Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc trong việc thu hút
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐINH THỊ KIM KHÁNH
Đề tài:
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỈNH VĨNH
PHÚC TRONG VIỆC THU HÚT ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
Chuyên ngành: KTTG&QHKTQT
Mã số: 60 31 07 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS . PHẠM THỊ THU HẰNG Hà nội - 2007
Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc trong việc thu hút
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
NGOÀI (FDI)
2.1 Đặc điểm tự nhiên, Kinh tế - Xã hội chủ yếu ảnh hƣởng đến việc thu hút
FDI tại Vĩnh Phúc
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên.
2.1.2. Đặc điểm Kinh tế - xã hội
2.2. Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc và vai trò của nó trong việc thu hút
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
2.2.1. Tạo môi trƣờng đầu tƣ thuận lợi.
2.2.2. Phát triển các Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) trong chuỗi cung
ứng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tu trực tiếp nƣớc ngoài.
2.2.3. Phát triển các kỹ năng.
2.2.4 Phát triển cộng đồng.
2.3. Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh để thu hút FDI ở Vĩnh Phúc.
2.3.1. Những kết quả đạt đƣợc.
2.3.2. Những hạn chế và thách thức mới.
2.3.3. Bài học từ kinh nghiệm Vĩnh Phúc.
Chƣơng 3: mét sè gi¶i ph¸p n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh
PHỤ LỤC
Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc trong việc thu hút
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
4
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQL KCN & KCX: Ban quản lý Khu công nghiệp và Khu chế xuất
CIEM: Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương.
CNH - HĐH: Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá.
DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DPI: Sở Kế hoạch và Đầu tư
ĐTTTNN: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GTZ: Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức
KCN. Khu công nghiệp
KCX Khu chế xuất
KT - XH: Kinh tế - Xã hội
KTĐP: Kinh tế địa phương
MPI: Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
PCI : Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
PACA: Phương pháp đánh giá lợi thế cạnh tranh địa phương
đó phổ biến chúng cho những địa phương khác đang trong quá trình nỗ lực cải thiện
môi trường kinh doanh. Đây sẽ là kinh nghiệm rất quý báu và thiết thực cho các địa
phương khác học hỏi.
Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc trong việc thu hút
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
6
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng Châu thổ Sông Hồng, cửa ngõ Tây Bắc
của thủ đô Hà nội, mới được tách năm 1997, còn nghèo và dựa vào nông nghiệp là
chính. Tuy vậy đây là một địa phương có nhiều tiềm năng, tốc độ tăng trưởng kinh
tế mạnh, đã và đang tìm kiếm các cơ hội thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài rất
hiệu quả. Trong những năm gần đây, có thể coi Vĩnh Phúc là một "hiện tượng điển
hình" về tốc độ thu hút đầu tư nhờ môi trường kinh doanh thông thoáng minh bạch,
thân thiện và cởi mở. Hay có thể thấy được những thực tiễn tốt nhất về điều hành
kinh tế cấp tỉnh để nâng cao năng lực cạnh tranh trong việc thu hút Đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Vĩnh Phúc.
Bức tranh tổng thể về năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc sẽ là cơ sở, kinh
nghiệm cho các địa phương khác trên cả nước tự đánh giá được tiềm năng, năng
lực, thế mạnh của mình, cũng như các điểm yếu cần khắc phục từ đó đưa ra một số
giải pháp cơ bản nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương để thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài, vừa đem lại sự giàu có, nâng cao đời sống nhân dân địa
phương đó, đồng thời đóng góp vào sự phát triển chung của cả nước. Hay nói một
cách rõ ràng, cụ thể hơn, mục tiêu cuối cùng của nghiên cứu này là nhằm tìm hiểu
chính xác những việc mà Vĩnh Phúc đã làm để tạo dựng được môi trường kinh
doanh có lợi cho các nhà đầu tư ; những điểm còn hạn chế, yếu kém và phổ biến
những bài học đó cho các tỉnh chưa thành công trong quá trình tìm kiếm các giải
pháp tối ưu.
