Xây dựng và sử dụng phương tiện dạy học kỹ thuật số trong dạy học sinh học lớp 6, trung học cơ sở - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HỒNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG PHƢƠNG TIỆN
DẠY HỌC KỸ THUẬT SỐ TRONG DẠY HỌC
SINH HỌC LỚP 6, TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM SINH HỌC
HÀ NỘI - 2013

1
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT BGĐT
Bài giảng điện tử
CNTT
Công nghệ thông tin
ĐC
Đối chứng
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
KBGA
Kịch bản giáo án
KTS
Kỹ thuật số
PHT
Phiếu học tập
PMCC
Phần mềm công cụ
PMDH
Phần mềm dạy học
PPDH

2

DANH MỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 2.1: Tổng hợp các PTDH kỹ thuật số đã sưu tầm và xây dựng
38
Bảng 2.2: Qui trình sử dụng PTDH KTS để tổ chức các hoạt động
nhận thức cho HS

49
Bảng 3.1: Tần suất điểm các bài kiểm tra trong TN
63
Bảng 3.2: Tần suất hội tụ tiến điểm của các bài kiểm tra trong TN
64
Bảng 3.3: Kiểm định
X
theo tiêu chuẩn U kết quả kiểm tra trước TN
65
Bảng 3.4: Phân tích phương sai kết quả các bài kiểm tra trong TN.
66
Bảng 3.5: Tần suất điểm các bài kiểm tra sau TN
68
Bảng 3.6: Tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra sau TN.
69
Bảng 3.7: Kiểm định
X
theo tiêu chuẩn U kết quả kiểm tra sau TN
70

Trang
Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa PTTQ trong mối quan hệ chặt chẽ
với các yếu tố cấu trúc khác của quá trình dạy học

12
Hình1.2: Sơ đồ vai trò nói truyền của PTTQ giữa thầy giáo và học
sinh

19
Hình 2.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp
dạy học

24
Hình 2.2: Sơ đồ giới thiệu các nhóm sinh vật và đặc điểm chung của cơ
thể sống

33
Hình 3.1. Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra trong thực nghiệm
64
Hình 3.2: Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra trong TN
65
Hình 3.3: Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra sau TN
68
Hình 3.4: Đồ thị tần suất điểm của các bài kiểm tra sau TN
69
6
1.1.1. Các khái niệm có liên quan đến đề tài
6
1.1.2. Cơ sở lý luận của phương tiện dạy học trong lý luận dạy học
13
1.1.3. Tình hình nghiên cứu và sử dụng PTTQ trong dạy học Sinh
học ở Việt Nam

19
1.2. Cơ sở thực tiễn
21
1.2.1. Điều tra thực trạng trang bị các thiết bị kỹ thuật dạy học phục
vụ cho việc sử dụng các PTDH kĩ thuật số (như máy vi tính, đầu đĩa
DVD, tivi, radio, máy chiếu, mạng internet…) 21
1.2.2. Điều tra phương pháp sử dụng các PTDH kĩ thuật số trong dạy
học SH 6

22
1.2.3. Điều tra mức độ sử dụng các PTDH kĩ thuật số trong dạy học
sinh học lớp 6

22
1.2.4. Điều tra nhu cầu của GV về các PTDH kĩ thuật số trong dạy
học sinh học lớp 6

23
Kết luận chương 1

40
2.2.5. Thiết kế KBGA để chỉ định việc nhập liệu thông tin vào phần
mềm PowerPoint hình thành BGĐT

43
2.3. Qui trình sử dụng PTDH KTS để tổ chức các hoạt động nhận
thức cho HS

49
2.4. Một số ví dụ về qui trình sử dụng PTDH KTS trong dạy học Sinh
học lớp 6

52
Kết luận chương 2
60
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
61
3.1. Mục đích thực nghiệm
61
3.2. Nội dung thực nghiệm
61
3.3. Phương pháp thực nghiệm
61
3.4. Kết quả thực nghiệm
62
3.4.1. Phân tích kết quả các bài kiểm tra trong thực nghiệm
62
3.4.2. Phân tích kết quả các bài kiểm tra sau thực nghiệm
68
3.4.3. Đánh giá về mặt tâm lý sư phạm đối với học sinh

