BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
_________________
Cao Hải Oanh
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lý.
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. THÁI KHẮC ĐỊNH
TN : Thực nghiệm
ĐC : Đối chứng
BTVN : Bài tập về nhà
TKHT : Thấu kính hội tụ
TKPK : Thấu kính phân kì
TK : Thấu kính
TNKQ : Trắc nghiệm khách quan
TNTL : Trắc nghiệm tự luận
THPT : Trung học phổ thông
SGK : Sách giáo khoa
CHTN : Câu hỏi trắc nghiệm
NXBGD : Nhà xuất bản giáo dục
TS : Tiến sĩ
NXBHN : Nhà xuất bản Hà Nội
PGS : Phó giáo sư
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bàn về phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp dạy học trong những
năm gần đây, chúng ta tốn không ít thời gian và giấy mực. Tuy nhiên trong thực tế,
phương pháp dạy học chưa thực sự trở thành một chìa khoá, một công cụ đắc lực để
giúp các thầy cô giáo trong giảng dạy mà phương pháp dạy học vẫn nằm trong chữ
nghĩa giấy tờ, nhiều khi đọc để hiểu được cũng không phải dễ, dẫn đến một thực
trạng khiến những người qua
n tâm đến vấn đề này không khỏi băn khoăn.
Nếu phương pháp dạy học cũ có một ưu điểm lớn là phát huy trí nhớ, tập cho
học sinh làm theo một điều nào đó, thì phương pháp mới vẫn cần những ưu điểm
trên. Song cái khác căn bản ở đây
vào giảng dạy chưa được quan tâm rộng rãi. Do đó, đề tài: “xây dựng và sử dụng
câu hỏi trắc nghiệm
trong dạy học chương “quang học” Vật lý lớp 11 nâng cao
nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập” là cần thiết trong giai đoạn
giáo dục hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích chủ yếu của đề tài là: “Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm trong dạy học
cụ thể từng bài của chương quang học lớp 11 nâng cao THPT và sử dụng câu hỏi
trắc nghiệm
trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập”.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: học sinh lớp 11 nâng cao trong quá trình học tập
chương quang học.
- Đối tượng nghiên cứu: quá trình dạy học hai chương quang học lớp 11 nâng
cao học kết hợp với việc lựa chọn câu hỏi trắc nghiệm hai chương “quang học”
nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh.
4. Giả thuyết khoa học
Xây dựng phương án dạy học, kết hợp với việc lựa chọn câu hỏi trắc nghiệm
hai chương “quang học” nhằm
phát huy tính tích cực, của học sinh trong học tập,
đồng thời nâng cao hiệu của việc dạy và học.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu phương án giảng dạy kết hợp với việc lựa chọn câu hỏi trắc
nghiệm hai chương “quang học” nhằm
phát huy tính tích cực của học sinh trong
khối 11 ở trường THPT Trần Hưng Đạo.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài có những nhiệm vụ cơ bản sau:
Đọc và xử lý thông tin, dữ liệu từ các nguồn tài liệu tham khảo.
- Nghiên cứu mục tiêu đổi mới trong dạy học nói chung và trong dạy học vật
lý nói riêng.
- Nghiên cứu các tài liệu lí luận dạy học nhằm tìm hiểu các quan điểm dạy học
hiện nay, tìm hiểu các phương pháp giảng dạy truyền thống, phương pháp giảng dạy
đổi mới và cơ sở của việc dạy học vật lý nhằm phát huy tính tích cực học tập của
học sinh.
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến cơ sở lí luận của phương pháp trắc
nghiệm.
8.2. Phương pháp điều tra thăm dò
:
- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình của hai chương “Quang Học”
lớp 11 nâng cao.
- Quan sát sư phạm tại một số trường THPT để đưa ra các nhận xét thực tiễn
về việc dạy và học hai chương này.
- Lấy ý kiến của các chuyên gia và các giáo viên trực tiếp giảng dạy về tính giá
trị của bộ câu hỏi trắc nghiệm trước khi áp dụng vào thực nghiệm sư phạm.
8.3. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành dạy học hai chương “Quang Học” lớp 11 nâ
ng cao theo hướng
phát huy tính tích cực học tập của học sinh với việc lựa chọn các câu hỏi trắc
nghiệm phù hợp.
- Đánh giá tính giá trị và hiệu quả bộ trắc nghiệm trong các phần của tiến trình
dạy học.
8.4. Phương pháp thống kê toán học
- Xử lý thống kê, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm.
Giáo viên quyết định quy trình
dạy học.
Bàn ghế được sắp xếp hướng về
phía bảng và giáo viên.
