ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ DƯƠNG KIỀU HOA
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
NGÀNH THÉP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: KTTG&QHKTQT
Mã số: 60 31 07 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ ANH DŨNG
Hà Nội – 2013
MỤC LỤC
Danh mục ký hiệu viết tắt i
Danh mục bảng ii
Danh mục hình vẽ iv
Danh mục hộp thông tin v
3.1.1 Quan điểm phát triển ngành thép và CNHT ngành thép Việt Nam 66
3.1.2 Mục tiêu phát triển ngành thép và CNHT ngành thép Việt Nam 68
3.1.3 Nội dung quy hoạch 69
3.2 Giải pháp phát triển CNHT ngành thép Việt Nam 71
3.2.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 71
3.2.2 Giải pháp từ phía Hiệp hội thép Việt Nam 77
3.2.3 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 78
Kết luận và kiến nghị 82
Danh mục tài liệu tham khảo 84
Phụ lục i
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
AFTA
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(Asean Free Trade Area)
2
MNCs
Các tập đoàn đa quốc gia
12
R&D
Nghiên cứu và triển khai
13
VSA
Hiệp hội Thép Việt Nam
(Viet Nam steel Association)
14
VSC
Tổng công ty thép Việt Nam
(Viet Nam Steel Cooporation)
15
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
(World Trade Organization)
ii
DANH MỤC BẢNG
STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Tổng sản lượng thép cán trong nước giai đoạn
1975 – 2005
Lượng và giá trị nhập khẩu phôi thép giai đoạn
2008 - 2012
53
9
Bảng 2.9
Lượng phôi thép nhập khẩu về các cảng/cửa khẩu
quý II/2011
55
10
Bảng 2.10
Thị trường cung cấp phôi thép cho Việt Nam quý
II/2011
56
11
Bảng 2.11
Một số thị trường cung cấp thép phế cho Việt Nam
quý II/2011
58
12
Bảng 2.12
Lượng thép phế nhập khẩu về các cảng/cửa khẩu
quý II/2011
59
13
Bảng 2.13
Dự báo điện năng sản xuất (tỉ kWh) của Việt Nam
61
14
Bảng 2.14
Lượng và trị giá xuất khẩu phôi thép của Việt Nam
Sơ đồ chuỗi giá trị
13
2
Hình 1.2
Quan hệ giữa công nghiệp hỗ trợ với các ngành
công nghiệp khác
16
3
Hình 1.3
Lộ trình nội địa hóa của mỗi quốc gia
17
4
Hình 2.1
Sản lượng sản xuất và tiêu thụ thép giai đoạn
2008 – 2011
39
5
Hình 2.2
Cơ cấu sản xuất ngành thép năm 2010
41
6
Hình 2.3
Cơ cấu nhập khẩu ngành thép năm 2010
41
7
Hình 2.4
Diễn biến lượng và giá phôi thép nhập khẩu giai
đoạn 2009 - 2011
54
8
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay các nhà tập đoàn lớn trên thế giới xu thế giữ các hoạt động
như: nghiên cứu & triển khai (R&D), xúc tiến thương mại, phát triển sản
phẩm. Đối với các công đoạn sản xuất – những phần công việc trước đây nằm
trong dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh hầu hết được giao cho các doanh
nghiệp bên ngoài. Điều đó có nghĩa là, các sản phẩm công nghiệp không còn
được sản xuất tại một không gian, một địa điểm và được phân chia thành
nhiều công đoạn, ở nhiều địa điểm và nhiều quốc gia khác nhau. Thuật ngữ
công nghiệp hỗ trợ (CNHT) là cách tiếp cận sản xuất trong bối cảnh mới.
CNHT là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở các nước Đông Nam
Á, nhưng mới chỉ được sử dụng chính thức từ năm 2004 ở Việt Nam thông
thuế quan giữa các nước ASEAN sẽ được xoá bỏ.
Tháng 2/2011, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định 12 về
chính sách phát triển một số ngành CNHT. Tháng 7/2011, Bộ Tài chính cũng
đã ban hành Thông tư 96/2011/TT-BTC nhằm hướng dẫn quyết định này.
