Những điều chỉnh chính sách thương mại quốc tế của Trung Quốc từ sau khi gia nhập WTO đến nay và gợi ý với Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
_______________
Phạm Bích Ngọc

NHỮNG ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ
CỦA TRUNG QUỐC TỪ SAU KHI GIA NHẬP WTO
ĐẾN NAY VÀ GỢI Ý VỚI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Hà Nội, 2011

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
_______________


Chương 1: Những vấn đề về lý luận và thực tiễn về chính
sách thương mại quốc tế
7
1.1. Vai trò của thương mại trong phát triển kinh tế
7
1.2. Các nguyên tắc xây dựng và điều chỉnh chính sách thương
mại
14
1.2.1. Các nguyên tắc
14
1.2.2. Các cách tiếp cận trong việc cải cách chính sách thương
mại
18
1.3. Các công cụ chính sách thương mại
22
1.3.1. Thuế quan
23
1.3.2. Hạn ngạch nhập khẩu
27
1.3.3. Trợ cấp xuất khẩu
28
1.3.4. Những hạn chế xuất khẩu tự nguyện
28
1.3.5. Yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa
29
1.3.6. Kiểm soát tỷ giá hối đoái
29
1.3.7. Các công cụ khác của chính sách thương mại
30
Chương 2: Điều chỉnh chính sách thương mại quốc tế của

2.3.3. Hoàn thiện chính sách giảm thuế đầu vào cho các mặt
hàng xuất khẩu
44
2.3.4. Giảm hạn ngạch nhập khẩu
47
2.3.5. Không ngừng hoàn thiện cơ cấu sản phẩm xuất nhập
khẩu
48
2.3.6. Cải cách tỷ giá đồng NDT và chế độ quản lý ngoại hối
50
2.3.7. Thúc đẩy thương mại gia công chuyển dịch và phát triển
theo chiều sâu
56
2.3.8. Thực hiện chiến lược hàng hiệu
56
2.4. Chính sách thương mại quốc tế của Trung Quốc với cuộc
khủng hoảng toàn cầu
58
2.5. Kết quả của việc điều chỉnh chính sách thương mại quốc tế
của Trung Quốc từ sau khi gia nhập WTO đến nay
68
2.5.1. Gia nhập WTO tạo động lực mới cho thương mại quốc
tế Trung Quốc
68
2.5.2. Cố gắng chuyển đổi phương thức tăng trưởng, thương
mại quốc tế của Trung Quốc phát triển theo hướng xuyên quốc gia
71
2.6. Những hạn chế trong việc điều chỉnh chính sách thương
mại quốc tế của Trung Quốc
73

i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1.
CNH
Công nghiệp hóa
2.
EU
Cộng đồng Châu Âu
3.
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
4.
FTA
Hiệp định Thương mại tự do
5.
GTGT
Giá trị gia tăng
6.
NDT
Nhân dân tệ
7.
NK
Nhập khẩu
8.
Nước ĐPT

Bảng
Tên bảng
Tr
1.
2.1
Tỷ trọng tổng kim ngạch thương mại củaTrung Quốc so với
thế giới
68
2.
3.1
Thuế suất thuế nhập khẩu bình quân theo cam kết WTO
71
3.
3.2
Tỷ trọng các mặt hàng giảm thuế theo cam kết WTO
72
Danh mục hình
STT
Hình
Tên hình
Tr
1.
1.1
Sự thay đổi trong cơ cấu xuất khẩu hàng hóa từ các nước đang
phát triển
12
2.
1.2
Tác động của thuế quan nhập khẩu trong trường hợp nước lớn
24