Học sinh không được tự do di
chuyển chỗ ngồi.
Phần thảo luận của học sinh
tương đương, thậm
chí nhiều hơn phần
giảng của GV.
Các hoạt động học tập được cá
nhân tiến hành hoặc thực hiện trong các
nhóm nhỏ.
Sử dụng nhiều loại tài liệu trong
dạy học và cho phép HS sử dụng các tài
liệu này một cách độc lập hay theo
nhóm.
Học sinh quyết định hướng đi
của bài học
thông qua sự hướng dẫn của
GV.
Bàn ghế trong lớp được sắp xếp
sao cho HS có thể hoạt động độc lập
hoặc nhóm được thuận lợi.
Học sinh có thể đi lại khi đang
học trong trường hợp cần thiết.
1.1.2. Cơ sở lí luận của việc đổi mới phương pháp dạy học vật lý
Điều 23, Luật Giáo dục quy định mục tiêu của giáo dục phổ thông là: "giúp
- Những hiểu biết cần thiết về phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô
hình hóa trong vật lý học.
- Những nguyên tắc cơ bản của các ứng dụng quan trọng nhất của vật lý trong
đời sống sản xuất.
Rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cơ bản sau đây:
- Các kĩ năng thu lượm thông tin về vật lý từ quan sát thực tế, thí nghiệm, điều
tra, sưu tầm tài liệu, tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng, khai thác
mạng internet...
- Các kĩ năng xử lí thông tin về vật lý như: xây dựng bảng, biểu đồ, và đồ thị,
rút ra kết luận bằng suy luận quy nạp, suy luận tương tự, khái quát hóa...
- Các kĩ năng truyền đạt thông tin về vật lý như: thảo luận khoa học, báo cáo
viết...
- Các kĩ năng quan sát
, đo lường, sử dụng các công cụ và máy móc đo lường
phổ biến và năng lực thực hiện những thí nghiệm vật lý đơn giản.
- Các kĩ năng giải các bài tập vật lí phổ thông.
- Các kĩ năng vận dụng những kiến thức vật lý để giải thích các hiện tượng đơn
giản và những ứng dụng phổ thông của vật lý học trong đời sống và
sản xuất.
- Các kĩ năng sử dụng các thao tác tư duy lôgic như phân tích, tổng hợp, quy
nạp, diễn dịch, trừu tượng hoá, khái quát hoá... và kĩ năng sử dụng phương pháp
thực nghiệm.
Góp phần xây dựng cho học sinh thế giới quan khoa học và đạo đức cách
mà tổ chức quá trình tái tạo ở học sinh.
Tri thức như phương tiện để tổ chức, điều khiển học sinh, xây dựng tri thức
ấy lần thứ hai cho bản thân học sinh.
Dạy học chỉ đạt hiệu quả cao khi phát huy được tính tích cực hoạt động của
học sinh.[19]
* Bản c
hất của hoạt động học
Chủ thể là học sinh, đối tượng là mục tiêu giáo dục, giáo dưỡng (lĩnh hội tri
thức, kĩ năng, kĩ xảo, hành vi và các dạng hoạt động nhất định).
Để hoạt động có hiệu quả người học phải tích cực h
ành động bằng ý thức tự
giác và năng lực trí tuệ của bản thân.
Hoạt động học là hoạt động hướng về sự biến đổi và phát triển của chính chủ
thể hoạt động.
Hoạt động học là hoạt động đư
ợc điều khiển một cách có ý thức, có mục
đích.
Hoạt động học còn hướng vào sự tiếp nhận chính phương thức hành
động.[18]
1.2.2. Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
* Tích cực hóa hoạt động nhận thức
Cần phân biệt khái niệm tính tích cực với khái niệm tính cực hoá. Nếu tính tích
cực là một phẩm chất của nhân cách, liên quan đến sự nỗ lực hoạt động của học
sinh, thì tích cực hoá lại là việc làm của người thầy.
Tích cực hoá là một tập hợp các hoạt động của thầy giáo và của các nhà giáo
dục nói chung, nhằm biến người học từ thụ động thành chủ động, từ đối tượng tiếp
- Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức.
+ Kết quả học tập
- Hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao.
- Ghi nhớ tốt những điều đã học.
- Vận dụng được kiến thức đã học vào thực tế.
- Phát triển tính năng động sáng tạo.