Theo đó từ ngày 18/8/2011, các dự án đầu tư vào CNHT sẽ được hưởng nhiều
ưu đãi về thuế nhập khẩu, miễn giảm tiền sử dụng đất Nhiều chuyên gia
kinh tế cho rằng, việc ban hành những chính sách này sẽ tạo nên động lực lớn
cho ngành CNHT.
Thép là một vật tư chiến lược không thể thiếu của ngành công nghiệp,
xây dựng và quốc phòng. Đặc biệt với mục tiêu phấn đấu của đất nước đến
năm 2020 thì ngành thép càng trở lên quan trọng trong sự nghiệp CNH –
HĐH. Chính điều này đòi hỏi Nhà nước cần có sự quan tâm với ngành thép.
3
Ngành thép là ngành công nghiệp nền tảng, sản xuất tư liệu sản xuất để
đảm bảo đáp ứng nhu cầu đầu vào cho các ngành công nghiệp khác. Đặc biệt
là khi các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu phát triển, nhu cầu về
thép ngày càng tăng. Phát triển các ngành này đòi hỏi ngành thép cũng phải
phát triển và khi ngành thép phát triển sẽ kích thích các ngành công nghiệp
này phát triển theo. Những điều trên chứng tỏ ngành thép là cần thiết trong cơ
cấu ngành công nghiệp Việt Nam. Và điều đang được Nhà nước quan tâm
hiện nay là tình hình không ổn định của thị trường thép.
Để ngành thép có thể tồn tại, đứng vững và cạnh tranh trên thị trường
trong nước và nước ngoài thì việc đảm bảo nguồn cung ứng nguyên liệu cho
ngành thép là công việc cần thiết phải xem xét. Quyết định số 145/2007/QĐ-
TTG ngày 04/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch phát
triển ngành thép Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025 đã
nêu lên yêu cầu cần có giải pháp đảm bảo nguồn nguyên, nhiên liệu chính để
cho ngành thép phát triển bền vững.
Trước tình hình như vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “PHÁT TRIỂN
thực hiện vào tháng 3 năm 2004 do Ichikawa (JETRO Vietnam) tiến hành,
được coi là tài liệu đầu tiên đánh giá về các ngành CNHT tại Việt Nam. Tác
giả đã khẳng định CNHT tại Việt Nam đã bắt đầu được hình thành mặc dù
nhận thức của các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp Nhà nước thời điểm
đó còn thấp.
(2) Trên tạp chí kinh tế phát triển, GS. Nguyễn Kế Tuấn với “Phát triển công
nghiệp phụ trợ trong chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam” đã đề cập
tổng quát: khái niệm, vai trò, các nhân tố tác động đến phát triển CNHT, đề
xuất một số chính sách chủ yếu về phát triển CNHT, đặc biệt là quan điểm để
lựa chọn xây dựng chính sách phát triển CNHT tại Việt Nam.
5
(3) Trần Văn Thọ trong “Biến động kinh tế Đông Á và con đường công
nghiệp Việt Nam” đã phân tích con đường phát triển công nghiệp Việt Nam
theo hướng toàn cầu hóa, thông qua phát triển CNHT như là lĩnh vực của hệ
thống DNVVN.
(4) Phan Đăng Tuất, trong “Trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp
Nhật Bản – Con đường nào cho Việt Nam” tại hội thảo về CNHT của JETRO
đã khẳng định vai trò quan trọng của CNHT đối với nền kinh tế, yêu cầu về
DNVVN và sự hợp tác với Nhật Bản trong phát triển CNHT tại Việt Nam.
(5) Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển CNHT Việt nam đến năm
2010, tầm nhìn đến 2020, do Bộ Công nghiệp (cũ) soạn thảo. Theo quy hoạch
này, các giải pháp: tạo dựng môi trường đầu tư; phát triển khoa học công
nghệ; phát triển cơ sở hạ tầng cho CNHT; đào tạo nguồn nhân lực; và liên kết
doanh nghiệp đã được đề xuất cho ngành Điện tử tin học.
