cao chất lượng dạy học theo định hướng phát huy năng lực sáng tạo và
khả năng thực hành cho HS hiện nay, vấn đề tạo hứng thú học tập và năng lực nhận
thức tích cực cho HS trong dạy học luôn là nhân tố cơ bản và có ảnh hưởng quyết
định tới việc thực hiện mục tiêu nói trên.
Bộ môn LS ở trường phổ thông với đặc trưng riêng của mình có vị trí quan trọng
trong việc bồi dưỡng nhận thức và giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ. Nội dung học
tập nhằm trang bị cho học sinh những tri thức lịch sử cơ bản hiện đại, những tri thức
phải hiểu bản chất của nhận thức tích cực và quan trọng hơn, phải hình thành được kỹ
năng nhận thức tích cực và thường xuyên rèn luyện kỹ năng ấy trong thực tiễn nhận
thức. Không quan tâm tới kỹ năng nhận thức tích cực và thường xuyên rèn luyện kỹ
năng ấy, mục tiêu của nhận thức tích cực, mặc dù rất quan trọng và cần thiết, nhưng
mãi sẽ chỉ là khẩu hiệu xuông mà thôi. Vấn đề này càng trở nên quan trọng hơn trong
dạy học lịch sử hiện nay, khi mà việc học tập lịch sử theo lối nhận thức thụ động,
nhồi nhét, thầy đọc trò chép vẫn đang còn là phổ biến và dẫn đến thực trạng báo
động: học sinh chán sử, thờ ơ với lịch sử, không hứng thú học tập lịch sử.
Xuất phát từ quan điểm trên, chúng tôi chọn vấn đề “Rèn luyện kỹ năng nhận
thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
(vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn)
làm đề tài Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của mình. Với bản thân tôi, đây là vấn đề mới
và khó, nhưng xác định được ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của vấn đề này, tôi
mạnh dạn đi sâu nghiên cứu và tin tưởng, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần
nhất định vào việc nâng cao năng lực nghề nghiệp cho bản thân và hy vọng góp một
phần nhỏ bé vào nhiệm vụ nâng cao chất lượng DHLS ở trường THPT hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Khổng Tử (551 - 479 TCN) – nhà sư phạm kiệt xuất của giáo dục phương Đông
cổ đại đã rất coi trọng vai trò của giáo dục, đòi hỏi người ta phải học và tìm tòi, suy
4
4
nghĩ, đào sâu trong quá trình học. Khổng Tử cho rằng mục đích của giáo dục là “học
dĩ chí dụng” tức học để ứng dụng, học để có ích với đời. Ông đưa ra phương pháp
dạy học đúng đắn mà đến ngày nay chúng ta vẫn thực hiện đó là: “Ôn cố nhi tri tân”
– học thì phải ôn tập, ôn cũ để biết mới. Như vậy Khổng Tử đã chú ý phần nào đó
đến kỹ năng nhận thức theo hướng tích cực của HS nhất là kỹ năng thực hành và tự
học, ôn tập ở nhà để có kỹ năng tiếp thu bài mới. Tuy nhiên, do hạn chế về thời đại, ông
chưa đưa ra được lý luận và các biện pháp rèn kỹ năng nhận thức cho học sinh. Mặc dù
vậy, tư tưởng về giáo dục của Khổng Tử đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Trong “Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi” của Giselle O.Martin-
Kniep cũng đề cập đến các kỹ năng trên và đưa ra cách chấm điểm của GV đối với
các kỹ năng của HS trong đó coi trọng kỹ năng nhận thức theo hướng tích cực hóa.
Bên cạnh đó, Robert J.Marzano với “Nghệ thuật và khoa học dạy học” gồm 10
chương trong đó đi sâu vào hoạt động dạy học giúp GV có nghệ thuật dạy học như:
giúp HS tương tác hiệu quả, giúp HS thực hành hiểu sâu kiến thức mới Ngoài ra,
tác giả còn đề cập đến vấn đề học nhóm nhằm phát huy tính tích cực của HS qua đó
chính các em cũng tự mình rèn các kỹ năng như nhận thức tích cực, kỹ năng thực
hành Không chỉ về phía HS mà tác phẩm còn đề cập đến các kỹ năng của thầy khi
lên lớp như giọng nói biểu cảm, cách kiểm tra và đánh giá học sinh, để dạy học
không những là một nghề mà còn là một khoa học.