nông nghiệp, lâm nghiệp được học trong môn công nghệ ở lớp 7 và lớp 9. [15]
1.2. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học
Từ thập niên 90 của thế kỉ trước, vấn đề ứng dụng CNTT vào dạy học là
một chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành
động trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI. Ngoài ra, UNESCO còn dự báo:
CNTT sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản vào đầu thế kỉ XXI.
Trước tình hình CNTT với giáo dục trên thế giới như vậy, Nghị quyết
TW2, khóa VIII đã được cụ thể hóa bằng Chỉ thị 58-CT/TW (17/10/2000) của
Bộ Chính trị, nội dung Chỉ thị có đoạn: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong
công tác GD & ĐT ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình thức
đào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học của toàn xã hội”.
Luật giáo dục nước CHXHCN Việt Nam được Quốc hội thông qua
tháng 12 năm 1998 tại mục 2 trong điều 4 cũng nêu rõ :“ Phương pháp giáo
dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tư duy sáng tạo của người
học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập, ý chí vươn lên”.
Như vậy, ứng dụng CNTT vào giáo dục, tăng cường vận dụng các
phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn sinh học theo hướng tích cực hóa
hoạt động học tập của học sinh là một xu thế mới của nền giáo dục Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai lâu dài. [3]

7
1.3. Xuất phát từ nguyên tắc vận dụng PPDH không thể tách rời PTDH
PTDH ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới PPDH, đặc
biệt là những PTDH kĩ thuật số trong thời đại phát triển CNTT. PTDH giúp
người thầy tiến hành bài học không phải bắt đầu bằng giảng giải, thuyết trình,
độc thoại,… mà bằng vai trò đạo diễn, thiết kế, tổ chức, kích thích, trọng tài,
cố vấn,… trả lại cho người học vai trò chủ thể, không phải học thụ động bằng
nghe thầy giảng, mà học tích cực bằng hành động của chính mình.
1.4. Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 6
Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát

và động, âm thanh, phim, video,… tạo thuận lợi cho GV tổ chức những hoạt
động tìm tòi và phát hiện kiến thức cho HS. [2] [3] [15]
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: "Xây dựng và sử
dụng phƣơng tiện dạy học kỹ thuật số để dạy học sinh học lớp 6, trung
học cơ sở”
2. Mục đích nghiên cứu
Sưu tầm, tuyển chọn, xử lí sư phạm và kĩ thuật các hình ảnh tĩnh, ảnh
động, phim video… (gọi chung là các PTDH ở dạng kỹ thuật số) phù hợp với
nội dung dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học SH 6
3. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu: Hệ thống phương tiện dạy học kỹ thuật số để dạy
học sinh học 6 ở trường THCS.
3.2. Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học sinh học 6 ở trường THCS.
4. Giả thuyết khoa học
Xây dựng được hệ thống phương tiện dạy học kỹ thuật số phù hợp với
nội dung SH 6 và xác định được phương pháp sử dụng hợp lý sẽ góp phần
nâng cao chất lượng dạy học môn học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
 Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài.

9
 Nghiên cứu thực trạng dạy học SH ở trường THCS.
 Xác định hệ thống nguyên tắc sư phạm chỉ đạo quá trình xây dựng các
phương tiện dạy học kỹ thuất số.
 Xác định các quy trình sưu tầm và xây dựng các phương tiện dạy học kỹ
thuật số.
 Xác định tổ hợp phương pháp sử dụng phương tiện dạy học kỹ thuật số
theo hướng tích cực.
 Thiết kế kịch bản một số giáo án thực nghiệm để chỉ định việc nhập liệu
thông tin vào phần mềm công cụ (Powerpoint) hình thành BGĐT.