STT
Sơ đồ
Tên sơ đồ
Tr
1.
1.1
Các công cụ chính sách thương mại phổ biến nhất
22
2.
1.2
Phân loại thuế quan
23
1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 11-12-2001, Trung Quốc chính thức gia nhập WTO chấm dứt quá
trình đàm phán kéo dài 15 năm ròng rã, dài nhất trong lịch sử WTO. Để đảm
bảo có thể thực hiện tốt những cam kết khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã có
một số điều chỉnh trong chính sách thương mại quốc tế của mình. Kết quả là,
sau khi gia nhập WTO, việc đầu tiên của Trung Quốc là bước vào “Câu lạc bộ
các nước đạt ngàn tỷ USD về tổng sản phẩm quốc nội” năm 2001. Chỉ 3 năm
sau, đến năm 2004, với tổng kim ngạch thương mại đạt mức 1.154,8 tỷ USD,
Trung Quốc lại trở thành thành viên “Câu lạc bộ các nước đạt ngàn tỷ USD về
tổng kim ngạch thương mại”, mở ra con đường đưa Trung Quốc từ “nước lớn
thương mại” thành “cường quốc thương mại”. Đây mới chỉ là những thành
quả đầu tiên trong quá trình hội nhập quốc tế và công cuộc chinh phục thị
trường toàn cầu của Trung Quốc trong vai trò là thành viên của WTO. Đặc
biệt tuy chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế, nhưng

1979 và dừng lại ở năm 2002 – năm Trung Quốc gia nhập WTO được 1 năm
nên chưa thể đánh giá được những thay đổi trong chính sách thương mại ảnh
hưởng đến sự phát triển kinh tế đất nước Trung Quốc một cách chính xác.
Còn cuốn “Gia nhập WTO Trung Quốc làm gì và được gì?” của TS. Nguyễn
Kim Bảo, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2006 tuy đã nghiên cứu và phân tích được
những điều chỉnh chính sách và biện pháp sau khi gia nhập WTO nhưng chỉ
dừng lại ở 3 năm sau khi Trung Quốc gia nhập WTO.
Trong Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã có
những luận văn viết về điều chỉnh chính sách thương mại như luận văn “Điều
3

chỉnh chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam trong hội nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO)” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà bảo vệ năm 2008.
Trên cơ sở phân tích, tổng kết, đánh giá những điều chỉnh chính sách thương mại
quốc tế của Việt Nam trong hội nhập WTO, luận văn chỉ ra những điểm hợp lý và
những bất cập còn tồn tại cần điều chỉnh trong quá trình hội nhập WTO. Từ đó, đề
xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt
Nam trong hội nhập WTO. Nhưng năm 2008, Việt Nam mới chỉ gia nhập WTO
được 1 năm nên chưa thể nhận diện và đánh giá chính xác được tình hình.
Nước ngoài
Có một số học giả Trung Quốc có các bài nghiên cứu liên quan đến vấn
đề này nhưng chưa có bài viết nào có những thống kê, nghiên cứu tổng thể về
những điều chỉnh trong chính sách thương mại quốc tế của Trung Quốc từ sau
khi gia nhập WTO đến nay. “中国在 WTO 中的定位,作用和策略”(Vị trí,
vai trò và sách lược của Trung Quốc trong WTO) của 屠新泉 (Đồ Tân
Tuyền),Nxb Đại học Kinh tế thương mại quốc tế, Trung Quốc, 2005 cho
rằng: chính sách thương mại là một vấn đề chứa nhiều tranh cãi và mâu thuẫn,
lý luận về tự do thương mại và thực tế bảo hộ có một khoảng cách rất lớn.
Chính sách thương mại có quan hệ mật thiết tới chính trị trong nước, những
cọ sát trong thương mại quốc tế thường có xu hướng chính trị hóa và mang

đối với các nước đang phát triển trong việc sử dụng chính sách thương mại để
thực hiện các mục tiêu chính sách công nghiệp của mình. Do bị ràng buộc bởi
các quy định trong cam kết thương mại quốc tế về thuế quan, hạn ngạch, các
chính sách hỗ trợ xuất khẩu v.v… các nước không còn nhiều sự lựa chọn như
trước trong việc sử dụng chính sách thương mại hỗ trợ xuất khẩu. Điều này
đặt ra cho các nước đang phát triển vấn đề phải tìm kiếm các công cụ chính
sách khác thay thế cho chính sách thương mại.
5

3. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá và nhận xét về những điều chỉnh trong chính sách
thương mại quốc tế của Trung Quốc từ sau khi gia nhập WTO đến nay và đưa
ra những khuyến nghị chính sách cho Việt Nam.
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trả lời
những câu hỏi sau:
+ Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc điều chỉnh chính sách thương
mại của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO?
+ Với những thay đổi như vậy, Trung Quốc có những điều chỉnh như
thế nào trong chính sách thương mại quốc tế?
+ Trung Quốc đã đưa ra những thay đổi gì trong chính sách thương mại
quốc tế để khắc phục khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua?
+ Bài học gì rút ra cho Việt Nam?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách thương mại quốc tế Trung Quốc.
Chỉ đề cập đến chính sách hàng hóa không đề cập đến chính sách dịch vụ.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian của nghiên cứu là Trung Quốc.
+ Phạm vi thời gian của nghiên cứu là những điều chỉnh chính sách

Thứ nhất, do các quốc gia khác nhau về điều kiện tự nhiên cũng như
trình độ sản xuất, dẫn đến thế mạnh khác nhau khi tham gia phân công lao
động quốc tế và thu được lợi ích nhất định khi trao đổi với các quốc gia khác.
Thứ hai, các quốc gia tiến hành trao đổi, buôn bán với nhau để đạt được
lợi thế sản xuất theo quy mô. Lợi thế này có được bởi thị trường tiêu thụ
hàng hóa được mở rộng hơn khi các quốc gia thực hiện chuyên môn hóa sản
xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm này đã ở phạm vi quốc tế.
Cơ sở của thương mại quốc tế đầu tiên được giải thích bởi Adam Smith
qua mô hình lợi thế tuyệt đối. Theo mô hình này, quốc gia có lợi thế tuyệt đối
về một sản phẩm nào đó (do có năng suất lao động sản xuất ra hàng hóa đó
cao hơn các quốc gia khác) có thể thu được lợi từ thương mại quốc tế thông
qua chuyên môn hóa sản xuất. Mô hình này đã giải thích được một phần
nguồn gốc của thương mại quốc tế là bắt nguồn từ sự khác biệt về năng suất
lao động giữa các quốc gia, nhưng nó chưa giải thích được tại sao có những
quốc gia không có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất bất cứ hàng hóa nào vẫn có
thể tham gia và thu lợi được từ thương mại quốc tế.
Lý thuyết thương mại quốc tế cổ điển đã giải thích được điều này. Mô
hình lợi thế so sánh giả định thế giới chỉ gồm 2 quốc gia, 2 hàng hóa và một
yếu tố sản xuất duy nhất là lao động. Qua phân tích mô hình dựa trên chi phí
8

cơ hội, David Ricardo chỉ ra rằng, một quốc gia không nhất thiết phải có lợi
thế tuyệt đối trong sản xuất một hàng hóa nào đó, mà chỉ cần có lợi thế so
sánh (tức là chi phí cơ hội sản xuất hàng hóa đó thấp hơn của quốc gia đối
tác), thì quốc gia đó có thể chuyên môn hóa sản xuất và thu được lợi từ
thương mại quốc tế. Mô hình lợi thế so sánh của Ricardo tiến bộ hơn mô hình
lợi thế so sánh tuyệt đối của Adam Smith, tuy nhiên vẫn hạn chế ở chỗ chỉ xét
thương mại quốc tế với một nguồn lực duy nhất là lao động.
Khắc phục được điểm hạn chế này, hai nhà kinh tế học Thụy Điển, Eli
Heckscher và Bertil Ohlin đã đưa ra lý thuyết Heckscher-Ohlin, trong đó coi