Ngoài những tài liệu về giáo dục học, phương pháp dạy học, vấn đề kỹ năng và
nhận thức tích cực còn được thể hiện qua các sách giáo trình về phương pháp dạy học
lịch sử, tiêu biểu nhất là:
N.G Đairi trong “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” trình bày nguyên tắc cơ
bản của giờ học lịch sử ở trường phổ thông đã nhấn mạnh: để phát huy tư duy độc lập
và nhận thức tích cực của HS cần xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trong quá
trình dạy học. Qua việc giải đáp câu hỏi cũng chính là rèn cho các em những kỹ năng
cơ bản của nhận thức. Những lập luận của Đairi giúp GV lịch sử hiểu rõ cách sử dụng
câu hỏi phù hợp với nhận thức học sinh. Ông chú ý đến dạy học “nêu vấn đề” là cách
rèn cho học sinh kỹ năng nhận thức tích cực một cách tốt nhất.
Tác giả I.a.Lecne với “Phát triển tư duy của học sinh trong dạy học lịch sử” đã
đưa ra yêu cầu đối với giáo viên trong dạy học lịch sử phải tạo ra “tình huống có vấn đề
nhằm nâng cao kỹ năng nhận thức tích cực để giải quyết tốt các vấn đề” trong quá trình
dạy học. Theo tác giả, thông qua các biện pháp này sẽ kích thích năng lực sáng tạo, nhận
thức tích cực của học sinh. Do đó, sẽ nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử nói riêng
và quá trình dạy học nói chung.
2.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
Trước hết, là nguồn tài liệu giáo dục học
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6. Đóng góp của đề tài
- Tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc nghiên cứu kỹ năng nhận thức
tích cực cho học sinh trong quá trình DHLS ở trường phổ thông.
- Xác định được nội dung các kỹ năng nhận thức tích cực cho HS.
- Đề xuất được các biện pháp nhằm rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho
7
7
HS trong DHLS ở trường THPT.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú thêm lý luận về kỹ
năng nhận thức tích cực của HS trong dạy học lịch sử.
- Đề xuất được nội dung và biện pháp rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho
HS trong DHLS ở trường THPT.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đối với GV: có thể vận dụng các biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện kỹ năng
nhận thức tích cực cho HS trong quá trình học tập một cách toàn diện, nâng cao hiệu
quả DHLS ở trường THPT.
- Đối với HS: góp phần tạo hứng thú học tập, phát huy tính tích cực của HS, có
thêm mục đích phấn đấu trong học tập.
- Đối với bộ môn Lịch sử: đóng góp một cách nhìn nhận mới về bộ môn lịch sử
trước thực trạng học tập lịch sử hiện nay. Đồng thời đề xuất một số biện pháp nhằm
rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho HS.
8. Giả thuyết khoa học
Trong DHLS ở trường phổ thông, nếu vận dụng các biện pháp sư phạm nhằm
rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực theo những yêu cầu mà đề tài đưa ra sẽ góp
phần nâng cao chất lượng DHLS, giúp HS nhận thức đúng về bộ môn, từ đó tạo hứng
Nhận thức tích cực là quá trình nhận thức chủ động, tự giác của chủ thể,
nhằm chiếm lĩnh đối tượng nhận thức bằng sự nỗ lực cao của hoạt động trí tuệ và
sự huy động tối ưu các chức năng tâm lý, dựa trên nền tảng của hứng thú và khát
vọng sáng tạo.