Với ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài: “Năng lực cạnh tranh của tỉnh Vĩnh Phúc
trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài” để làm luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu
tổng quát về thực trạng FDI, các giải pháp thu hút FDI một cách chung nhất. Các
nghiên cứu này đã đề cập đến một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI trên bình
diện Quốc gia và Địa phương, nhưng chưa đi sâu vào phân tích, nghiên cứu một cách
đầy đủ, sâu sắc và toàn diện do không dựa trên những tiêu chí độc lập mà lại dựa vào
Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc trong việc thu hút
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
8
chính những điều mà bản thân nghiên cứu muốn giải thích, đó là tình hình tăng trưởng
và phát triển của khu vực Kinh tế có vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài .
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Phân tích những vấn đề mà Vĩnh Phúc đã làm được , tạo những thành công
nhất định trong việc tạo dựng môi trường kinh doanh có lợi cho các nhà đầu tư.
Đồng thời chỉ ra được những yếu kém về môi trường, thể chế trong tương quan so
sánh với các tỉnh khác. Từ đó phổ biến bài học cho những tỉnh chưa thành công.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh, năng lực
cạnh tranh của địa phương đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Đánh giá năng lực cạnh tranh của tỉnh Vĩnh Phúc trong việc thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài của bao gồm những điểm mạnh, nổi bật đã đem lại thành công
và các vấn đề còn tồn tại cần tiếp tục hoàn thiện. Từ đó đề xuất một số giải pháp
cho các địa phương học hỏi.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các yếu tố chính ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
của Vĩnh Phúc trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc trong việc thu hút
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
10 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐỊA PHƢƠNG
1.1. Các khái niệm về cạnh tranh.
1.1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh là gì?
Cạnh tranh là một thuật ngữ với nghĩa chủ yếu là phản ánh sự đấu tranh ganh
đua, thi đua giữa các đối tượng cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế,
những lợi ích theo mục tiêu đã được xác định. Với nền kinh tế thị trường trong bối
cảnh toàn cầu hoá, quá trình cạnh tranh cũng luôn được thúc đẩy, phát triển. Bởi các
đối tượng tham gia cạnh tranh luôn tìm mọi cách tốt nhất để nâng cao năng lực cạnh
“tĩnh”. Nhưng quan trọng hơn là phải tính đến các yếu tố “động”. Vì cạnh tranh là
một quá trình vận động không ngừng.
Trên cơ sở những phân tích trên, các chủ thể tham gia vào quá trình cạnh
tranh có thể đưa ra các chiến lược ngắn hạn hay dài hạn để duy trì và phát huy lợi
thế của mình trên thị trường hoặc đưa ra những biện pháp phòng ngừa rủi ro.
Có thể nói, thế giới là tổng hoà các mối quan hệ. Một mặt, vừa liên kết, gắn
bó và phụ thuộc lẫn nhau. Mặt khác, lại cạnh tranh, thúc đẩy lẫn nhau. Cạnh tranh
trở thành một hệ thống, bao gồm các cấp độ cạnh tranh khác nhau như: Năng lực
cạnh tranh Quốc gia, năng lực cạnh tranh địa phương, năng lực canh tranh ngành,
doanh nghiệp và sản phẩm…
1.1.2 Năng lực cạnh tranh địa phƣơng là gì?
1.1.2.1 Khái niệm:
1
World Bank, Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2006 - 2007
Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc trong việc thu hút
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
12
Năng lực cạnh tranh địa phương là một khái niệm phức hợp, được định nghĩa
là năng lực của một địa phương đạt được tăng trưởng bền vững; thu hút được đầu tư;
bảo đảm được ổn định kinh tế, xã hội; nâng cao đời sống của người dân, chủ yếu
nhờ khả năng nâng cấp công nghệ hoặc bằng cách tự sáng tạo hoặc tiếp thu nhanh
chóng và tích cực công nghệ.