- Kết quả kiểm tra, thi cử tốt.[6]
* Sự cần thiết phải tích cực hóa hoạt động nhận thức
- Vấn đề phát huy tí
nh tích cực học tập của học sinh đã được đặt ra trong ngành giáo
dục Việt Nam từ những năm 1960. Ở thời điểm này, các trường sư phạm đã có khẩu
hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Trong cuộc cải cách giáo
dục lần thứ hai, năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong các phương hướng
cải cách, nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm
chủ đất nước. Từ đó,
trong nhà trường xuất hiện ngày càng nhiều tiết dạy tốt của các giáo viên giỏi, theo
hướng tổ chức cho học sinh hoạt động, tự lực chiếm lĩnh tri thức mới. Tuy vậy,
phương pháp dạy học (PPDH) ở trường phổ thông và phương pháp đào tạo giáo
viên ở trường sư phạm phổ biến vẫn là cách dạy thông báo kiến thức “đọc - chép”
hay còn được gọi là truyền thụ một chiều. P
PDH này dẫn đến sự thụ động của người
học, nặng về ghi nhớ lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành áp dụng…
- Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự thách thức của quá trình hội
nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao động có đủ phẩm
chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới. Người lao
động
phải có khả năng thích ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri
thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực tế, tạo ra những sản phẩm đáp ứng
- Hệ thống kiến thức phải được t
rình bày trong dạng vận động, phát triển và
mâu thuẫn với nhau.
- Ngoài ra, ta còn có thể tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh qua
nhiều biện pháp khác nhau như:
+ Thầy giáo, bạn bè động viên, khen thưởng khi có thành tích học tập tốt.
+ Luyện tập dưới các hình thức khác nhau, vận dụng kiến thức vào thực tiễn
các tình huống mới.
+ Kích thích tính tích cực qua thái độ, cách ứng xử giữa thầy giáo và học
sinh.
+ Phát triển kinh nghiệm sống của học sinh trong học tập.
+ Kiểm tra, đánh giá có tác dụng rất quan trọng trong việc phát huy tính tích
cực học tập của học sinh.[6]
* Tạo tình huống có vấn đề nhằm tạo hứng thú học tập
Để tạo được tâm lí hưng phấn, tích cực giải quyết vấn đề, cần làm cho học sinh
có những trạng thái tâm lí khác nhau. Để thuận tiện cho vận dụng vào việc soạn các
tình huống học tập nhằm tạo ra các trạng thái tâm lí đó, người ta có thể phân loại
như sau:
Tình huống lựa chọn: làm
cho học học sinh ở tình thế phải lựa chọn một
trong nhiều phương án khác nhau mà thoạt nhìn, phương án nào cũng có tính hợp lí
nhất định nhưng trong đó chỉ có một là phương án đúng. Tình huống này dẫn đến
việc lựa chọn mô hình.
Tình huống bất ngờ: làm cho học sinh không ngờ rằng các sự kiện lại xảy ra
trái với những suy nghĩ, những dự đoán “thông thường” của mình. Từ đó nảy sinh
độc lập, sản phẩm giống nhau.
- Hình thức 2: Nhiệm vụ thống nhất cho cả lớp, thực hiện công việc theo
nhóm, sản phẩm giống nhau.
- Hình thức 3: Mỗi nhóm thực hiện một nhiệm vụ riêng, sau đó lắp ráp kết quả
các nhóm thành sản phẩm chung duy nhất cho cả lớp.
- Hình thức 1 là hình thức tổ chức hoạt động học tập phổ biến nhất hiện na
y
trong giờ lên lớp môn vật lý. Để đạt được mục tiêu bài học, giáo viên có thể phân
chia thành nhiều mục tiêu bộ phận, sau đó giao cho học sinh thực hiện từng mục
tiêu, hoặc hướng dẫn học sinh thực hiện tuỳ theo nội dung của bài.
- Ưu điểm: của hình thức tổ chức hoạt động này là đảm bảo được thời gian của
tiến trình giờ học, giáo viên hoàn toàn chủ động t
heo quy trình đã chuẩn bị.
- Khuyết điểm: hình thức tổ chức này buộc phải di theo một trình tự cứng nhắc
nên khó phát huy được tính sáng tạo, giáo viên khó phát hiện những quan niệm sai
lệch của học sinh.
Không nên phân chia bài học ra thành các hoạt động quá nhỏ, quá chi tiết và
đừng gợi mở quá sát theo từng bước cụ thể. Nên tạo điều kiện không khí cụ thể để
học sinh có thể bộc lộ quan điểm
riêng của mình, sau đó khéo léo định hướng các
em có thể nắm chính xác kiến thức, nên khuyến khích khen thưởng kịp thời để động
viên các em tích cực học tập. Bên cạnh đó giáo viên tổ chức cho học sinh tự lực học
tập, tăng cường tính tích cực, chủ động, sáng tạo bằng các câu hỏi ứng dụng, liên hệ
với thực tiễn.