(6) Ohno với “Xây dựng các ngành CNHT ở Việt Nam” chủ biên đã trình bày
các kết quả khảo sát về CNHT ở Việt Nam trong chương 1 “CNHT Việt Nam
dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản”, Nguyễn Thị Xuân Thúy đã
tổng kết lịch sử ra đời của CNHT và đề xuất khái niệm cho Việt Nam trong
chương 2 “CNHT, Tổng quan về khái niệm và sự phát triển”, Mori đã đề xuất
(2) Việt Nam phát triển CNHT ngành thép theo hướng nào và giải pháp là gì?
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
(1) Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển CNHT nói chung và CNHT
trong ngành thép nói riêng.
(2) Phân tích và đánh giá hoạt động của CNHT ngành thép Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
(3) Đề xuất các giải pháp phát triển CNHT ngành thép Việt Nam.
7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
CNHT là khu vực rộng, gồm 2 phần cứng là phần cứng: là các sơ sở
sản xuất nguyên vật liệu và linh phụ kiện lắp ráp; và phần mềm: là các cơ sở
sản xuất thiết kế sản phẩm, mua sắm, hệ thống dịch vụ công nghiệp và
marketing. Ngoài các còn có các dịch vụ hỗ trợ: đào tạo nguồn nhân lực, xây
dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp hỗ trợ tài chính, vận tải và giao nhận hàng hóa,
xúc tiến thương mại …
Do đó, đối tượng đề tài tập trung nghiên cứu là hoạt động sản xuất của
một số nguyên phụ liệu hỗ trợ chính của ngành thép Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập KTQT.
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp CNHT trong ngành thép
Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập tổ
chức thương mại thế giới WTO cho đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo tính khoa học và tính khả thi, đề tài sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau đây.
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Luận văn sử dụng kết quả nghiên cứu và số
liệu thứ cấp từ các công trình khoa học có liên quan đến CNHT nói chung và 9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CNHT
NGÀNH THÉP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KTQT
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
Dưới tác động của nền kinh tế thị trường và sức ép của các nhà đầu tư
nước ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI của Nhật Bản, trong thời gian
gần đây CNHT được nhắc đến khá nhiều và vấn đề phát triển CNHT tại Việt
Nam đã được đặt ra một cách nghiêm túc và bức thiết. Các cơ quan quản lý
Nhà nước và các doanh nghiệp cũng đã nhận thức được tầm quan trọng của
CNHT đối với việc phát triển các ngành công nghiệp và coi CNHT là động
lực của quá trình CNH – HĐH đất nước.
Mặc dầu vậy, ở các hội nghị - hội thảo cũng như trên các phương tiện
thông tin đại chúng, còn nhiều ý kiến khác nhau trong nhận thức và khái niệm
về CNHT. Bởi vì khái niệm CNHT mới được biết đến ở Việt Nam trong thời
gian gần đây và bản thân thuật ngữ CNHT vẫn còn là một thuật ngữ mơ hồ,
chưa có một định nghĩa nào cụ thể. Nó có thể mang tính học thuật hoặc mang
tính thực hành và thay đổi theo thời gian ở từng nơi, từng giai đoạn phát triển.
1.1.1 Khái niệm công nghiệp hỗ trợ
Bộ Công Thương Nhật Bản (MITI, hiện nay là Bộ Kinh tế, Công
nghiệp và Thương mại - METI) lần đầu tiên nhắc đến cụm từ Supporting
Industry (CNHT) trong “Sách trắng về Hợp tác kinh tế năm 1985” [32] nhưng
không đưa ra định nghĩa cụ thể. Phải đến năm 1993, họ mới chính thức đưa ra
định nghĩa về CNHT trong Chương trình hành động phát triển CNHT Châu Á
các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, các nước thuộc Liên minh Châu Âu,
CNHT hình thành trước hoặc đồng thời với ngành công nghiệp sản xuất chính
11
yếu, có vai trò quyết định tới sự thành công và uy tín của các sản phẩm công
nghiệp cuối cùng. Đối với Hàn Quốc, Đài Loan và gần đây là Trung Quốc,
CNHT thường được hình thành đồng thời với việc tổ chức lắp ráp, sản xuất
các sản phẩm công nghiệp cuối cùng. Còn đối với các nước đang phát triển
như các nước trong ASEAN và Việt Nam, do thiếu vốn, công nghệ, thị trường
tiêu thụ, thông thường công nghiệp lắp ráp phát triển trước, CNHT hình thành
theo sau với tiến trình nội địa hóa các sản phẩm được các tập đoàn, công ty có
vốn đầu tư nước ngoài thực hiện trên lãnh thổ của nước sở tại và sau đó, tùy
theo trình độ phát triển và khả năng cạnh tranh của hệ thống các cơ sở sản
xuất, có thể vươn xa ra xuất khẩu các sản phẩm CNHT sang các thị trường
khác [11, trang 15 – 16].