là sự khác nhau giữa giá trị của thứ mà ta có được và giá trị của cái mà ta từ
bỏ (Hicks, 1959). Thông qua phân công lao động quốc tế, một quốc gia được
coi như thu hút được nhiều hơn mất. Nếu lợi thế so sánh là chính xác giống
nhau tại hai quốc gia, thì tất nhiên sẽ không có lợi thế tĩnh và lý do cho
thương mại quốc tế đã có thể là nhận được kinh tế quy mô và lợi thế động
khác.
Lợi ích động từ thương mại chủ yếu là các thị trường xuất khẩu mở
rộng thị trường cho các nhà sản xuất. Nếu một sản phẩm chú trọng vào tăng
lợi nhuận, tổng lợi ích từ thương mại sẽ vượt qua lợi ích tĩnh từ sự phân bổ
nguồn lực hiệu quả hơn. Với sự gia tăng doanh thu theo quy mô, các quốc gia
có thể được lợi từ thương mại, không phân biệt giá cánh kéo thương mại
(terms of trade). John Richard Hicks (1959) đã tranh luận rằng không thể hiểu
được các hiện tượng của thương mại quốc tế nếu một quốc gia không dựa trên
doanh thu tăng do mối quan hệ chặt chẽ giữa doanh thu tăng và tích tụ vốn.
Đối với một quốc gia nhỏ không tiến hành thương mại, vốn quy mô lớn đầu
tư vào thiêt bị tư bản tiên tiến hạn chế, chuyên môn hóa hạn chế bởi quy mô
của thị trường. Nhưng nếu các quốc gia nghèo đang phát triển có thể tiến hành
10

thương mại, có triển vọng công nghiệp hóa và cung cấp các phương pháp sản
xuất truyền thống. Thị trường lớn hơn, tích tụ vốn sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu
doanh thu theo quy mô tăng. Ở khía cạnh này, các quốc gia lớn, như Ấn Độ,
có vị thế thuận lợi hơn các quốc gia nhỏ, như Sri Lanka hoặc Jamaica. Ấn Độ
có dân cư lớn nên có cơ sở hứa hẹn cho việc thành lập những ngành công
nghiệp hàng hóa thâm dụng vốn và sản xuất hàng hóa chế biến, vì sản xuất có
thể tiến hành trên cơ sở có thể thấy trước thương mại. Các quốc gia nhỏ hơn,
tuy nhiên, có thể cần sự bảo hộ lớn cho một hàng hóa trước khi nó có thể
được sản xuất một cách có hiệu quả và cạnh tranh trên thị trường thế giới. Ít
nhất 6 quốc gia được liệt vào hàng đang phát triển mà có dân số dưới 15 triệu.
Một trong những ảnh hưởng quan trọng khác của các tác động của thương

hàng hóa này sẽ không được bán và biểu hiện như một sự lãng phí tài nguyên.
Điều này đã được minh họa bằng sự dịch chuyển từ một điểm trong đường
giới hạn khả năng sản xuất tới một điểm khác trên đường giới hạn khả năng
sản xuất, đường biểu diễn một mức độ phúc lợi cao hơn. Đây là lợi ích vì
lượng hàng hóa dư thừa để xuất khẩu không thể có mục đích sử dụng thay thế
và không thể chuyển sang mục đích tiêu dùng nội địa, do qui mô dân số và
khẩu vị tiêu dùng. Điều này nâng cao hiệu quả kinh thế thông qua sự sử dụng
hiệu quả hơn các nguồn lực trong xã hội.
Xuất khẩu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tái cơ cấu kinh tế.
Hình 1.1 dưới mô tả sự thay đổi trong cơ cấu xuất khẩu hàng hóa tại các nước
đang phát triển. Nhìn vào hình vẽ có thể thấy tỷ lệ của hàng hóa sản xuất tại
các nước đang phát triển tăng liên tục, ngoại trừ sự giảm sút tạm thời vào năm
1997 kết hợp với sự bắt đầu của khủng hoảng tài chính Đông Á. Tỷ lệ của các
sản phẩm nông nghiệp đã cho thấy sự giảm sút tương đương với mức giảm
khoảng 10% vào năm 1998. Tỷ lệ của kim loại và khoáng chất giao động,
tăng lên vào năm 1973 kết hợp với sự tăng giá dầu mỏ của OPEC đẩy tỷ trọng
12