∗ Nhận thức tích cực trong dạy học lịch sử
Nhận thức tích cực trong học tập lịch sử là quá trình nhận thức chủ động, tự
giác của người học, nhằm chiếm lĩnh tri thức lịch sử bằng sự nỗ lực cao của hoạt
động trí tuệ và tự huy động tối ưu các chức năng tâm lý dựa trên nền tảng của hứng
thú và khát vọng sáng tạo, phù hợp với đặc trưng, bản chất của tri thức lịch sử và
vận dụng sáng tạo tri thức đó vào cuộc sống.
1.1.1.2 Kỹ năng nhận thức tích cực và kỹ năng nhận thức tích cực trong học tập lịch sử
∗ Kỹ năng
Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến
thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế.
Từ điển Tâm lý học: kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức
về phương thức hoạt động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ
tương ứng.
9
9
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu bàn về kỹ năng và những luận điểm trên,
chúng tôi cho rằng:
Kỹ năng là khả năng, là năng lực vận dụng những kiến thức thu nhận được
trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế thông qua hệ thống của các hoạt động hoặc
các thao tác, nhằm đạt được hiệu quả tương ứng.
∗ Kỹ năng nhận thức và kỹ năng nhận thức tích cực
Kỹ năng nhận thức là khả năng tiếp thu và xử lý thông tin về các sự vật, hiện tượng
xung quanh thông qua hệ thống của các thao tác tư duy tương ứng.
Kỹ năng nhận thức tích cực là khả năng tiếp thu và xử lý thông tin về các sự vật,
hiện tượng thông qua hệ thống của các thao tác tư duy tích cực, tự giác, chủ động
nhằm chiếm lĩnh đối tượng nhận thức trên cơ sở của hứng thú và khát vọng sáng tạo.
được quy luật và bài học lịch sử.
- Về kỹ năng
Trước hết, kỹ năng nhận thức tích cực góp phần phát triển kỹ năng quan sát
(quan sát tranh, ảnh, bản đồ, lược đồ lịch sử), phát triển kỹ năng đánh giá (nhân vật,
sự kiện ) cho HS.
Thứ hai, phát triển các thành phần nhân cách của các em như sự chú ý, xúc cảm
LS, hứng thú, ý chí.
- Về tư tưởng, thái độ
Nhờ nhận thức tích cực trong học tập mà HS hứng thú với tiết học, môn học
hơn. Đó là những câu chuyện kể, những đoạn miêu tả tường thuật kết hợp với ngôn
ngữ giàu hình ảnh, sinh động của GV và sự uyển chuyển, nhuần nhuyễn trong các
thao tác, biện pháp sư phạm.
Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực còn bồi dưỡng cho HS lòng yêu nước,
tinh thần khâm phục, tự hào thông qua sự kiện LS cụ thể. Từ đó giúp các em có quan
điểm, thái độ đúng đắn về mỗi sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử.
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng việc rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho HS trong dạy học lịch
sử ở trường THPT hiện nay.
Chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát thực tiễn về việc rèn luyện kỹ năng nhận
thức tích cực của HS trong DHLS ở 4 trường THPT Nguyễn Bính, Ngô Quyền,
Nguyễn Huệ (Nam Định) và THPT số 2 Mường Khương (Lào Cai).
1.2.1.1 Về phía GV
1.2.1.2 Về phía HS
1.2.2. Nguyên nhân và định hướng khắc phục những hạn chế
Chương 2
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG NHẬN THỨC TÍCH CỰC
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT –
YÊU CẦU VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
2.1 Những yêu cầu cơ bản của việc rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực
11
2.3.1.1 Luôn tạo “tình huống có vấn đề” và kích thích hứng thú nhận thức tích cực cho HS
Tình huống có vấn đề được hình thành khi trình bày các ý kiến khác nhau để HS
tự phân tích đánh giá hoặc chỉ ra sự mâu thuẫn, xung đột để HS tự tìm thấy con
đường giải quyết nó. Trong DHLS, muốn tạo được tình huống có vấn đề, trước hết
GV cần phải dẫn dắt HS đến chỗ khiến họ thấy cần thiết phải hoàn thành bài làm
bằng những biện pháp và cách thức khác nhau như: sử dụng lời nói sinh động, giàu
12
12
hình ảnh gây cảm xúc và hứng thú HS khi dẫn dắt vấn đề, nêu vấn đề của bài hoặc
của mục; sử dụng tư liệu lịch sử, hình ảnh trực quan khi nêu vấn đề; sử dụng câu hỏi
có tính vấn đề
Theo GS.TS. Nguyễn Thị Côi: trong DHLS, “tình huống có vấn đề” thường
được hình thành ở các trường hợp:
+ Thứ nhất, khi GV đưa ra các ý kiến khác nhau để HS tự phân tích, đánh giá
tìm ra ý kiến đúng.