- Ở hình thức 2, lớp học được chia thành nhiều nhóm, các nhóm được giao
nhiệm vụ giống nhau. Các nhóm tiến hành t
hí nghiệm, độc lập trao đổi, thảo luận
y dựng hoặc bày tỏ những vấn đề chưa hiểu trong giờ lên lớp.
- Để hoạt động học tập phát huy đến mức cao nhất tính chủ động tích cực sáng
tạo của học sinh, giáo viên cần dựa và
o mục tiêu của bài học để đưa ra các hoạt
động, các hoạt động cần có mục tiêu cụ thể chi tiết, tiến trình tổ chức các hoạt động
phải phù hợp với logic của bài học và tiến trình khoa học xậy dựng kiến thức mới.
* Làm rõ vai trò vật lý trong khoa học và đời sống kĩ thuật
Giữa vật lý học và các khoa học khác có một ảnh hưởng qua lại thúc đẩy nhau
phát triển. Vật lý học phát triển phải dựa vào thành tựu của các khoa học khác,
ngược lại, các thành tựu của vật lý cũng góp phần và
o sự phát triển của các khoa
học khác.
- Thiên văn học là môn khoa học có ảnh hưởng trực tiếp đến vật lý học ngay từ
những bước đi đầu tiên. Sự nghiên cứu chuyển động của các thiên thể đã là cơ sở
đầu tiên của động học. Cuộc đấu tranh bảo vệ thuyết nhật tâm của Côpecnic đã thúc
đẩy sự ra đời của các định l
uật Kêple và định luật vạn vật hấp dẫn của Niuton.
Ngược lại, cơ học Niuton đã tạo ra một cơ sở vật lý học vững chắc cho thuyết nhật
tâm của Côpecnic. Sự thâm nhập của vật lý học vào thiên văn học đã làm nảy sinh
môn vật lý thiên văn nghiên cứu các hiện tượng vật lý diễn ra trong vũ trụ.
- Hoá học có vai trò thúc đẩy sự phát triển của quang phổ học khi nó đư
ợc áp
dụng trong phương pháp phân tích hoá học, sự phát minh ra định luật tuần hoàn
Menđêlêep có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển vật lý nguyên tử, hạt nhân…
- Y học cũng có sự tác động đến sự phát triển của vật lý học. Vào cuối thế kỉ
18, người ta cho rằng điện có khả năng chữa bệnh và tăng cường sinh lực. Ngày nay
thành quả học tập, trong đó người được trắc nghiệm lựa chọn những phương án trả
lời đã có sẵn và do đó kết quả đánh giá trắc nghiệm không phụ thuộc vào người
đánh giá.
Mặc dù không phải là công cụ đo lường duy nhất nhưng trắc nghiệm
khách
quan rất hiệu quả và được sử dụng khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên trắc nghiệm chỉ
phát huy tác dụng tốt nhất khi người soạn thảo hoặc người sử dụng câu trắc nghiệm
biết rõ các hình thức câu trắc nghiệm cũng như nắm vững cách sử dụng từng loại
câu trắc nghiệm khác nhau trong các tình huống kiểm tra khác nhau.
Vì vậy, phân biệt các hình thức câu
trắc nghiệm, hiểu rõ đặc điểm và tính năng
của từng hình thức trong sử dụng, cũng như xây dựng các kỹ năng soạn thảo các
hình thức câu trắc nghiệm là vô cùng quan trọng và cần thiết.
Dưới đây ta nhận xét về từng hình thức câu trắc nghiệm, cách sử dụng từng
hình thức phù hợp với yêu cầu kiểm tra đặt ra.
1. Trắc nghiệm đúng sai:
Với mỗi câu hỏi học sinh có hai lựa chọn “đúng” hoặc “sai”, “có” hoặc
“không”. Đây là hình thức câu trắc nghiệm đơn giản nhất gồm phần gốc là một câu
hỏi hoặc một nhận định. Phần trả lời có hai lựa chọn nhằm trả lời cho câu hỏi hoặc
nhận xét về nhận định ở phần gốc. GV có thể dùng loại trắc nghiệm này ở phần
kiểm tra k
iến thức vừa mới học ở mức độ “biết”. Tuy nhiên loại này có rủi ro cao vì
xác suất đáp đúng là 50%.
Ưu điểm
: Đây là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm về những sự kiện.
Nó giúp cho việc trắc nghiệm một lĩnh vực rộng lớn trong khoảng thời gian thi
bậc cao hơn. Tuy nhiên để tránh rủi ro, ta nên cho số lượng câu ở mỗi cột phải khác
nhau.