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các khái niệm có liên quan đến đề tài
1.1.1.1. Khái niệm phương tiện dạy học [1]
Phương tiện dạy học là các phương tiện được sử dụng trong qua trình dạy
học, bao gồm các đồ dùng dạy học, các trang thiết bị kỹ thuật dùng trong dạy
học, các thiết bị hỗ trợ và các điều kiện cơ sở vật chất khác.
Theo Lotsklinbo: “PTDH là tất cả các phương tiện vật chất cần thiết
giúp GV hay HS tổ chức và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dục
và giáo dưỡng ở các cấp học, ở các lĩnh vực, các môn học để có thể thực hiện
được những yêu cầu của chương trình giảng dạy, để làm dễ dàng cho sự
truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo”.
PTDH là các phương tiện được sử dụng trong QTDH, bao gồm các đồ
dùng dạy học, các trang thiết bị kỹ thuật dùng trong dạy học, các thiết bị hỗ
trợ và các điều kiện cơ sở vật chất khác.
Để đạt được mục đích trong quá trình dạy học, việc vận dụng các
phương pháp dạy học không thể tách rời việc sử dụng các phương tiện dạy
học, trong đó có các PTTQ. Phương tiện trực quan thuộc phạm trù phương
pháp, vì ngoài nó ra phương pháp còn bao gồm theo nghĩa hẹp là cách thức
hành động cụ thể, thủ pháp cụ thể trong dạy học và hình thức tổ chức dạy học.
Do đó, khi nói đến phương pháp dạy học là nói đến PTTQ và cách thức sử
dụng nó trong tất cả các khâu của quá trình dạy học.
1.1.1.2. Khái niệm phương tiện trực quan [1]
PTTQ là khái niệm phụ thuộc khái niệm phương tiện dạy học. PTTQ
được hiểu là một hệ thống bao gồm mọi dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kỹ thuật từ
đơn giản đến phức tạp dùng trong quá trình dạy - học với tư cách là mô hình
đại diện cho hiện thực khách quan về sự vật hiện tượng, làm cơ sở và tạo điều

12
kiện thuận lợi cho việc lĩnh hội kiến thức, kỹ năng kỹ xảo về đối tượng đó cho

giới hiện thực ( mô hình, maket, vật gỗ, tranh ảnh ).
 Các phương tiện để tái tạo các hiện tượng tự nhiên hoặc các sản phẩm
lao động ( các dụng cụ thí nghiệm, hoá chất, máy móc )
 Các phương tiện mô tả đối tượng và hiện tượng bằng lời nói, bằng kí
hiệu, bằng ngôn ngữ tự nhiên và nhân tạo ( sách giáo khoa, sách hướng
dẫn, tài liệu tham khảo ).
 Các phương tiện kĩ thuật để truyền tải thông tin. ( máy chiếu, băng hình,
computer ).
Trong dạy học sinh học, có thể phân loại các PTTQ như sau:
1- Các vật tự nhiên: mẫu sống, mẫu ngâm, mẫu nhồi, tiêu bản khô, tiêu
bản hiển vi v.v Các mẫu vật thật là nguồn cung cấp những hình tượng cụ thể,
chính xác và gần gũi với học sinh về hình dạng, kích thước, màu sắc và cấu
tạo ngoài. Song việc nghiên cứu cấu tạo trong, các cơ quan bộ phận nhỏ lại
gặp khó khăn trong việc quan sát và phân biệt.
2- Các vật tượng hình: mô hình, tranh vẽ, ảnh, phim, phim đèn chiếu,
phim video, phần mềm dạy học, sơ đồ, biểu đồ:
- Mô hình: là những vật thay thế cho đối tượng nghiên cứu duới dạng các
biểu tượng trực quan được vật chất hoá hoặc mô tả các cấu trúc, những
hiện tượng, quá trình Mô hình còn cho phép mô tả sự vật, hiện tượng
trong không gian ba chiều, có thể tĩnh hoặc động làm cho quá trình nhận
thức được đầy đủ trực quan hơn.
- Tranh, ảnh: Mô tả các sự vật, hiện tượng, cấu trúc, quá trình ở trạng thái
tĩnh, có thể được chụp trực tiếp hoặc mô phỏng lại qua sơ đồ hình vẽ.
- Băng, đĩa hình: Miêu tả sự vật, hiện tượng ở trạng thái động, diễn cảm
chính xác và sống động.
- Bản trong: là các hình ảnh, sơ đồ về cấu trúc, quá trình được ghi lên
một bản trong, sau đó được chiếu lên màn hình qua máy chiếu Overhead.