+ Thứ hai, khi GV hướng dẫn HS nêu ra mâu thuẫn, xung đột về kiến thức để
các em tự tìm ra con đường giải quyết.
+ Ngoài ra, trong sự vận động của lịch sử bản thân nó đã có những tình huống
diễn ra, người học cần phải giải thích để hiểu thấu đáo như (tại sao? Vì sao? )
Như vậy, với việc đặt HS vào “tình huống có vấn đề” ngay từ đầu, GV đã định
hướng cho HS tập trung vào kiến thức trọng tâm của tiết dạy, HS gặp phải “trở ngại”
(tình huống có vấn đề), từ đó tạo ra “xung đột”, “mâu thuẫn” giữa những kiến thức
“đã biết” với “chưa biết” nên các em phải chăm chú theo dõi, suy ngẫm hi vọng lý
giải được vấn đề. Do đó, sự chú ý theo dõi bài giảng ở khâu tiếp theo được tăng lên.
2.3.1.2 Tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
Tổ chức quá trình nhận thức cho HS, GV lựa chọn các PPDH nhằm phát huy tối
đa tích cực nhận thức của người học, tạo ra hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy học.
Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy: hiệu quả học tập của
con người phụ thuộc vào số lượng các giác quan mà người học sử dụng trong quá
trình nhận thức. Khi người học hoạt động tích cực, chủ động trong quá trình nhận
Trong quá trình tiếp nhận, lựa chọn tư liệu để tìm hiểu và nhận thức sự kiện lịch
sử thông qua nghe giảng, đọc SGK, đọc tài liệu tham khảo nhằm giải quyết vấn đề
đã được đạt ra từ đầu bài học. HS phải hình thành và rèn luyện một loạt các kỹ năng
nhận thức cơ bản dưới đây:
a. Kỹ năng so sánh, đối chiếu
b. Kỹ năng ghi nhớ
c. Kỹ năng phán đoán, suy luận
2.3.2.3 Kỹ năng khái quát hóa, trừu tượng hóa trong học tập lịch sử
2.3.2.4 Kỹ năng đánh giá và vận dụng tri thức lịch sử vào thực tiễn cuộc sống.
Chương 3
CÁC BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG NHẬN THỨC TÍCH CỰC CHO
HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
TỪ 1945 ĐẾN 1954 – CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN
3.1. Vị trí và nội dung cơ bản của phần Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954,
lớp 12 THPT – chương trình chuẩn
3.1.1. Vị trí
3.1.2. Mục đích
∗ Về kiến thức
∗ Về kỹ năng
∗ Về tư tưởng, thái độ
14
14
3.1.3. Nội dung kiến thức cơ bản của LSVN từ 1945 đến 1954.
+ Trên mặt trận quân sự
+ Trên mặt trận kinh tế - tài chính, văn hóa, giáo dục
+ Trên mặt trận chính trị - ngoại giao
3.2. Các biện pháp rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho HS trong
DHLS Việt Nam từ 1945 đến 1954
3.2.1. Rèn luyện kỹ năng xác định tình huống có vấn đề và kích thích hứng
thú học tập lịch sử của HS
có những thuận lợi và khó
khăn gì?