Theo WEF, khuôn khổ nội dung xác định tính cạnh tranh tổng thể của một
nền kinh tế bao gồm 8 nhóm nhân tố: độ mở cửa, chi phí, tài chính, kết cấu hạ tầng,
công nghệ, quản trị, lao động và thể chế. Chỉ số chung đánh giá thứ hạng cạnh tranh
của Quốc gia được tính theo tỷ trọng của 8 nhóm nhân tố trên. Mỗi nhóm nhân tố lại
được xem xét dựa trên tiểu nhóm nhân tố. Tất cả có khoảng 250 chỉ số định tính và
1.1.2.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh địa phương dựa trên lợi thế cạnh tranh.
Lý thuyết lợi thế cạnh tranh giải thích sự phát triển kinh tế, gia tăng mức
sống của các Quốc gia dựa vào khả năng đổi mới, khả năng tiếp cận nguồn vốn và
sự lan truyền công nghệ.
Một Quốc gia (địa phương) không thể phát triển bền vững và có khả năng
cạnh tranh mà chỉ nhờ vào lợi thế so sánh. Bởi lợi thế so sánh chỉ là những điều kiện
đặc thù tạo ra ưu thế một khía cạnh nào đó cho Quốc gia (địa phương) hay một
ngành của Quốc gia (địa phương) đó như điều kiện tự nhiên, tài nguyên, con
người Đây mới là cơ sở cho một lợi thế cạnh tranh tốt chứ chưa đủ là một lợi thế
cạnh tranh đảm bảo cho sự thành công. Lợi thế cạnh tranh phải là khả năng cung cấp
giá trị gia tăng cho các đối tượng liên quan như: khách hàng, nhà đầu tư hoặc các
đối tác kinh doanh và tạo ra giá trị gia tăng cao cho các Quốc gia (địa phương).
Thái Lan và Ý thành công ở ngành du lịch không phải chỉ nhờ đất nước của
họ có nhiều thắng cảnh đẹp, di sản phong phú mà yếu tố chủ yếu mang lại thành
công cho ngành công nghiệp không khói này là nhờ hàng loạt các dịch vụ kèm theo
từ dịch vụ khách sạn nhà hàng, lễ hội đến các dịch vụ vui chơi giải trí, trung tâm
mua sắm và tiếp thị toàn cầu. Tất cả những yếu tố này đã tạo ra lợi thế cạnh tranh
cho các nước này so với các Quốc gia khác.
Hội nhập và tự do hoá thương mại, đầu tư vừa tạo tiền đề cho sự phát triển
kinh tế của Quốc gia nói chung và của từng địa phương nói riêng, vừa là những
Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc trong việc thu hút
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
14
thách thức trước sự cạnh tranh của các nền kinh tế. Để đảm bảo sự hội nhập có hiệu
quả, các Quốc gia các địa phương cần phải xác định rõ được các yếu tố thuận lợi
trong quá trình phát triển như: vị trí địa lý, sự ổn định chính trị, nguồn lao động (số
lượng, chất lượng…) tài nguyên thiên nhiên, khoa học và công nghệ. Đây là những
yếu tố góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế của từng Quốc gia, từng vùng,
địa phương…Trên cơ sở xác định chính xác các lợi thế, các địa phương cần phát
cạnh tranh địa phương.
1.1.3.1. Tạo môi trường đầu tư thuận lợi:
Tạo môi trường thuận lợi bao gồm một loạt các hoạt động nhằm xây dựng lợi
thế cạnh tranh của địa phương và của các công ty trong địa phương đó nhằm tạo thu
nhập và việc làm. Các hoạt động đó do chính quyền địa phương, các hiệp hội doanh
nghiệp địa phương, các công ty địa phương và các đối tượng khác thực hiện nhằm
xoá bỏ những cản trở quan liêu và giảm chi phí giao dịch cho các công ty địa
phương, đẩy mạnh tính cạnh tranh của các công ty địa phương tạo ra một lợi thế duy
nhất có tính cạnh tranh cho từng địa phương và các công ty thuộc địa phương đó.