14
- PMDH: có khả năng cung cấp thông tin dưới nhiều dạng khác nhau nhờ

tự học thông qua sử dụng PMDH - (dạy học không có thầy giáo). Tuy nhiên, ở
những giai đoạn nhất định vẫn cần có sự tham gia của GV, mặc dù khác nhau
ở hình thức tổ chức nhưng ở cả 2 kiểu dạy học này PTTQ đều có những tác
động đặc biệt quan trọng đến kết quả cuối cùng của quá trình dạy học.
Vai trò của PTTQ là hỗ trợ cho GV trên lớp, các PTTQ được thiết kế để
có thể nâng cao và thúc đẩy việc học tập, lĩnh hội tri thức của HS và hỗ trợ đắc
lực cho thầy giáo. Nhưng hiệu quả của chúng lại phụ thuộc nhiều vào khả
năng sư phạm của thầy giáo. PTTQ cũng được sử dụng có hiệu quả trong
trường hợp dạy học không có GV, đó là những sản phẩm nghiên cứu ứng dụng
CNTT là những PMDH thông minh. Nó có thể giúp cho HS tự học ở mọi nơi,
mọi lúc; giúp cho HS tin tưởng vào khả năng nhận thức của mình trong quá
trình học tập. Trong trường hợp này, nhiệm vụ dạy - học ta có thể hoàn toàn
giao cho PMDH. Tuy vậy, không có nghĩa là công nghệ dạy học ngày càng
phát triển sẽ có thể thay thế hoàn toàn công việc của thầy giáo. Các PMDH
này có thể giúp cho GV trở thành những người tổ chức hoạt động nhận thức,
điều hành việc học tập của HS một cách sáng tạo hơn.
Đối với trẻ em khuyết tật, thì PTTQ lại càng chiếm vị trí quan trọng, ví
dụ trẻ em chậm phát triển trí tuệ cần có các khoá học được cấu trúc cao hơn
tuỳ khả năng tiếp thu và tổ hợp các thông tin vào bộ nhớ có nhiều hạn chế.
Chúng cần được cung cấp các thông điệp thuộc phạm vi của bài học được lặp
đi lặp lại nhiều lần để chúng có thể phát triển các vấn đề đã được học. Còn các
HS nghe kém và nhìn kém cần nhiều tư liệu học tập khác nhau. Phải tăng
cường các phương tiện nghe cho các em nhìn kém hơn bình thường. PTTQ có
vai trò cực kỳ quan trọng đối với trẻ em khuyết tật, nó không những giúp cho
các em học hỏi được thêm nhiều tri thức mà còn giúp các em hoà nhập được
với cộng đồng không bị mặc cảm.

16
Trong những năm gần đây, trên thế giới đã có những công trình khoa học
xem xét quá trình dạy học dưới góc độ định lượng bằng cách sử dụng các công

pháp và hình thức tổ chức dạy - học, tăng nhịp độ của quá trình dạy - học, tạo
nên phong cách mới và trạng thái tâm lý mới. Nhưng dù PTTQ có hiện đại đến
đâu vẫn chỉ là công cụ trong tay người GV, giúp họ thực hiện có hiệu quả quá
trình dạy - học. Trong dạy - học, GV cần tính đến mối quan hệ giữa PTTQ
trong mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố cấu trúc khác của quá trình dạy -
học theo sơ đồ sau: Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa PTTQ trong mối quan hệ chặt chẽ với
các yếu tố cấu trúc khác của quá trình dạy học
Mỗi môn học đều cần có các PTTQ phù hợp, đặc biệt là trong thế kỉ 21
này với sự bùng nổ của thông tin thì PTTQ lại càng có vai trò quan trọng hơn.
Đối với sinh học - là khoa học nghiên cứu thế giới sinh vật, nếu chỉ giải thích
bằng lời và với sự hiểu biết của mình thì chưa đủ sức để thuyết phục. Vì vậy,
cần phải có những PTTQ để giúp HS quan sát, phát hiện lại những sự kiện,
hiện tượng tự nhiên xảy ra trong thế giới sinh vật.
QTDH chỉ có ngôn ngữ và chữ viết thì người học sẽ thấy nội dung bài
học khô khan, buồn tẻ và nhàm chán. Điều đó ắt sẽ dẫn đến kết quả dạy và học
sẽ không cao.