của nhóm hàng này từ năm 1973 đến đầu thập niên 1980. Tuy nhiên, từ đầu
thập kỷ 1980, tỷ trọng của xuất khẩu khoáng sản giảm liên tục, chỉ còn dưới
10% trong tổng xuất khẩu của các quốc gia đang phát triển. Rõ ràng, tại các
quốc gia đang phát triển, sự thay đổi tỷ trọng xuất khẩu rất rõ rệt và dẫn đầu
trong sự thay đổi mô thức thương mại toàn cầu. Chuyển dịch mô thức thương
mại tại các nước đang phát triển (từ hàng hóa cơ bản sang hàng hóa sản xuất
hàng loạt) nhanh hơn sự chuyển dịch mô thức thương mại toàn cầu. Sự thay
đổi tỷ trọng các nhóm hàng xuất khẩu kéo theo sự thay đổi cơ cấu các ngành
kinh tế một cách tương ứng. Cơ cấu kinh tế tại các quốc gia đang phát triển
cũng thay đổi, cụ thể là tại khu vực sản xuất phục vụ xuất khẩu, ngành công
nghiệp chế biến ngày càng chiếm ưu thế.


năng suất, hiệu quả kinh tế. Một số nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc,
Đài Loan trong giai đoạn đầu CNH đều phải nhập khẩu công nghệ của nước
ngoài, sau đó dần dần tích lũy được tri thức tự đổi mới và hiện đại hóa công
nghệ trong nước. Đến nay, những nước này đã có một nền tảng công nghệ
trong nước hiện đại.
14

Từ những vai trò như trên đối với nền kinh tế, nhập khẩu còn có tác
động trực tiếp tới tiết kiệm. Nhập khẩu là quan trọng đối với tiết kiệm không
chỉ thông qua các tác động tới sản phẩm đầu vào mà còn bởi vì khu vực có
định hướng xuất khẩu [51]. Nhập khẩu, với vai trò là nguồn cung nguyên liệu
đầu vào, thúc đẩy tăng trưởng sản xuất, trong đó có cả khu vực sản xuất định
hướng xuất khẩu, làm tăng thu nhập quốc dân, tăng tiết kiệm. Nhập khẩu, với
vai trò mở rộng sự lựa chọn cho người tiêu dùng, làm tăng phúc lợi tổng xã
hội, do tăng thặng dư tiêu dùng, nâng cao hiệu quả chung của nền kinh tế.
1.2. Các nguyên tắc xây dựng và điều chỉnh chính sách thương mại
1.2.1. Các nguyên tắc
Chính sách thương mại là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, công cụ
và biện pháp nhằm tác động, điều chỉnh, kiểm soát, các hoạt động thương mại
góp phần thực hiện những mục tiêu kinh tế vĩ mô của quốc gia.
Chính sách thương mại có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, chính sách thương mại mang tính lịch sử rõ rệt. Nó chỉ có tác
dụng trong những thời kỳ nhất định. Tùy theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể, mỗi
quốc gia thường có chính sách thương mại quốc tế độc lập, thể hiện ý chí,
nguyên tắc và mục tiêu phát triển của mình. Ví dụ: trước đây, Việt Nam sử
dụng rất nhiều các công cụ trong chính sách ngoại thương như: Thuế quan,
Bảng giá tính thuế tối thiểu, Thuế tiêu thụ đặc biệt và các khoản phụ thu, Hạn
ngạch và các hạn chế số lượng khác, Giấy phép nhập khẩu, Kiểm soát ngoại
hối, Thuế xuất khẩu nhưng hiện nay, các công cụ này đã được giảm đi rất
nhiều.