Theo nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
năm 2006 trong chương trình đánh giá chất lượng điều hành kinh tế cấp tỉnh ở Việt
Nam, có mười chỉ số thành phần phản ánh những khía cạnh quan trọng khác nhau
của môi trường. Những khía cạnh này chịu tác động trực tiếp từ thái độ và hành
động của cơ quan chính quyền địa phương. Mười chỉ số đó là: (i) Chi phí gia nhập
thị trường(chi phí thành lập doanh nghiệp); (ii) Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong
sử dụng đất; (iii) Tính minh bạch, tiếp cận thông tin và trách nhiệm; (iv) Chi phí thời
gian để thực hiện các quy định của nhà nước; (v) Chi phí không chính thức;(vi) ưu
đãi đối với doanh nghiệp nhà nước(môi trường cạnh tranh);(vii) Tính năng đông và
tiên phong của chính quyền tỉnh; (viii) Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư
nhân; (ix) Đào tạo lao động và (x) Thiết chế pháp lý.
2 2
VCCI và VNCI, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2006 về môi trường kinh doanh Việt Nam
(trang 1) Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc trong việc thu hút
2
5
Gợi ý của đối tác
3
5
Hệ thống Tài chính – ngân hàng
2
5
Mức độ thực thi luật pháp.
3
5
Tiềm năng thị trường
3
5
Mức độ tham nhũng
2
5
Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc trong việc thu hút
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
17
Chất lượng và chi phí lao động
2
5
Hệ thống giao thông
2
5
Hệ thống dịch vụ, công nghiệp phụ trợ.
2
5
hướng, chỉ dẫn để đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư trên các khía cạnh mà họ cho là
3
,
4
GS. Kenichi Ohno và GS. Nguyễn Văn Thường: “Môi trường và Chính sách kinh doanh của Hà Nội”,
trang 52, Nhà xuất bản Lao động Xã hội, 2006.
Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc trong việc thu hút
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
18
quan trọng. Ví dụ, các nhà đầu tư Úc, Hoa Kỳ và EU rất quan tâm tới công nghiệp
và dịch vụ phụ trợ cũng như nạn tham nhũng của địa phương. Trong khi các nhà đầu
tư từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan lại không mấy quan tâm đến các yếu tố
này. Vấn đề mà họ quan tâm là chi phí. Làm thế nào để giảm thiểu chi phí là mục
tiêu của họ khi đến Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng. Còn nhà đầu
tư Nhật Bản lại có phần quan tâm tới gợi ý của Chính phủ hơn.
4
Từ những phân tích trên cho thấy chính quyền địa phương cần phải cải thiện
môi trường đầu tư theo định hướng phát triển của mình nhưng phải chú ý đến những
yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến từng nhóm các nhà đầu tư.
Cải thiện môi trường đầu tư tốt, thân thiện và cởi mở, thu hút được ngày càng
nhiều sự quan tâm, chú ý của các nhà đầu tư chính là chính quyền địa phương đang
nỗ lực cải thiện năng lực cạnh tranh của mình. Bởi môi trường đầu tư là yếu tố quan
trong nhất trong quá trình phát triển kinh tế địa phương. Môi trường đầu tư tốt sẽ hỗ
trợ, bổ sung cho các yếu tố khác trong tổng thể các yếu tố cấu thành năng lực cạnh
tranh địa phương.
Vậy các địa phương ngày nay phải tự thân vận động như một “doanh nghiêp”
theo định hướng thị trường. Các nhà lãnh đạo cần biết xác định địa phương mình
quan mới nó. Chuỗi các DNVVN cũng giúp tạo một môi trường thông tin nhiều
chiều, toàn diện và thúc đẩy tốc độ đổi mới của các công ty lớn.