Ưu điểm
: Các câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng, ít tốn giấy hơn khi in.
Nhược điểm
: Muốn soạn câu hỏi đo các mức kiến thức cao đòi hỏi nhiều công
phu. Học sinh mất nhiều thời gian làm bài vì mỗi câu hỏi phải đọc lại toàn bộ những
câu lựa chọn, trong đó có cả những câu rõ ràng là không thích hợp.
Phạm v
i sử dụng: Thích hợp kiểm tra việc nhận biết kiến thức cơ bản sau khi
học xong một chương, một chủ đề.
4. Trắc nghiệm
khách quan nhiều lựa chọn:
Mỗi câu hỏi có cấu trúc gồm hai phần: phần gốc và phần lựa chọn.
Phần gốc thường là một câu hỏi hoặc một mệnh đề cung cấp thông tin về một
vấn đề nào đó.
Phần lựa chọn có từ 4 đến 5 phương án lựa chọn, trong đó có một phương án
đúng hoặc đúng nhất, các phương án còn lại là các phương án nhiễu, HS chỉ được
phép chọn một phương án m
à mình cho là đúng nhất.
Ưu điểm
:
- Độ tin cậy cao hơn.
- Học sinh phải xét đoán và phân biệt kĩ càng khi trả lời câu hỏi.
- Tính chất giá trị tốt hơn.
- Có thể phân tích được tính chất “mồi” câu hỏi.
- Tính khách quan khi chấm.
Nhược điểm:
nhưng không
kiểm tra, nhận định được các mặt
tình cảm, tâm lí của HS để qua đó
kịp thời uốn nắn và giáo dục.
8/ Ngăn ngừa được việc học tủ, học vẹt
và gian lận thi cử.
9/ Trong giảng dạy GV không thể dạy
tủ, dạy chay, phải phát huy tối đa sự
tích cực nhận thức của HS.
10/ Tr
ong học tập, HS phải phát huy
tính tích cực, tự giác và có trách
nhiệm trong học tập tại lớp cũng như
1/ Khảo sát được kết quả học tập của
một số ít HS.
2/ Đề bài kiểm tra chỉ sử dụng được một
lần, không dùng lại nữa.
3/ GV mất nhiều thời gian chấm và sửa
bài.
4/ GV chỉ cần thời gian không nhiều để
soạn đề khảo sát.
5/ C
hỉ có thể kiểm tra kiến thức ở một
phần nào đó trong chương trình.
6/ Việc cho điểm bài thi còn phụ thuộc
trạng thái tâm lý chủ quan và hoàn
cảnh của người chấm bài.
7/ GV tìm hiểu được quá trình tư duy và
diễn biến tư tưởng của HS về một
vấn đề nào đó qua bài kiểm tra.
một cách cặn kẽ cách làm các câu trắc nghiệm khác nhau.
GV cần nghiên cứu việc kết hợp sử dụng các hình thức câu trắc nghiệm khác
nhau trong các tình huống dạy học và kiểm tra đánh giá, nhằm phát huy một cách
tốt nhất của quá trình dạy học.
Kết hợp việc lựa chọn câu hỏi trắc nghiệm xây dựng phương án dạy học sẽ
giúp cho học sinh làm quen với hình thức kiểm tra đá
nh giá hiện nay, và phát huy
tính tích cực của học sinh trong học tập. Chương 2: XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN DẠY HỌC CỤ THỂ TỪNG BÀI
KẾT HỢP VỚI VIỆC LỰA CHỌN CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
HAI CHƯƠNG “QUANG HỌC” LỚP 11 NÂNG CAO NHẰM PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP
2.1. Những nội dung, kiến thức cơ bản của hai chương “Quang học” lớp 11
nâng cao
Cấu trúc nội dung của hai chương “quang học”
Phần quang học lớp 11 nâng cao gồm có 2 chương 9 bài:
Chương VI: Khúc xạ ánh sáng.
Khúc xạ ánh sáng
Mắt. các dụng cụ quang hoc
Khúc
xạ
ánh
sáng
Phản
xạ
toàn
phần
quang,
cáp
quang
Định nghĩa
Định
luật
khúc
xạ
ánh
sáng
Chiết
suất
của
Môi
trường
Tính
thuận
nghịch
trong
sự
truyền
sáng
Cấu tạo
Đường
đi của
Sự lưu ảnh
Cận
thị
Viễn
thị
Lão
thị
Cấu
tạo và
công
dụng
Cách ngắm chừng
Số bội giác