Tóm lại, CNHT là ngành công nghiệp sản xuất các nguyên liệu đầu
vào, linh phụ kiện, các sản phẩm trung gian góp phần cấu thành nên sản phẩm
cuối cùng của các ngành công nghiệp khác. Tuy nhiên định nghĩa CNHT
không nên tách ra thành mảng riêng mà phải được hiểu gắn liền với từng
ngành công nghiệp cụ thể.
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của công nghiệp hỗ trợ
1.1.2.1. Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ
Khái niệm về ngành CNHT là một khái niệm rộng và mang tính tương
đối, tuy nhiên nó có một số đặc điểm sau:
- CNHT phát triển gắn kết với ngành công nghiệp hoặc sản phẩm công nghiệp
cụ thể (đối tượng hỗ trợ) và có nhiều tầng cấp tích hợp theo cả chiều ngang và
chiều dọc.
- CNHT xuất hiện trong các hình thức tổ chức công nghiệp theo kiểu thầu
phụ, nằm trong một mạng lưới tổ chức sản xuất phối hợp, thống nhất và có
tính hợp tác cao giữa các doanh nghiệp chủ đạo và các doanh nghiệp hỗ trợ
13
dụng nhân công rẻ và nguồn nguyên liệu ngay tại nội địa. Phát triển các ngành
CNHT một cách hợp lý sẽ tạo ra các sản phẩm có đặc thù riêng của quốc gia,
có sức cạnh tranh hơn hẳn các sản phẩm chỉ được lắp ráp bởi các linh kiện và
nguồn cung ứng toàn cầu. CNHT thuộc khu vực hạ nguồn (thương hiệu,
marketing, chuỗi tiêu thụ, bán hàng ) đặc biệt gia tăng giá trị cho các sản
phẩm công nghiệp, đây là điểm quan trọng làm cho hàng hoá của quốc gia có
sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
- Phát triển hệ thống DNVVN: Ở hầu hết các quốc gia, CNHT do hệ thống
DNVVN đảm nhiệm, đây là khu vực doanh nghiệp tạo nhiều việc làm, là nền
tảng sáng tạo của quốc gia. Phát triển hệ thống DNVVN là một trong các biện
pháp hữu hiệu đối phó với khủng hoảng kinh tế, là đối trọng để cân bằng với
các tập đoàn kinh tế khổng lồ hay bị tác động nhanh và mạnh nhất của các
khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
* Nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm công nghiệp
Mỗi sản phẩm có thể chia thành ba giai đoạn chính:
- Thượng nguồn gồm các công đoạn nghiên cứu - triển khai, thiết kế, sản xuất
các bộ phận linh kiện chính;
- Trung nguồn là công đoạn lắp ráp, gia công;
- Hạ nguồn là thương hiệu, tiếp thị, xây dựng mạng lưới lưu thông, khai thác
và tiếp cận thị trường.