Mặt khác, mô hình thầu phụ công nghiệp cũng là một giải pháp phù hợp với
các DNVVN. Chúng đảm bảo sự phát triển trong tính phụ thuộc và mang hình dạng
của “đàn sếu bay” phát huy thế mạnh của mọi loại hình doanh nghiệp tham gia thầu
(thầu chính và thầu phụ). Với con đường này thầu phụ công nghiệp cho phép nâng
cao sức cạnh tranh, khai thác lợi thế cạnh tranh của tất cả các nhà thầu để giảm chi
phí, tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động và đạt được lợi ích kép
nhờ việc phát triển sức mạnh và quyền lực cho cả thầu chính và thầu phụ. Các nhà
thầu chính giảm được thế bất lợi với cơ cấu gọn nhẹ, linh hoạt hơn, phản ứng nhạy
bén hơn với những thay đổi trong thị trường. Chính sự hiệu quả từ mô hình thầu phụ
công nghiệp này mà vấn đề phát triển các DNVVN trong chuỗi cung ứng cho các
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là rất cần thiết. Các địa phương cần
phải có những chính sách cũng như những biện pháp thúc đẩy các doanh nghiệp vừa
Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc trong việc thu hút
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
20
và nhỏ nỗ lực vươn lên, đảm nhận được trình độ kỹ thuật - công nghệ và những kỹ
năng lao động cần thiết khác để đáp ứng các yêu cầu căn bản của các doanh nghiệp
lớn, thường là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài về chất lượng,
chi phí và thời gian giao hàng. Phát triển các DNVVN trở thành một hệ thống các
doanh nghiệp vệ tinh chính là một trong những yếu tố thành năng lực cạnh tranh của
địa phương trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Một lãnh đạo
của ban quản lý khu công nghiệp Đà Nẵng khẳng định: “Một trong những nguyên
nhân căn bản khiến sức thu hút đầu tư của các khu công nghiệp Đà Nẵng hiện nay
không cao là do khả năng của các ngành công nghiệp phụ trợ địa phương thấp”.
5
1.1.3.3. Phát triển các kỹ năng.
ra được các kế hoạch tốt, khả thi, ngày một có hiệu lực. Thực tế sẽ tạo được lòng tin
của cộng đồng nói chung và của các nhà đầu tư nói riêng. Bởi cộng đồng và nhà đầu
tư luôn luôn quan tâm tới sự ổn định của các kế hoạch. Có thể nói các kế hoạch
không những phải đạt được tiêu chí rõ ràng về sự phân quyền, thực thi của các cấp
mà còn cần phải phát huy tối đa sự hợp tác giữa các cấp quản lý và các cơ quan khác
nhau. Các định nghĩa trong kế hoạch cũng phải rõ ràng, đặc biệt tránh tình trạng một
vài nhiệm vụ thì bị bỏ qua trong khi nhiệm vụ khác lại quá chuyên sâu.
Một vấn đề nữa là các kế hoạch phải có những văn bản hướng dẫn cụ thể về
việc thực thi cho từng giai đoạn riêng biệt và trong toàn bộ kế hoạch. Vì một kế
hoạch tổng thể bao gồm nhiều kế hoạch phụ trợ mà nó được thiết lập và thực hiện
bởi nhiều cơ quan khác nhau. Vậy kỹ năng lập kết hoạch một mặt cơ sự phân quyền,
chiu trách nhiệm rõ ràng. Mặt khác, tăng cường được sự hợp tác, phối kết hợp giữa
các cấp. Từ đó áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả và hợp lý, sẽ tạo cho cộng
đồng dân cư sinh sống ở địa bàn, khu vực đó, đặc biệt là các nhà đầu tư một sự tin
tưởng vào sự “cam kết” của chính quyền hơn. Bởi khi đến một địa phương để đầu
tư, điều mà nhà đầu tư quan tâm nhất là sự ổn định cũng như một hệ thống pháp luật
rõ ràng minh bạch và hiệu quả. Chính vì vậy thực hiện tốt kỹ năng lập kế hoạch để
cho nhà đầu tư thấy được đường hướng phát triển của địa phương, mục tiêu nào là
quan trọng nhất, cơ quan nào chịu trách nhiệm về vấn đề gì là một trong những yếu
tố tạo nên sức cạnh tranh mạnh mẽ cho địa phương, nhất là cạnh tranh trong việc thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Kỹ năng lập kế hoạch là một trong những kỹ năng xuất phát từ sự nỗ lực của
chính quyền địa phương và còn một kỹ năng khác cũng rất quan trọng được đề cập
là kỹ năng tiếp thị địa phương, kỹ năng này rất quan trọng đối với tất cả các địa
phương trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc trong việc thu hút
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
22
* Kỹ năng Marketing địa phương:
23
những khách hàng mà địa phương muốn hướng tới. Do vậy địa phương phải xác
định khách hàng mục tiêu. Qua đó, chọn chiến lược định vị phù hợp với điều kiện và
khả năng của mình tới khách hàng đã lựa chọn.