2.Vì sao nói: Nước
VNDCCH sau cách mạng
tháng Tám như đứng trước
- Tình huống
đột biến
+ Tình huống
này có thể kết
hợp với việc dẫn
dắt bài mới của
GV.
+ Để chuẩn bị
cho HS tìm hiểu
mục I “Tình hình
nước ta sau cách
15
15
1946” tình thế “ngàn cân treo sợi
tóc”?
mạng tháng Tám
năm 1945”
Xây dựng chính quyền cách
mạng và giải quyết nạn đói,
nạn dốt và khó khăn về tài
chính
? Đảng và Chính phủ đã
thực hiện những biện pháp
gì để xây dựng chính quyền
cách mạng?
Chiến dịch Việt Bắc
? Tại sao nói chiến dịch Việt
Bắc thu - đông năm 1947 là
cuộc phản công lớn đầu tiên
ta giành thắng lợi, buộc
Pháp phải thay đổi chiến
lược từ “đánh nhanh, thắng
nhanh” sang “đánh lâu
dài”?
Tình huống
lựa chọn
GV có thể kết
hợp với dẫn dắt
HS để chuẩn bị
học mục mới.
? Cuộc kháng chiến toàn
dân, toàn diện của ta được
đẩy mạnh như thế nào từ sau
chiến thắng Việt Bắc thu –
16
16
đông năm 1947?
Chiến dịch Biên giới thu –
đông năm 1950
? Tại sao đến năm 1950, ta
chủ động mở chiến dịch
Biên giới?
Tình huống
xung đột
+ Tình huống
biến
+ Dẫn dắt vào
bài mới
? Sau chiến thắng Biên giới
thu – đông năm 1950, thế
chủ động đánh địch của ta
trên chiến trường chính Bắc
Bộ đã diễn ra như thế nào?
GV sử dụng tình
huống này để
dẫn dắt vào mục
IV. Những chiến
dịch tiến công
giữ vững quyền
chủ động trên
chiến trường,
17
17
Bài 20 “Cuộc
kháng chiến
toàn quốc
chống TD
Pháp kết
thúc (1953 -
1954)”
?
1.Vì sao Pháp – Mỹ lại đề ra
kế hoạch Nava? Kế hoạch
này được triển khai như thế
nào
bước đầu làm phá sản Kế
hoạch Nava như thế nào?
Tình huống
đột biến
Dẫn dắt HS tìm
hiểu kiến thức
mục I của bài.
18
18
Mục II. Cuộc Tiến công
chiến lược Đông – Xuân
1953-1954 và chiến dịch
Điện Biên Phủ năm 1954.
? 1. Kế hoạch Nava đã gây
cho ta khó khăn gì?Trước
âm mưu mới của Pháp – Mỹ,
ta đã đối phó như thế nào?
2. Vì sao Pháp – Mỹ lại chọn
ĐBP để xây dựng thành tập
đoàn cứ điểm mạnh nhất
Đông Dương? Tập đoàn cứ
điểm của Pháp được xây dựng
như thế nào?
Mục II.2 Chiến dịch lịch sử
Điện Biên Phủ (1954)
?
Vì sao ta và địch đều chọn
Điện Biên Phủ làm điểm
quyết chiến chiến lược
Tình huống
19
19
Qua bảng thống kê cho thấy, không phải nội dung kiến thức lịch sử nào cũng có
thể xây dựng tình huống có vấn đề. Lựa chọn nội dung kiến thức lịch sử để xây dựng
tình huống có vấn đề phải phù hợp với thời gian dạy học trên lớp và góp phần gây
hứng thú học tập cho HS, GV phải linh hoạt và sáng tạo trong việc lựa chọn nội dung
lịch sử để xây dựng tình huống có vấn đề hiệu quả nhất trong việc phát huy nhận
thức tích cực cho HS.
Thứ hai: Tổ chức, hướng dẫn HS giải quyết vấn đề
Thứ ba: GV dẫn dắt HS kết thúc vấn đề.