Sản xuất
lắp ráp
Phân phối Marketing
Thiết kế
sản phẩm
R&D
Giá trị
tạo ra
ứng hỗ trợ trong các ngành công nghiệp là vấn đề được các MNCs cân nhắc
rất nhiều trước khi quyết định đầu tư vào một quốc gia. Do đó, nền kinh tế với
15
các ngành CNHT mạnh và có thể đáp ứng nhu cầu cho các nhà lắp ráp sẽ là
một trong các nhân tố tác động mạnh đến thu hút đầu tư nước ngoài vào phát
triển các ngành công nghiệp. [4, trang 24 - 25]
Nhìn chung, đối với các quốc gia công nghiệp trẻ, ngành CNHT
thường được hình thành đồng thời với việc tổ chức lắp ráp, sản xuất các sản
phẩm công nghiệp cuối cùng. Còn đối với các nước đang phát triển, do thiếu
vốn, công nghệ, thị trường tiêu thụ, thông thường công nghiệp lắp ráp phát
triển trước, ngành CNHT hình thành theo sau với tiến trình nội địa hoá các
sản phẩm. Quá trình này được các tập đoàn, công ty có vốn đầu tư nước ngoài
thực hiện trên lãnh thổ của nước sở tại và tuỳ theo trình độ phát triển và khả
năng cạnh tranh của hệ thống các cơ sở sản xuất hỗ trợ, có thể vươn ra xuất
khẩu các sản phẩm hỗ trợ sang các thị trường khác.
1.1.3 Thành phần của công nghiệp hỗ trợ và mối quan hệ giữa công nghiệp
hỗ trợ với công nghiệp chính
CNHT có thể được chia thành hai phần chính [4, trang 16], [5, trang 9]
là: Phần cứng: là các sơ sở sản xuất nguyên vật liệu và linh phụ kiện lắp ráp;
Phần mềm: là các cơ sở sản xuất thiết kế sản phẩm, mua sắm, hệ thống dịch
vụ công nghiệp và marketing.
Xét về quy mô thì CNHT là một khu vực công nghiệp rộng lớn, bao
gồm nhiều ngành, nhiều loại hình doanh nghiệp và chiếm phần chủ yếu của
giá trị gia tăng sản xuất công nghiệp. Có đến 95% số doanh nghiệp công
nghiệp không sản xuất ra sản phẩm cuối cùng cho sản xuất và đời sống mà
hoạt động trong khu vực CNHT. Các ngành CNHT có thể khác nhau nhưng
sản phẩm của chúng (loại phụ tùng linh kiện nhựa, kim loại, ốc vít…) có thể
sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp lắp ráp khác nhau như ngành sản xuất
ô tô, xe máy, điện tử, điện gia dụng… và một số ngành công nghiệp lắp ráp,
xuất công nghiệp không thể chỉ bó hẹp trong phạm vi từng quốc gia, mà cần
được thực hiện trong phạm vi khu vực và toàn cầu. Điều này đòi hỏi mỗi quốc
gia phải cân nhắc thận trọng việc quyết định mức độ đầu tư vào khu vực
CNHT trong nước. Vì thế, việc lựa chọn quan điểm phát triển CNHT đặc biệt
quan trọng tới phát triển CNHT của quốc gia và của các ngành.
17
* Chính sách phát triển công nghiệp
Từ việc lựa chọn quan điểm phát triển công nghiệp, các chính sách liên
quan đến CNHT sẽ được Chính phủ quyết định. Các chính sách đó có thể kể
đến: Chính sách nội địa hóa; Chính sách thuế đánh vào nhập khẩu và sản xuất
các bán sản phẩm, linh phụ kiện; Mức độ đầu tư của Nhà nước vào nghiên
cứu khoa học công nghệ ở khu vực CNHT; Luật, các tiêu chuẩn và các quy
định được ban hành cho các ngành, các loại sản phẩm thuộc CNHT … các
chính sách này tạo điều kiện hay kìm hãm phát triển CNHT là do quan điểm
định hướng phát triển của Chính phủ về vấn đề này.
1.1.4.2 Năng lực của mỗi quốc gia trong phát triển CNHT
* Năng lực nội địa hóa
Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, sự kết hợp hợp lý giữa nội
địa hóa và nhập khẩu là hết sức cần thiết để nâng cao chất lượng sản phẩm và
giảm chi phí sản xuất cũng như chi phí hậu cần kinh doanh. Nội địa hóa có
thể tồn tại dưới ba mức độ, song song với lộ trình gia tăng năng lực sản xuất
nội địa [4, trang 33 - 36]: Sản xuất nội bộ trong khuôn khổ các công ty lắp
ráp; Đặt hàng, cung ứng từ doanh nghiệp FDI hoạt động tại quốc gia đó; Đặt
hàng, cung ứng từ các nhà sản xuất và cung cấp tại địa phương