- Phải được đặt trong thể thống nhất với chính sách kinh tế chung của
quốc gia, ví dụ như cắt giảm thuế quan không tách rời việc trợ cấp cho các
doanh nghiệp khó khăn.
- Phải được đặt trong mối tương tác với chính sách thương mại được áp
dụng bởi các nước khác và các thể chế thương mại đa phương.
16

Hộp 1.1 dưới đây cung cấp một ví dụ về sự hòa hợp giữa chính sách
thương mại và các chính sách kinh tế khác của Mỹ dưới thời Tổng thống
Obama.
Hộp 1: Chương trình nghị sự của thủ tướng về thương mại:
Thương mại phục vụ cho các gia đình Mỹ
Tổng thống Obama đã định ra tiến trình khôi phục kinh tế là sẽ khôi phục tăng
trưởng và thúc đẩy thịnh vượng trên diện rộng. Quá trình khôi phục kinh tế sẽ nhấn
mạnh vào những cải thiện mức sống của các gia đình Mỹ trong khi tái định hướng
nền kinh tế Mỹ để đáp ứng những thách thức hiện tại: năng lượng, môi trường, và
cạnh tranh toàn cầu.
Chương trình nghị sự của tổng thống sẽ giúp đạt được những mục tiêu trên.
Chương trình sẽ phản ánh mối quan tâm đối với các doanh nghiệp và cạnh tranh thị
trường, môi trường, cơ hội cho tất cả và quyền lợi của công nhân. Đặc biệt, chúng ta
cần nhận ra nhu cầu cần chú ý làm thế nào để chính sách ảnh hưởng tới điều kiện
sống tốt của con người, những người đang đấu tranh tại Mỹ và tại những vùng
nghèo nhất trên thế giới. Cơ bản, chính sách thương mại của Mỹ phải thực sự đề cao
những hệ quả kinh tế cho những người công nhân của Mỹ, gia đình họ, và cộng
đồng của họ.
Loại bỏ những rào cản thương mại trong hoàn cảnh khủng hoảng tài chính
nghiêm trọng của nền kinh tế và thị trường tài chính Mỹ sẽ là một thách thức. Trong
khi thực thi Luật Khôi phục Kinh tế, quốc hội Mỹ khẳng định cam kết tuân theo
những qui định điều chỉnh thương mại quốc tế và đạt được một thỏa thuận để thúc
đẩy những chương trình hỗ trợ điều đỉnh thương mại quốc tế. Những Luật này nhận

khẩu hiệu quả.
Các ưu tiên của chính sách của Tổng thống Obama:
 Hỗ trợ một hệ thống thương mại dựa trên luật lệ.
18

 Nâng cao tính giải trình xã hội và tính minh bạch chính trị của chính sách
thương mại.
 Biến thương mại thành một công cụ chính sách quan trọng cho quá trình đạt
được các mục tiêu năng lượng và môi trường quốc gia.
 Chắc chắn rằng các hiệp định thương mại đang nhận diện các vấn đề chưa
được giải quyết do va chạm thương mại.
 Xây dựng các hiệp định thương mại tự do và thỏa ước đầu tư song phương
một cách có trách nhiệm và minh bạch.
 Giữ vững cam kết của Mỹ trở thành một đối tác mạnh với các nước đang
phát triển, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển nghèo nhất.
Nguồn: Chương trình nghị sự của Tổng thống Mỹ (2009)

1.2.2. Các cách tiếp cận trong việc điều chỉnh chính sách thương mại
Những thập kỷ qua đã chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng tầm quan
trọng của thương mại trong nền kinh tế thế giới. Thương mại đã tăng trưởng
nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của đầu vào và hầu hết các quốc gia tăng trưởng
nhanh nhất cũng chiếm tỷ trọng tăng nhanh trong thương mại thế giới. Các
chính sách thay thế nhập khẩu được áp dụng rộng rãi vào thập niên 50, 60 và
70; nhưng trở nên không thành công bằng chính sách định hướng xuất khẩu
được sử dụng tại các nền kinh tế phát triển ở Đông Á. Những năm 80, các
quốc gia đang phát triển bắt đầu chuyển hướng chính sách sang tự do hóa chế
độ thương mại nhiều hơn. Cuối thập niên 80, phần lớn các chế độ kinh tế kế
hoạch hóa tập trung đã tiến hành cải cách theo hướng kinh tế thị trường, nâng
cao vai trò quan trọng của thương mại và đầu tư nước ngoài trong chương
trình phát triển của họ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status