3.2.2. Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong quá trình giải
quyết nhiệm vụ bài học
3.2.2.1 Sử dụng tranh ảnh kết hợp với miêu tả, tường thuật.
Tranh ảnh LS đóng vai trò quan trọng đối với bài học LS, vì thế tất cả các bài
học nghiên cứu kiến thức mới trong SGK đều có. “Tranh ảnh lịch sử được trình bày
với tư cách minh họa cho kênh chữ, đồng thời là nguồn cung cấp thông tin cho sự
kiện được nhắc tới trong SGK”, góp phần làm phong phú, sinh động, hấp dẫn cho bài
giảng của GV. Bằng ngôn ngữ trong sáng, gợi cảm, giàu hình ảnh, việc miêu tả,
tường thuật, nêu đặc điểm kết hợp với đồ dùng trực quan sẽ giúp các em có biểu
tượng rõ ràng, là cơ sở của việc tìm tòi, suy nghĩ, rút ra kết luận. Đồng thời giáo dục
tình cảm đạo đức cho HS.
3.2.2.2 Sử dụng lời nói sinh động, giàu hình ảnh và gây xúc động cho học sinh.
Để trình bày có hình ảnh, GV còn phải nắm vững kiến thức khoa học, sử dụng
tốt, đa dạng, phong phú các tài liệu như: đoạn trích trong các tác phẩm lịch sử, văn
học, hay đồ dùng trực quan
Ví như trong Bài 18 Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực
dân Pháp (1946 – 1950), “Đường số 4” được nhắc đến rất nhiều lần, nó còn được coi là
“con đường chết” của địch. Nếu chỉ nêu tên như vậy, thì đối với HS Đường số 4 cũng chỉ
bình thường như bao con đường khác, biểu tượng về Đường số 4 sẽ không có, nghèo nàn,
đơn điệu và bài học ở lớp sẽ không sinh động.
lượng căn bản. Khi Pháp đã cố ý gây chiến tranh, chúng ta không thể nhịn được nữa
thì cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu”.
3.2.2.5 Sử dụng phương pháp đóng vai
Theo Từ điển Tiếng việt, Hoàng Phê định nghĩa: “Đóng vai là thể hiện nhân vật
trong kịch bản lên sân khấu hay màn ảnh bằng cách hành động, nói năng như thật”
Hay “Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách
ứng xử nào đó trong một tình huống giả định”.
Chúng tôi xin đề xuất 2 hình thức đóng vai có thể đưa vào dạy học lịch sử như sau:
Một là, đóng vai tình huống
Hai là: đóng vai nhân vật lịch sử.
3.2.3. Hướng dẫn học sinh tự củng cố kiến thức đã học bằng sơ đồ tư duy
Một trong những định hướng giúp HS học tập tích cực thông qua dạy - học bằng
21
21
SĐTD là kỹ năng ghi chép và hệ thống hóa lại kiến thức. Trong quá trình học tập lịch sử
nói riêng, việc ghi chép có vai trò quan trọng, bởi vì “nếu không ghi chép HS sẽ quên 50
% bài học trong 24h, quên 80% trong vòng 2 tuần và quên tới 95% trong vòng 1 tháng”
Trong DHLS, nếu GV hướng dẫn HS biết tự củng cố kiến thức bằng sơ đồ tư
duy sẽ “giúp các em ghi nhớ tốt hơn; biết cách sắp xếp thông tin và ý tưởng một
cách khoa học, hệ thống hơn; kích thích trí tưởng tượng, óc sáng tạo của các em.
Thay vì những gạch đầu dòng nhàm chán, ghi nhớ bằng một sơ đồ, bản đồ với những
hình ảnh và màu sắc sinh động sẽ giúp HS không còn kém tập trung, diễn đạt lủng
củng hay nhớ trước quên sau nữa”
Như vậy, sử dụng SĐTD trong dạy học là điều cần thiết, nó cho phép HS nắm
được những nội dung cơ bản của bài học, khái quát, hệ thống kiến thức nhanh chóng
và hiểu được bảng tóm tắt nội dung thuận tiện cho HS trong quá trình ôn tập cho
kiểm tra và thi.