Đánh giá hiện
trạng của địa
phương
Xác định tầm
nhìn và mục tiêu
phát triển của địa
phương
Thiết kế
chiến lược
tiếp thị cho
địa phương
Hoạch định
chương trình
thực hiện chiến
lược
Thực hiện
và kiểm
soạt
Quy trình Marketing địa phƣơng
Đánh giá hiện trạng của địa phương: nghĩa là thiết lập các đặc trưng hấp
dẫn cho địa phương; nhận dạng các địa phương cạnh tranh với địa phương mình;
phương.
Chủ thể thực hiện Marketing địa phương bao gồm tất cả các tổ chức và cá
nhân sống và làm việc tại địa phương. Chính quyền địa phương sẽ là người khởi
xướng, chịu trách nhiệm quy hoạch và phát triển địa phương, các tổ chức doanh
nghiệp nhà nước hay tư nhân chịu trách nhiệm cung cấp các sản phẩm, dich vụ, đảm
bảo thỏa mãn nhu cầu xã hội nói chung và khách hàng mục tiêu nói riêng. Cách
sống, làm việc và xử xự của cư dân địa phương ảnh hưởng không nhỏ tới hình ảnh
của địa phương.
Khách hàng của Marketing địa phương chính là những đối tượng mà địa
phương muốn hướng tới. Đó là du khách; người lao động và thân nhân của họ -
những người góp phần tạo ra của cải vật chất và tạo nên phong cách của một địa
phương; nhà đầu tư - những người chủ trương tạo ra của cải vật chất tại địa phương
bằng việc sử dụng và kết hợp có hiệu quả nguồn lực, trí tuệ và công nghệ của họ
mang tới với nguồn nhân lực của địa phương và thị trường xuất khẩu - những tổ
chức cá nhân ở địa phương khác có nhu cầu về những sản phẩm mà địa phương có
thể tạo ra. Mỗi địa phương có thể lựa chọn cho mình một vài nhóm khách hàng để
Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc trong việc thu hút
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
25
tiếp cận và tăng cường khả năng thu nhận nguồn nhân lực đó để tối đa hoá lợi ích
cho địa phương mình.
Bước tiếp theo khá quan trọng là định vị bản sắc và hình ảnh địa phương. Định
vị liên quan đến việc địa phương mình muốn khách hàng nghĩ về địa phương mình như
thế nào? Việc phân tích điểm mạnh, điểm yếu là không thể thiếu để lựa chọn hình ảnh
định vị cho phù hợp. Chiến lược định vị sẽ quyết định các hoạt động mà địa phương
thực hiện nhằm thu hút khách hàng, trong đó có các nhà đầu tư nước ngoài.
Bản sắc và hình ảnh địa phương không tự nhiên mà có. Nó phụ thuộc vào
kiến trúc thượng tầng, cơ sở hạ tầng cùng con người và tổ chức ở địa phương đó
trong. Trong môi trường toàn cầu, các địa phương cần cải thiện và nâng cấp hệ