18
Tích hợp đa phương tiện trong dạy học sẽ đem lại một kết quả là cùng
một nội dung, người học được tiếp nhận cùng một lúc các dạng thông tin từ
nhiều kênh khác nhau, tác động đồng thời vào các giác quan của người học
làm cho quá trình lĩnh hội kiến thức của người học trở nên nhanh và hiệu quả.
Thật vậy, kỹ thuật siêu liên kết (hyperlink) của CNTT đã giúp kết nối
mau lẹ nhiều cơ sở dữ liệu gồm mọi loại văn bản, đồ hoạ, âm thanh trở thành
nguồn PTDH đa năng và phong phú, và tăng tốc độ tương tác giữa người sử
dụng và nguồn tư liệu. Khi ngồi trước một máy tính có nối mạng là bạn được
ngồi trước một kho dữ liệu vô tận, bao gồm các cơ sở dữ liệu ghi trên máy tính

được về trực quan và đưa áp dụng nó một cách có ý thức vào quá trình dạy học.
Là người đầu tiên thiết lập nguyên tắc dạy học trực quan, một nguyên tắc cho đến
ngày nay vẫn được sử dụng rộng rãi và có ý nghĩa quan trọng trong quá trình dạy
học. Tuy nhiên, hạn chế của ông ở chỗ không phân biệt ranh giới rõ ràng giữa
cảm giác và tư duy trong nguyên tắc trực quan.
Cùng với quan niệm trên, Môngtenhơ (1533-1592), nhà Giáo dục Pháp
được coi là một trong những ông tổ sư phạm ở Châu Âu. Ông chủ trương
giảng dạy bằng hoạt động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với sự
vật trong đời sống hàng ngày.
Sự phát triển của nguyên tắc dạy học trực quan được gắn liền với tên tuổi
của G.Pestalossi (1746-1827) nhà Giáo dục học Thụy Sĩ. Cũng như J.A.
Cômenxki, G.Pestalossi xuất phát từ chỗ quan sát là cơ sở của mọi tri thức,
nhưng sự quan sát của G.Pestalossi nêu ra xuất phát từ cơ sở Tâm lý học. Trực
quan ở G.Pestalossi được xem là điểm tựa để biến những biểu tượng chưa rõ
ràng thành những biểu tượng rõ ràng, chính xác. Công lao to lớn của
G.Pestalossi là ở chỗ trong việc phát triển nguyên tắc trực quan, ông hướng tới
việc gắn liền tri giác cảm tính với sự phát triển của tư duy.
Sau G.Pestalossi, V.G.Belinxki (1811-1848) nhà Giáo dục Liên bang Nga là
người đã có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển lý thuyết trực quan trong

20
dạy - học. Cũng như G.Pestalossi, tư tưởng trực quan của V.G.Belinxki gắn liền
với tư tưởng dạy học phát triển. Dựa trên các quan điểm duy vật, V.G. Belinxki
xem các giác quan và bộ não như là hai lực lượng cần thiết cho nhau. Theo ông,
nhà sư phạm trong dạy học cần phải dựa trên những biểu tượng của trẻ em đã thu
nhận được trong quá trình quan sát thế giới hiện thực.
Nguyên tắc dạy - học trực quan sau này được K.Đ.Usinxki (1824-1870)
và các học trò của ông tiếp tục phát triển dựa trên cơ sở những thành tựu của
Tâm lý học và Sinh lý học. K.Đ.Usinxki đã cho cách giải thích mới trong dạy
học trực quan. Có thể nói đến K.Đ.Usinxki, nguyên tắc trực quan trong dạy