3.2.4 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu, tham khảo các nguồn tài liệu liên quan
đến chủ đề
Thứ nhất, Tài liệu lịch sử.
Thực nghiệm 44 0 4 5 11 15 7 2
Đối chứng 45 2 8 9 12 10 4 0
Bảng 2
Lớp
Số
lượng
HS
Giỏi Khá Trung bình Yếu- kém
SL % SL % SL % SL %
Thực nghiệm 44 9 20.45 26 59.09 9 20.45 0 0
Đối chứng 45 4 8.88 22 48.88 17 37.77 2 4.44
Bảng 3: Biểu đồ kết quả thực nghiệm
Nhìn vào bảng 1, bảng 2 và bảng biểu đồ kết quả thực nghiệm, chúng tôi nhận
thấy như sau:
Điểm giỏi ở lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng: 11,57%
Điểm khá ở lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng: 10,21%
Điểm trung bình ở lớp thực nghiệm giảm so với lớp đối chứng: 17,32%
Điểm yếu ở lớp thực nghiệm không có, lớp đối chứng là: 4,44%
Thông qua việc xử lý số liệu thu được về kết quả thực nghiệm sư phạm, chúng
tôi nhận thấy chất lượng học tập của HS ở lớp tiến hành thực nghiệm cao hơn HS lớp
đối chứng.
Điều đó chứng tỏ rằng hình thức và biện pháp sư phạm mà chúng tôi đưa ra
23
23
trong Luận văn có tính khả thi. Kết quả thực nghiệm là cơ sở để khẳng định việc rèn
luyện KNNT tích cực cho HS trong dạy học LSVN mang lại hiệu quả cao, góp phần
đổi mới phương pháp dạy và học lịch sử hiện nay.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Môn Lịch sử giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục HS ý thức, phát triển
tâm lực và nhân cách con người toàn diện. Vì vậy, đổi mới PPDH, sử dụng các
các nhiệm vụ đặt ra cho mình. Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho HS góp phần
thực hiện chủ trương nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học nói chung,
trong DHLS nói riêng.
Từ kết quả nghiên cứu của luận văn, chúng tôi xin kiến nghị như sau:
Thứ nhất, cần thay đổi và nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý giáo dục về vai
trò, ý nghĩa của bộ môn, đối xử công bằng với bộ môn, tạo điều kiện về cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy học, tài liệu tham khảo và ủng hộ tinh thần cho GV mạnh dạn
thực hiện ý tưởng sư phạm của mình.
Thứ hai, GV ở các trường THPT cần đổi mới tư duy, chuyển hướng dạy học từ
trọng tâm trang bị kiến thức sang hình thành và rèn luyện các kỹ năng nhận thức một
cách tích cực, phát triển năng lực cho HS. Trước khi tiến hành rèn luyện các kỹ năng
nhận thức cho HS, GV cần nhận thức được tầm quan trọng của các khâu, các phương
pháp trong quá trình dạy học và tự trau dồi kiến thức chuyên môn.
Thứ ba, để khơi dậy được niềm yêu thích học tập bộ môn ở HS, công việc quan
trọng và cấp bách nhất là GV cần bồi dưỡng ý thức tự rèn luyện kỹ năng, nghiệp vụ
sư phạm. Các Sở GD – ĐT các tỉnh (nhất là các tỉnh miền núi) cần tường xuyên tổ
chức các đợt tập huấn để trang bị cho GV lý luận về đổi mới các phương pháp dạy
học gây hứng thú học tập lịch sử cho các em. Có như vậy, chất lượng và hiệu quả dạy
– học lịch sử sẽ được cải thiện.
Thứ tư, để rèn luyện KNNT tích cực có hiệu quả, bản thân mỗi HS cần thay đổi
phương pháp học tập của mình, cần thường xuyên trau dồi và rèn luyện bản thân để
25
25