phục vụ cho đối tượng nhận thức nằm trong mối quan hệ nào? Với ý nghĩa
đó, A.N.Leonchep chia các tài liệu trực quan thành hai loại: Những tài liệu
trực quan dùng để mở rộng kinh nghiệm cảm tính, và những tài liệu trực
quan dùng để khám phá ra bản chất của hiện tượng nghiên cứu, giải thích các
định luật, dẫn dắt HS đến những khái niệm khoa học. Trong trường hợp này,
bản thân tài liệu trực quan không phải chỉ là một phương tiện lĩnh hội tri thức
trừu tượng nào đó.
Trong quá trình dạy - học, nhiều tác giả cho rằng cần thiết có sự kết hợp
giữa việc trình bày PTTQ với lời nói của GV. Qua nghiên cứu bản chất của sự
phối hợp L.V.Dancốp đã đưa ra bốn hình thức phối hợp:
1. HS tự lực rút ra tri thức từ đối tượng trực quan, lời nói của GV không
phải là nguồn tri thức mới.
2. Lời nói của GV giúp HS hiểu được những mối quan hệ trong các hiện
tượng mà HS nhận thấy trong quá trình quan sát.
3. HS thu nhận tri thức mới qua lời nói của GV, trực quan có vai trò cụ thể
hóa hoặc để khẳng định tri thức mới.
4. GV thông báo những mối quan hệ giữa các hiện tượng rút ra kết luận
theo sự quan sát của HS.

22
Các hình thức phối hợp này được sử dụng trong những trường hợp khác
nhau phụ thuộc vào những nhiệm vụ dạy học cụ thể.
Có thể nhận thấy, cho đến những năm 60, vấn đề trực quan vẫn được hiểu
theo cách truyền thống. Trực quan trong dạy học là một nguyên tắc lý luận dạy
- học mà theo nguyên tắc này thì dạy - học phải dựa trên những hình ảnh cụ
thể được HS trực tiếp tri giác. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học
kỹ thuật, những tri thức lý thuyết ngày càng được đưa nhiều hơn vào chương
trình học tập. Mặc dù vậy, trực quan trong dạy học vẫn là một vấn đề đặc biệt
quan trọng trong việc nâng cao kết quả nhận thức của HS và chất lượng dạy
học ở nhà trường. Xét về bản chất, nhận thức dù ở mức độ nào cũng là sự phản

được khẳng định. PTTQ là những phương tiện chứa đựng và chuyển tải thông
tin nhằm đáp ứng các yêu cầu nhận thức, phát triển, giáo dục của quá trình sư
phạm; nhưng bản thân nó có giá trị dạy học cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc
vào trình độ sư phạm trong quá trình nghiên cứu xây dựng và sử dụng của
người GV. Nếu trong giờ học, PTTQ được sử dụng không hợp lý thì sẽ dẫn
đến những hậu quả xấu về mặt sư phạm và kinh tế. Chúng có thể phá vỡ cấu
trúc bài giảng, phân tán sự chú ý của HS, lãng phí thời gian và tiền của. Vì
vậy, một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu là việc nghiên cứu xây dựng
và sử dụng các PTTQ phải gắn liền với việc hướng dẫn sử dụng có hiệu quả
cho đội ngũ GV. Đây cũng chính là một vấn đề còn ít được quan tâm đầy đủ,
và là một khâu yếu nhất trong nhà trường phổ thông hiện nay.
Trong lý luận dạy học, quá trình dạy học là một quá trình truyền thông tin
bao gồm sự lựa chọn sắp xếp và truyền đạt thông tin trong một môi trường sư
phạm thích hợp, tối ưu cho người học. Trong bất kỳ tình huống dạy - học nào
cũng có một thông điệp truyền đi, thông điệp đó thường là nội dung của chủ
đề được dạy, cũng có thể là các câu hỏi về nội dung cho người học, và các
phản hồi từ người học, kể cả sự kiểm soát quá trình này về sự nhận xét đánh
giá các câu trả lời hay các thông tin khác. PTTQ chính là các cầu nối truyền
thông tin từ người thầy tới HS và ngược lại theo sơ đồ sau:

Trích đoạn Tỡnh hỡnh nghiờn cứu và sử dụng PTTQ trong dạy học Sinh Điều tra phương phỏp sử dụng cỏc PTDH kĩ thuật số trong dạy Điều tra nhu cầu của GV về cỏc PTDH kĩ thuật số trong dạy Nguyờn tắc thống nhất giữa mục tiờu – nội dung – PPDH Nguyờn tắc đảm bảo tớnh chớnh xỏc của nội dung dạy học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status